DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Chạy Google Maps trong cửa sổ ArcGIS


GoogleMap Download

Tool ứng dụng cho ArcGIS đang được rất nhiều đơn vị quan tâm một trong các công ty đi đầu trong lĩnh vực đó tại Việt Nam là công ty GTO Software.
Công cụ GoogleMap Download đuợc phát triển bởi công ty GTO Software đối tác của hãng ESRI  nhằm hỗ trợ nguời sử dụng phần mềm ArcGIS Desktop đưa ảnh GoogleMap vào làm nền cho hệ thống bản đồ đang đuợc sử dụng của nguời dùng.
Hình 1
Qua trải nghiệm tool GoogleMap Download GTO phát triển qua các phiên bản 9.3 và 10.0 và đến nay 10.1 Climate GIS xin có một vài chia sẻ với độc giả về tool ứng dụng rất hay và hiệu quả này.
Song song với bản ArcGIS 9.3 và ArcGIS 10.0 của hãng ESRI ra đời và được rất nhiều chuyên gia về lĩnh vực GIS, RS sử dụng. GTO Software cũng phát triển tool GoogleMap Download chạy trên giao diện của ArcGIS 9.3 và ArcGIS 10.0, với tool ứng dụng này người sử dụng chỉ cần có Internet là có thể kéo được bản đồ Google maps về cửa sổ giao diện của ArcGIS rất thuận tiện trong biên tập, hiệu chỉnh và kiểm tra dữ liệu hệ thống. Bên cạnh đó GTO không ngừng nghiên cứu, hiệu chỉnh và phát triển tính năng mới của tool ứng dụng này để phục vụ người dùng.
Để đáp lại lòng mong mỏi của độc giả khi phiên bản ArcGIS 10.1 của hành ESRI ra đời GTO Software cũng phát triển tool GoogleMap Download từ bản 10.0 hoàn thiện hơn và chạy trên cả phiên bản 10.1.

Phiên bản mới có tính năng gì nổi bật?
1. Chạy đồng thời trên ArcGIS 10.0 và ArcGIS 10,1
2. Khắc phục được lỗi lệch hệ thống của các phiên bản trước đó
3. Cho phép sử dụng 3 loại ảnh bản đồ:
·                             Bản dồ giao thông
·                             Bản dồ ảnh vệ tinh
·                              Bản đồ địa hình

4. Tự dộng tải ảnh bản đồ GoogleMap vào đúng khung hình bản đồ hiện thời với hệ tọa độ chuẩn WGS 84 (World Geodetic System).
5. Tự động luu lại khung ảnh bản đồ GoogleMap vào máy cá nhân phục vụ cho lần xem lại sau đó mà không cần kết nối Internet.

Hướng dẫn cài đặt và sử dụng

Để cài đặt độc giả tải bộ cài theo đuờng dẫn mình để bên dưới


Một số lưu lý khi cài đặt phải thay đổi chút như sau:
Hình 2
Control Panel -> User Accounts -> Change User Account Control Settings  rồi kéo xuống mức thấp nhất sau đó khởi động lại máy.

Tiêp theo chúng ta chạy file Setup rồi làm theo chỉ dẫn
Sau khi cài đặt phần mềm sẽ tự động đuợc đưa  vào hệ thống thực đơn của phần mềm ArcGIS với tên “GoogleMap Download

Hình 3

Với truờng hợp không thấy xuất hiện Toolbar “GoogleMap Download”.
Kích chuột trái vào “Customize…” 


Hình 4

trên thực đơn của Toolbar sau đó nhấn vào nút “Add from file…” trong giao diện Customize mới đuợc mở ra


Hình 5

Tìm tới file GoogleMapDownload.tlb trong thu mục mới đuợc cài đặt

Hình 6

Sau khi tải thanh công cụ thành công thì có thông báo như hình 7 là đã đưa công cụ “GoogleMap Download” vào thực đơn của ArcGIS thành công.


Hình 7
Chúc độc giả làm việc hiệu quả với công cụ Google Download và trải nghiện các tính năng thú vị của công cụ này với Climate GIS.


