DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


‘Cơ sở hạ tầng xanh’ hay những phương pháp tiếp cận mới với các hệ thống sinh thái tự nhiên trong môi trường đô thị: từ mặt đất đến các bức tường và mái nhà xanh

Yêu cầu thay đổi trong thiết kế đô thị là thực sự cần thiết để giúp thích ứng với các điều kiện khí hậu biến đổi. Những thay đổi đã được dự báo trong mô hình mưa và nhiệt đặt ra yêu cầu phải thay đổi các phương pháp đang được áp dụng tại hầu hết các đô thị trong việc thu gom nước mưa, giải quyết các vấn đề về nhiệt, và duy trì đa dạng sinh học. Gramae giới thiệu ý tưởng rằng việc áp dụng các phương pháp thiết kế đô thị bền vững mới như “cơ sở hạ tầng xanh” sẽ tạo dựng một đô thị bền vững và có chất lượng sống tốt hơn. Một yếu tố có lợi thường bị bỏ qua trong thiết kế đô thị là tận dụng hình dạng 3-D của mái nhà và tường để bố trí các hệ thống tự nhiên này. Việc này sẽ giúp giảm nhẹ áp lực về quỹ đất quí giá trong đô thị.



Người trình bày: Professor Graeme Hopkins – Giáo sự trường đại học Adelaide (Úc)
Người dịch: Trần Thị Mai Thoa – Thạc sĩ Nghiên cứu Phát triển (IHEID, Geneva, Thụy Sĩ).Email: af1909vn@gmail.com
Người review: Đinh Tiến Dũng – Thạc sĩ Quản trị Tài nguyên Nước (Đại học Adelaide, Úc). Email: dungdt812@gmail.com
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, công tác thiết kế và quy hoạch trong các đô thị phải được thay đổi. Tốc độ biến đổi khí hậu nhanh như hiện nay đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần phải có các quy hoạch đi trước 10 năm; nếu không khi chung ta bắt tay vào xây dựng thật sự thì bối cảnh khí hậu của đô thị đã rất khác, dẫn đến quy hoạch hay thiết kế của chúng ta nhanh chóng bị lỗi thời. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập đến một xu hướng mới trong công tác quy hoạch và thiết kế đô thị trên thế giới, được gọi là ‘cơ sở hạ tầng xanh’. Đó là xu thế coi trọng và tận dụng các hệ thống tự nhiên để bổ sung và tăng cường năng lực đối phó với biến đổi khí hậu cho các công trình xây dựng trong một thành phố. Bài viết cũng sẽ cung cấp một vài ví dụ cụ thể về những gì các kiến trúc sư đô thị trên thế giới đã và đang bắt tay thực hiện, đặc biệt là nhằm làm tăng mật độ cư dân trong khi vẫn duy trì các khoảng không gian mở trong các thành phố.
Các hệ sinh thái tự nhiên trong môi trường đô thị
Việc nghiên cứu quy hoạch đô thị trong bối cảnh biến đổi khí hậu trước hết cần phải dựa trên hai giả thuyết.
Ảnh
Hình 1: Cân bằng nước trong môi trường tự nhiên và đô thị
Thứ nhất, mỗi thành phố là một hệ sinh thái. Định nghĩa đơn giản một hệ sinh thái là một cộng đồng các sinh thể sống tương tác với các vật thể ‘chết’. Bên trong hệ sinh thái đô thị lại có các hệ khác nhỏ hơn; các hệ nhỏ này được coi là hệ mở do có sự trao đổi chất và năng lượng liên tục giữa bên trong và bên ngoài, dẫn đến sự thay đổi và phát triển theo thời gian của chúng. Đây là điều cần đặc biệt lưu tâm vì như chúng ta đã biết, biến đổi khí hậu làm tăng tốc quá trình thay đổi này – vốn trước đây diễn ra trong 1 quãng thời gian rất dài – buộc chúng ta phải tìm cách ứng phó nhanh hơn.
Thứ hai, mỗi thành phố là một lưu vực hứng và trữ nước. Trong điều kiện môi trường tự nhiên, sẽ có khoảng 27% lượng nước mưa chảy tràn (runoff) trên bề mặt và 20% dưới dạng dòng chảy ngầm (baseflow)[1]. Như vậy khả năng cấp nước của lưu vực tự nhiên là khoảng 47% lượng nước mưa. Nhưng trong môi trường xây dựng nhân tạo như một thành phố, dòng chảy ngầm chỉ chiếm khoảng 5% do rất ít nước thấm được qua mặt đất, trong khi lượng nước chảy tràn lại chiếm đến tận 58%. So sánh khả năng cấp nước của hai lưu vực (63% trong môi trường đô thị so với 47% trong môi trường tự nhiên), ta sẽ thấy tầm quan trọng của việc tận dụng lượng nước chảy tràn rất lớn trong đô thị. Vấn đề đặt ra là làm sao có thể giữ được lượng nước này để tái sử dụng. Như trình bày trong phần sau của bài viết này, chúng ta sẽ có thể thiết kế mái nhà, tường để tăng cường khả năng trữ nước của một thành phố, thu gom và chứa nước mưa dưới vỉa hè để sau đó xử lý và tái sử dụng, sử dụng thảm thực vật ở mặt đất như những tấm lọc sinh học v.v…
Ảnh
Hình 2: Minh họa khái niệm ‘cơ sở hạ tầng xanh’