Độc giả Download tool tạy đây
Trân trọng

Hướng dẫn download ảnh vệ tinh Landsat

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng ảnh Landsat của độc giả, Climate GIS xin gửi tặng đến toàn thể độc giả bài viết hướng dẫn các bạn Download ảnh vệ tinh Landsat Free.

Độc giả chú ý và làm theo các bước như sau:

B1: Vào địa chỉ website: http://earthexplorer.usgs.gov/ (yêu cầu phải cài Java Script)

B2: Nhấn vào nút Register để tạo 1 tài khoản (cái này đơn giản nên mình không nói thêm)

B3: Sau khi đăng ký rồi, nhấn nút Login để đăng nhập vào tài khoản của mình

B4: Nhập vị trí ảnh cần download (dạng kinh độ, vỹ độ) tại nút lệnh Add Coordinate hoặc số hàng và cột theo thiết kế sẵn tại nút Path/Row. Ví dụ mình nhấn vào Path là 124; Row là 53 (KV Tp. HCM). Nhấn Show màn hình sẽ đến vị trí bạn nhập. Nếu vị trí chưa đúng thì bạn có thể nhấn chuột lên màn hình cũng được.


B5: Nhấn vào nút Date Selected để chọn thời gian cần lấy ảnh. Theo mình nên để nguyên để lấy được ảnh nhiều nhất

B6: Nhấn vào nút Data sets

B7: Để chọn ảnh Landsat thì các bạn nhấn vào Lansat Archive và chọn các kiểu sau:
- L7 EMT+ SLC-Off: Ảnh sau năm 2003
- L7 EMT+ SLC-On: Ảnh từ năm 1999-2003
- L4-5 TM: Ảnh Landsat 4 và 5 theo sensor TM
- L1-5 MSS: Ảnh Landsat 1 đến 5 theo sensor MSS


B8: Nhấn vào nút Results sẽ ra kết quả các ảnh tìm kiếm được tại vị trí chọn. Nhấn vào Data set để chọn loại ảnh. Ví dụ: Mình chọn L7 EMT+ SLC-On

B9: Nhấn vào biểu tượng giống biểu tượng USB để download ảnh vào thời điểm cần thiết. Chú ý: Ảnh chỉ download được nếu không có biểu tượng hình cái xe đẩy hàng màu đen (bên phải biểu tượng download). Cái ảnh đó cần phải mua.

Ví dụ: Mình chọn ảnh sau:
  • Entity ID: LE71240521999317SGS00
  • Acquisition Date: 13-NOV-99
  • Path: 124
  • Row: 52
  • Chọn ảnh Level 1 Product rồi nhấn nút select download options
Đợi ảnh download xong là ta có ảnh ngay.


Chú ý: Các ảnh sau năm 2003 đều bị sọc hết nha các bạn. Do lỗi Sensor.

Chúc độc Giả thành công!
Theo: http://gisvn.com.vn 

Phát triển kinh tế như thế này, thế hệ mai sau sống ở đâu?

Ô nhiễm làng nghề ở Việt Nam có lẽ đã được cảnh báo từ lâu, nhưng những hình ảnh như dưới đây thì quả thực làm cho ai nhìn thấy cũng hãi hùng. Mặt trái của nền kinh tế phát triển tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường sẽ ngày càng bị thu hẹp, con người sẽ sống thế nào trong tương lai? Các bộ ngành ở đâu khi người dân có quyền xả rác thải ra môi trường mà không bị xử lý? Đã đến lúc chúng ta cần phải quyết liệt hơn với các làng nghề, đặc biệt là làng sản xuất giấy, thu gom và chế biến rác thải điện từ (E-Wastes). Hình ảnh chụp tại làng nghề giấy của Xã Phong Khê (TP Bắc Ninh):

Con đường liên thôn Hạ Giang và Đống Cao (xã Phong Khê, TP Bắc Ninh) đã 10 năm qua bị chia cắt bởi rác thải sinh hoạt và sản xuất của toàn bộ xã Phong Khê
Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự phát triển kinh tế của nơi này quá lớn, đó là sự ô nhiễm mà nhiều người đã gọi đây là nơi ô nhiễm bậc nhất VN.
Vẫn còn nhiều cơ sở sản xuất thủ công xen kẽ trong khu dân cư gây ô nhiễm nặng
Đầu làng cuối xóm ngổn ngang than, củi và giấy, khắp nơi là rác. Dọc tuyến đê con sông Ngũ Huyện Khê là nơi lý tưởng để các hộ sản xuất thải loại các phế liệu sản xuất. Sông Ngũ Huyện Khê, dài hơn 20km, chảy qua Phong Khê.
Nước thải từ nhà máy hằng ngày vẫn xả xuống sông
Trước đây sông này là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân hai bên bờ, giờ đây dòng sông bị ô nhiễm quá nặng. Nước sông đen đặc và bốc mùi hôi thối nồng nặc.
Con sông Ngũ Huyện Khê trong mát ngày xưa bây giờ đã... chết
Nguồn nước ngầm cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng - dòng sông “đã chết” thật sự. Những ống khói đen ngòm mọc lên xả thẳng vào bầu không khí chung giữa khu dân cư với hàng nghìn hộ dân. Cả làng giấy thường trực một mùi khói khét lẹt và mùi hóa chất nồng nồng từ các cống nước thải. Rác thì ngập ngụa khắp xã. Người dân bức xúc, chính quyền không giấu giếm việc ô nhiễm nặng ở làng nghề.
Bà Nguyễn Thị Thỏa, thôn Đào Xá, xã Phong Khê, lội trên thửa ruộng của gia đình đã 14 năm không thể trồng lúa vì đất bùn bị ô nhiễm quá nặng
Những đồng cỏ ở Phong Khê đã không còn nên đàn bò phải tìm thức ăn ở bãi rác
Làng giấy Phong Khê bây giờ đã giàu lên, bên những ngôi nhà to đẹp là ống khói ngày đêm nhả khói đen ngòm
 Những con đường rác lưu cữu từ lâu, tầng tầng lớp lớp ô nhiễm
Một hộ dân vô tư xả rác ngay bên đường làng
Theo: http://tuoitre.vn

Xử lý ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu tại Núi Căng – Thái Nguyên


Theo thống kê sơ bộ, Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 300 loại thuốc trừ sâu, 200 loại thuốc trừ bệnh, gần 150 loại thuốc trừ cỏ, 6 loại thuốc diệt chuột và 23 loại thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng khác nhau gọi chung là hóa chất bảo vệ thực vật (HC BVTV). Phần lớn, các HC BVTV nói trên có nguồn gốc hữu cơ (hợp chất cơ - clo), trong đó có một số loại thuộc nhóm có độc tính cao đối với môi trường và sức khỏe, khó phân hủy, nằm trong danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs) trong Công ước Stốckhôm tháng 5/2001 như aldrin (C12H8C16), chlodance, DDT, dieldrin (C12H8Cl6O), endrin (C12H8Cl6O), heptachlor (C10H5Cl7), hexachlorobenzen, Mirex, toxaphene, đã bị cấm sử dụng.
​1. MỞ ĐẦU
Hiện nay, HC BVTV độc hại bị cấm sử dụng, quá hạn sử dụng, nhập lậu bị thu giữ... đang tồn lưu tại nhiều địa phương trong cả nước, gây ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện có trên 1.153 điểm tồn lưu HC BVTV, trong đó có 335 điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cần được xử lý đến năm 2020 [1].
Phương pháp truyền thống để loại bỏ HC BVTV tồn lưu trong đất ô nhiễm bằng công nghệ thiêu đốt ở nhiệt độ cao trong lò công nghiệp chuyên dụng hoặc trong lò nung xi măng (kèm hệ thống xử lý khí thải) được đánh giá có hiệu quả về xử lý song chỉ phù hợp với một số địa phương, không phù hợp với quy mô nhỏ, bởi chi phí vận chuyển, xử lý cao [2]. Để tăng cường hiệu quả xử lý và tính khả thi áp dụng trong các điều kiện khác nhau, một số công nghệ khác đang được nghiên cứu, áp dụng như phân hủy plasma (hiệu quả cho cả pha khí và lỏng, đầu tư thiết bị lớn), phân hủy sinh học (tại chỗ, rẻ, phù hợp với chất thải có hàm lượng ô nhiễm thấp, thời gian xử lý lâu, mặt bằng xử lý lớn...) [3]; thủy phân kiềm nóng (đơn giản, cơ động, song chi phí xử lý cao, nguy cơ cháy nổ, khó kiểm soát ô nhiễm thứ phát..); xúc tác oxy hóa (đốt có xúc tác đồng, hiệu quả cao, song thiết bị phức tạp...) [4], phương pháp khử nhiệt - bẫy dầu - hấp phụ kiềm phân tán [5]. Bài trình bày một số kết quả nghiên cứu xử lý đất ô nhiễm HC BVTV tồn lưu, áp dụng phương pháp nhiệt phân không toàn phần, loại bỏ chất POPs (HC BVTV) khỏi đất ô nhiễm ở nhiệt độ tách thấp, trong môi trường không ô xy, áp dụng cho xử lý đất ô nhiễm có hàm lượng HC BVTV cao.
2. THỰC NGHIỆM
2.1 Đối tượng thử nghiệm
Mẫu đất ô nhiễm (hỗn hợp rắn) được lấy từ bể lưu giữ bằng bê tông (được thu gom tại nền và xung quanh kho chứa HC BVTV) tại khu vực Núi Căng, Thái Nguyên. Các mẫu thử nghiệm được gia công sơ bộ trong phòng thí nghiệm qua các công đoạn: phơi khô ở nhiệt độ trong phòng, nghiền nhỏ và sàng mịn qua sàng 0,25 mm, trộn đều, đảm bảo mẫu có tính chất đồng nhất. Thành phần chất POPs (HC BVTV) trong đất có nhiễm trước và sau xử lý nhiệt được phân tích trên thiết bị sắc ký khí Gas Chromatograph Shimadzu 2010 với đầu dò ECD.
2.2 Cơ chế loại bỏ HC BVTV khỏi đất ô nhiễm bằng nhiệt phân ở nhiệt độ thấp
Phương pháp xử lý được lựa chọn nghiên cứu là phương pháp phân tách nhiệt (nhiệt phân) nhằm tách (khử) các thành phần ô nhiễm (HC BVTV) ra khỏi đất ô nhiễm ở nhiệt độ tương đối thấp (dưới điểm sôi của các chất thành phần); quá trình tách nhiệt xảy ra đồng thời với phản ứng nhiệt phân hủy một phần chất ô nhiễm (được tạm quy ước gọi là phương pháp nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp).
Với cơ chế này, hỗn hợp rắn cần xử lý (đất ô nhiễm) được gia nhiệt trong thiết bị nhiệt phân (có môi trường không ô xy) đến nhiệt độ nhiệt phân, dưới tác động nhiệt và trong môi trường không oxy, các HC BVTV cơ-clo [R-X] hóa lỏng và bay hơi, một phần bị phân hủy theo (1) [6-9]:
Hỗn họp khí tạo thành được dẫn sang thiết bị hấp thụ với môi trường kiềm Y(-), liên kết R-Y được hình thành [7]:

Trong trường hợp dùng dung dịch xút NaOH để hấp thụ hữu cơ clo dạng hơi, sẽ xảy ra phản ứng:
R-X + Na(+)+OH(-) -> R-OH + Na(+)X(-)
Trong môi trường thiết bị thử nghiệm nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp, sản phẩm thu được là hỗn hợp rắn (đất) đã được loại bỏ các HC BVTV. Hỗn họp HC BVTV ở trạng thái hơi, phân hủy một phần, được dẫn sang thiết bị hấp thụ kiềm tuân thủ phản ứng (2) mà kết quả nghiên cứu được báo cáo ở một công trình khác.
2.3 Phương pháp thử nghiêm
Sơ đồ thử nghiệm được mô tả tại hình 2. Thiết bị nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp (gọi tắt là Thiết bị R) được thiết kế, chế tạo đảm bảo tính kín không ôxy xâm nhập, được điều khiển thay đổi các giá trị nhiệt độ khác nhau trong dải từ 200 - 900°c, được kiểm soát sự duy trì nhiệt độ ở các giá trị thời gian khác nhau trong khoảng từ 5 - 60 phút.
Hỗn hợp rắn được định lượng thành các mẫu có trọng lượng 20g/mẫu. Mỗi thử nghiệm được tiến hành như sau: Đưa 1 mẫu trọng lượng 20g vào trong lòng thiết bị R, nâng dần nhiệt độ lên đến đạt giá trị t° C định trước, sau đó thực hiện việc duy trì nhiệt độ trong thiết bị với khoảng thời gian dự định. Trong suốt quá trình gia nhiệt, môi trường không ôxy được duy trì. Khí bốc thoát ra được dẫn sang thiết bị xử lý bằng hấp thụ kiềm.
2.4. Phương pháp phân tích
Bảng 1 trình bày 18 HC BVTV cơ clo thường gặp, các chất 4, 6, 10, 11, 14, 15, 18 (được tô sẫm màu) nằm trong nhóm bị cấm sử dụng theo Công ước Stốckhôm. Mầu hỗn hợp rắn (đất ô nhiễm) được chiết xuất bằng dung môi, cô đặc trên máy cô chân không, làm sạch bằng cột silica, sau đó được phân tích thành phần trên thiết bị sắc ký khí Gas Chromatograph Shimadzu 2010 với đầu dò ECD.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thử nghiệm xử lý đất ô nhiễm HC BVTV trong thiết bị nhiệt phân ở các nhiệt độ khác nhau
Mỗi giá trị nhiệt độ trong dải từ 200 - 450°C áp dụng cho mỗi mẫu thử nghiệm được duy trì trong 25 phút trong thiết bị R. Bảng 2 và hình 3 thể hiện kết quả phân tích hàm lượng (ppb) các chất ô nhiễm (HC BVTV) còn lại trong các mẫu rắn sau quá trình nhiệt phân trên.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, các chất thuộc nhóm "666" như anpha-gama-delta BHC (bảng 2) có hàm lượng cao ở mẫu gốc (từ hàng nghìn đến hàng chục nghìn ppb) đều giảm mạnh ngay từ ở nhiệt độ 200°c, đạt 94% sau 25 phút (riêng beta BHC đạt 45%), đạt mức 99,5% khi ở nhiệt độ 230°C (delta BHC) và mức 99,9% ở 250°c (gama BHC). Thành phần anpha và beta BHC trong mẫu giảm chậm theo chiều nâng nhiệt, đạt 97 - 99% ở nhiệt độ 400°c. Trong số các HC BVTV thuộc danh mục cấm theo công ước Stockholm, aldrin chỉ giảm được 83% ở nhiệt độ 230°C; các chất khác, trong đó có DDT, mặc dù hàm lượng cao hơn nhiều nhưng cũng bị tách gần như triệt để sau khi được nung ở 200°c trong 25 phút. Duy nhất có trường hợp DDE, chất trung gian tạo thành trong quá trình nhiệt phân của DDT, ở nhiệt độ 250°c, sau 25 phút phản ứng, vẫn còn lại song khá thấp (dưới ngưỡng cho phép áp dụng đối với DDT là 10 ppb) và bị tách hoàn toàn ở nhiệt độ 270°c khỏi hỗn hợp rắn.
Như vậy, HC BVTV, bao gồm các thành phần có trong danh mục cấm theo Công ước Stốckhôm được loại bỏ hầu như hoàn toàn khỏi mẫu rắn trong điều kiện nhiệt phân không hoàn toàn, không ôxy ở nhiệt độ 250°c, trong thời gian 25 phút. Và cũng ở điều kiện này, các chất có trong danh mục quy định ngưỡng xả thải QCVN 15:2008/ BTNMT đều đạt hàm lượng thải (bảng 2 cột cuối cùng).
3.2. Thử nghiệm xử lý đất ô nhiễm HC BVTV ở nhiệt độ 250°c trong các khoảng thời gian khác nhau
Mỗi giá trị thời gian trong dải từ 5 - 30 phút áp dụng cho mỗi mẫu thử nghiệm được duy trì trong điều kiện nhiệt độ không thay đổi 250°c trong thiết bị R. Bảng 3, hình 4 và 5 sau đây là kết quả đo hàm lượng các HC BVTV còn lại trong hỗn họp rắn sau quá trình phân tách nhiệt trên.
Bảng 3 cho thấy các chất thuộc nhóm "666" như anpha-gama-beta BHC vẫn là những HC BVTV "bền nhiệt" nhất ở điều kiện nhiệt độ 250°c, thời gian lưu 25 phút, chỉ đạt <0 10="" 250="" 25="" 30="" 4="" 5="" a="" aldrin="" b="" beta="" bhc="" c.="" c="" ch="" d="" ddd="" dde="" ddt="" dieldrin="" div="" endrin="" gi="" gian="" h="" heptachlor="" hi="" ho="" i="" k="" kh="" ki="" l0="" l="" m="" n.="" n="" ng="" nghi="" nh="" nhanh="" nhi="" o="" p="" ph="" ppb="" qu="" quy="" r="" sau="" t.="" t="" th="" thi="" ti="" to="" tr="" trong="" trung="" u="" v="" x="" xu="" xy.="" y="">
Như vậy, HC BVTV và dẫn xuất trung gian của nó trong quá trình nhiệt phân được loại bỏ hoàn toàn khỏi mẫu thử rắn trong điều kiện của thiết bị R không ôxy ở nhiệt độ 250oC, trong thời gian 25 phút. Cũng ở điều kiện này, tất cả các HC BVTV có trong danh mục cấm theo Công ước Stốckhôm, trong danh mục quy định ngưỡng xả thải QCVN 15:2008/ BTNMT, cũng đều bị loại bỏ.
4. KẾT LUẬN
- Phương pháp nhiệt phân không toàn phần nhiệt độ thấp trong điều kiện không ôxy là khả thi nhằm xử lý đất ô nhiễm HC BVTV dạng POPs hàm lượng cao tại khu vực khảo sát.
- Chế độ công nghệ thích hợp của phương pháp trên là: nhiệt độ 250oC và thời gian nhiệt phân 25 phút, môi trường không ôxy trong Thiết bị nhiệt phân. Với chế độ công nghệ này, có thể xử lý loại bỏ các HC BVTV dạng POPs bị cấm sử dụng theo Công ước Stốckhôm, và các HC BVTV được quy định ngưỡng xả thải tại QCVN 15:2008/ BTNMT, đến mức đạt yêu cầu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo tại Hội thảo Triển khai thực hiện Quyết định số 1946/QĐ-TTg về Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trưởờng do HC BVTV tồn lưu trên phạm vi cả nước, do Tổng cục Môi trường chủ trì kết hợp với một số tổ chức quốc tế. Thành phố Vinh - Nghệ An, 2010.
2. Nguyễn Thành Yên, Cục Quản lý chất thải và cải thiện môi trường, Tổng cục Môi trường. Đánh giá hiện trạng công nghệ xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam hiện nay. Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ Ba, 2010.
3. Báo cáo tại Hội thảo Giới thiệu và tham vấn lựa chọn công nghệ xử lý hóa chất POPs tồn lưu tại Việt Nam. Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội ngày 09/08/2007.
4.Quyết định của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường số 1972/1999/QĐ-BKHCNMT ngày 10/11/1999 về việc ban hành quy trình công nghệ tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật do hữu cơ tồn đọng cấm sử dụng.
5.Yutaka ISHH, et all. POPs contaminated soil treat-ment with "Reductive heating and sodium dispersion method" and its recycling for material of green planting. Journal of Envir. Science for Sustainable Society 1 (2007) 11-14
6.Pyrolysis. Wikipedia, the/ree ancyclopedia.
7.Trần Quốc Sơn, Đặng Văn Liêu. Cơ sở Hóa học hữu cơ Tập 2, NXB Giáo dục, 2001
8.DDT, wikipedia, the free encyclopedia
Tô Thị Hải Yến, Hoàng Thị Huyền Bích, Phạm Quang Huy - Viên Công nghệ môi trường
Nguồn: http://vea.gov.vn

Vi khuẩn biến CO2 thành xăng

Phương pháp giải quyết khí nhà kính đặc biệt là CO2, không phải là chưa được biết đến. Tuy nhiên, có lẽ sẽ còn tốt hơn nếu chúng ta có thể biến lượng khí nhà kính khổng lồ đang hủy hoại Trái Đất thành những thứ có ích hơn cho con người.

1. Vi khuẩn biến CO2 thành Xăng

Những con vi khuẩn R-eutropha có thể chuyển hóa carbon thành xăng sinh học. Ảnh minh họa.
Mới đây, các nhà khoa học tại Học viện Công nghệ Massachussets (MIT) của Mỹ đã thành công trong việc biến đổi gene của loài vi khuẩn Ralstonia Eutropha để chúng có thể chuyển hóa carbon thành isobutanol.
Isobutanol là thứ chất dung môi có thể trộn lẫn để sử dụng cùng với xăng hay thậm chí là có thể dùng thứ chất này để thay thế cho xăng xe. Các nhà khoa học hi vọng khi đề án nghiên cứu của họ hoàn thành, những con vi khuẩn R-eutropha qua biến đổi gene có thể giúp giảm thiểu lượng khí nhà kính trong môi trường cũng như giảm bớt sự phụ thuộc của chúng ta vào nguồn nhiên liệu hóa thạch đang sắp bị cạn kiệt.
Ban đầu, trước khi bị thay đổi, nguồn thức ăn của R-eutropha là carbon. Khi nguồn thức ăn xung quanh môi trường sống của chúng trở nên khan hiếm, R-eutropha tổng hợp một loại chất polyme để lưu giữ và bòn rút nốt từng chút carbon đã từng đi qua bộ máy tiêu hóa của chúng.
Sau khi loại bỏ cũng như thêm vào một vài gen cho những con vi khuẩn này, cộng với việc phức hợp một số phản ứng tổng hợp trong R-eutropha, các nhà nghiên cứu tại MIT đã thay thế được loại polyme chúng sản sinh ra thành isobutanol.
Không giống như các sản phẩm cồn hay các chế phẩm xăng sinh học khác, isobutanol có thể được sử dụng trực tiếp trên động cơ mà không cần qua thanh lọc.
Thực chất, đây không phải lần đầu tiên khoa học sử dụng vi khuẩn để chế tạo các loại xăng sinh học thay thế cho xăng hóa thạch. Tuy nhiên, ở các loài vi khuẩn tạo xăng trước đây, số vi khuẩn sử dụng để chế tạo xăng phải chết đi thì con người mới thu được sản phẩm xăng sinh học cần có.
Tại khoa nghiên cứu của Học viện Công nghệ Massachussets, loài vi khuẩn R-eutropha sẽ thải isobutanol trực tiếp ra, tạo thành môi trường chất lỏng xung quanh chúng. Từ đây, chúng ta chỉ việc xây dựng một quy trình đơn giản để thu giữ số chế phẩm xăng sinh học này.
Tạm thời, thức ăn đang được các nhà nghiên cứu tại Học viện Công nghệ Massachussets cung cấp cho loài vi khuẩn biến đổi gene này là đường fructose. Các giai đoạn nghiên cứu và thử nghiệm tiếp theo để R-eutropha chuyển hóa CO2 thành xăng sinh học đang được gấp rút thực hiện.
Trong tương lai, các nhà khoa học hi vọng rằng có thể tạo ra những quy trình dẫn CO2 trực tiếp từ các nhà máy đến nơi nuôi nhốt R-eutropha để chúng có thể loại bỏ khí thải kỹ nghệ cũng như tạo ra nguồn nhiên liệu hoạt động cho nhà máy.
Không chỉ có vậy, các nhà nghiên cứu tin tưởng rằng loài vi khuẩn này sau khi được biến đổi gene có khả năng chuyển hóa bất cứ dạng carbon nào trở thành isobutanol. Đây có lẽ là chìa khóa cho việc giải quyết chất thải công nghiệp cũng như nông nghiệp đang làm chúng ta phải đau đầu.
Trước mắt, nhóm nghiên cứu một mặt đang cố gắng làm cho những con vi khuẩn R-eutropha sản sinh ra nhiều isobutanol hơn với cùng một lượng thức ăn cung cấp cho chúng. Mặt khác, nhóm nghiên cứu cũng phải thiết kế hoàn thành một hệ thống để sử dụng tại các nhà máy công nghiệp.
Như đã nói, MIT không phải nơi đầu tiên nghiên cứu để sử dụng vi khuẩn sản xuất xăng sinh học tuy nhiên chưa một nơi nào thật sự hoàn thiện công việc này.
Một ví dụ điển hình là vào năm 2006, các nhà khoa học tại UCLA tuyên bố rằng họ đã thành công trong việc thu isobutanol từ loài vi khuẩn Synechoccus Elongatus cũng bằng nguyên liệu là khí CO2. Tuy nhiên, cho đến ngày nay chúng ta vẫn chưa thấy một hệ thống hoàn hảo nào sử dụng vi khuẩn để chuyển hóa khí nhà kính thành xăng sinh học. Hi vọng rằng những nghiên cứu tại MIT không chìm xuồng như những tuyên bố trước đây từ giới khoa học.

Cơ chế hoạt động của loại vi khuẩn Ralstonia Eutropha.

2. Biến giấy báo thành xăng sinh học siêu rẻ

Các nhà khoa học Đại học Tulane ở Mỹ đã khám phá ra một chủng vi khuẩn mới được đặt tên là TU-103 có thể ‘lên men’ hàng tấn giấy báo thành nhiên liệu sinh học butanol thay thế cho xăng dầu.

Hiện nay họ đang thí nghiệm dùng TU-103 ‘ủ xăng’ từ những ấn bản cũ của các tờ báo như Times Picayune, Nhật báo New Orleans ở Mỹ rất thành công.
TU-103 là loại chủng vi khuẩn đầu tiên từ thiên nhiên có thể sản xuất nhiên liệu butanol trực tiếp từ hợp chất cao phân tử cellulose, thành phần chủ yếu cấu tạo nên vách tế bào thực vật.

Giờ đây hàng tấn giấy báo phế thải đã có thể được vi khuẩn TU-103 ‘ủ’ thành nhiên liệu sinh học butanol siêu rẻ. Ảnh: Paperonline.

“Cellulose được tìm thấy trong tất cả các loại gỗ thực vật và là nhiên liệu hữu cơ dồi dào bậc nhất trên Trái đất, và việc biến nó thành nhiên liệu butanol là giấc mơ của nhiều người”, trưởng nhóm nghiên cứu Harshad Velankar, sinh viên nghiên cứu hậu tiến sỹ tại phòng thí nghiệm David Mullin ở Khoa Sinh học phân tử và Tế bào Đại học Tulane cho biết. 

“Riêng ở Mỹ, hàng năm mọi người đem ném bỏ thành rác thải ít nhất 323 triệu tấn nguyên liệu chứa cellulose có thể được sử dụng để sản xuất thành butanol”, nhà khoa học dẫn giải thêm.

Nhóm nhà khoa học của Mullin ban đầu đã tìm ra vi khuẩn TU-103 trong phân động vật, sau đó họ tìm cách nuôi dưỡng nó và phát triển thành một kỹ nghệ sử dụng TU-103 để sản xuất butanol.

“Điểm quan trọng nhất của khám phá này là khả năng sản xuất butanol trực tiếp từ cellulose của vi khuẩn TU-103”, ông Mullin giải thích trên tờ Physorg

Ông này nhấn mạnh rằng TU-103 là loại chủng khuẩn nhóm clostridium có khả năng sản xuất butanol duy nhất từng được biết, có thể nuôi và sản xuất butanol trong điều kiện có mặt oxy, chất khí vốn giết chết tất cả các vi khuẩn làm xăng sinh học butanol khác. 
Trước nay, việc sản xuất nhiên liệu butanol trong điều kiện môi trường không có oxy luôn làm tăng giá cả sản xuất và thành phẩm.
Xăng sinh học butanol có nhiều ưu điểm hơn xăng sinh học ethanol được sản xuất phổ biến từ đường, vì butanol có thể tiếp nhiên liệu cho các phương tiện motor đang tồn tại hiện tại mà không cần phải thay đổi chỉnh sửa động cơ như ethanol, lại cũng có thể được truyền dẫn bằng các ống dẫn xăng hiện tại, ít ăn mòn hơn và chứa nhiều năng lượng hơn xăng ethanol.


“Khám phá này sẽ giúp làm giảm chi phí sản xuất xăng sinh học butanol. Ngoài ra, nhiên liệu sinh học butanol chế từ cellulose có thể giảm đáng kể khí CO2 và khói thải so với xăng dầu hiện tại, có hiệu quả tích cực đối với khí thải trên đất liền hiện nay,” tiến sỹ Mullin khẳng định.

Nguồn tin: lamtuong st

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482