Những mái nhà, tường hoặc vỉa hè được thiết kế như vậy được coi là ‘cơ sở hạ tầng xanh’, một cụm từ đang được sử dụng ngày càng phổ biến trên toàn thế giới. Vậy ‘cơ sở hạ tầng xanh’ là gì? Có thể hiểu một cách đơn giản, đó là việc ứng dụng các hệ thống tự nhiên trong môi trường đô thị để thay thế hoặc bổ sung cho hệ thống cơ sở hạ tầng nhân tạo, qua đó cung cấp các tiến trình tự nhiên trong việc vận chuyển nước và xử lý nước bị ô nhiễm. Trong một thành phố, chúng ta không thể xây mới hoàn toàn lại từ đầu hệ thống cơ sở hạ tầng vì như thế sẽ rất tốn kém. Khi đó giải pháp tất yếu sẽ phải là sử dụng các hệ thống sinh thái tự nhiên để tăng cường năng lực của hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có. Giải pháp này sẽ mang lại lợi ích lớn về mặt chi phí cho các thành phố.                                                                                 
Xử lý nước mưa trong điều kiện biến đổi khí hậu
Chúng ta cùng thử xem xét một ví dụ cụ thể trong trường hợp xử lý nước mưa. Trong phần trên của hình 3, phần màu tím thể hiện lượng nước mưa và nước chảy tràn ở mức thông thường trên các bề mặt cứng hóa trong thành phố. Chuyện gì sẽ xảy ra khi mưa trở nên to hơn do biến đổi khí hậu? Khi cường độ mưa tăng lên nhiều hơn mức thông thường, mực nước sẽ dâng cao đến cả phần màu xanh trong hình vẽ. Nếu năng lực của hệ thống thoát nước không được cải thiện, chúng ta sẽ dễ lâm vào tình trạng ngập lụt nghiêm trọng. Phần dưới của hình 3 minh họa cơ chế để giải quyết vấn đề này. Chúng ta sẽ làm giảm lượng nước dồn lên các khu vực đã bị cứng hóa về mức như khi mưa bình thường bằng việc để cho nước thấm xuống lớp đất phía dưới qua các tấm lọc sinh học[2]. Trong hình 4 là một thiết kế kiểu này đã được thực hiện ở thành phố Melbourne (Úc).
Ảnh
Hình 3: Xử lý lượng nước mưa tăng đột biến do biến đổi khí hậu
Ảnh
Hình 4: Ứng dụng tấm lọc sinh học trong xử lý thoát nước ở Melbourne (Úc)
Hệ thống cây xanh đô thị
Một ví dụ khác về ‘cơ sở hạ tầng xanh’ chính là cây xanh trong thành phố.  Như chúng ta biết, cây xanh là một hệ thống tự nhiên, chúng đóng vai trò như các máy bơm hút nhiệt. Bên dưới tán lá cây luôn diễn ra sự đối lưu không khí nhờ quá trình thoát hơi ẩm qua tán lá gây ra sự chênh lệch độ ẩm và áp suất không khí.  Chúng ta có thể ứng dụng hiện tượng này bằng cách trồng các cây nhận tạo cỡ lớn có khả năng hút không khí nóng đến 40oC. Hơi nước  được phun vào giúp làm giảm nhiệt độ không khí. Nhờ sự thay đổi áp suất và hiệu ứng ‘ống khói ngược’[3], lớp không khí đã được làm mát được chuyển xuống dưới giúp làm giảm nhiệt độ không khí dưới mặt đất xuống còn khoảng 25oC. Ở Singapore, người ta đang nghiên cứu áp dụng kĩ thuật này vào xây các công viên nằm dọc theo các hải cảng; người Singapore thậm chí còn định trồng những cây nhân tạo với kích thước cao ngang một tòa nhà bảy tầng. Đây thực chất là một kĩ thuật đã có từ rất lâu đời. Nếu bạn có dịp đến thăm tòa nhà quốc hội ở Canberra, trong sân các tòa nhà của Thượng Viện và Hạ Viện nước Úc đều có trồng các cây nhân tạo rất to được thiết kế để giúp điều hòa không khí. Thiết kế tương tự cũng được áp dụng ở tòa nhà của bộ Tài Chính Úc.
Ảnh
Hình 5: Mô hình cây điều hòa không khí
Hãy cùng xem xem ta có thể áp dụng kĩ thuật này vào một trường hợp cụ thể là các khu mua sắm ngoài trời như thế nào. Khi nhiệt độ tăng cao, người dân sẽ ít viếng thăm các khu mua sắm ngoài trời hơn do lo sợ bị ung thư da. Họ sẽ có xu hướng ghé vào các khu mua sắm trong nhà hơn do ở đó thường có điều hòa không khí nên mát mẻ và dễ chịu hơn. Tuy nhiên so với những khu mua sắm ngoài trời, những khu mua sắm trong nhà lại có một nhược điểm về mặt xã hội; do thường được xây trên đất tư nên có thể xảy ra tình trạng là nhiều nhóm dân cư trong xã hội sẽ không được phép đặt chân vào những khu mua sắm trong nhà như vậy. Ta có thể làm gì để giải quyết tình trạng này bằng cách áp dụng kĩ thuật đã nêu ở trên?
Ảnh
Hình 6: Ứng dụng làm mát không khí ở khu mua sắm ngoài trời Rundle Mall (Úc)
Ảnh
Hình 7: Phác thảo một thiết kế tích hợp nhiều hệ thống tự nhiên
Với một thiết kế mái che như trong hình 6, nước mưa tích lại trên mái che sẽ được dẫn xuống và trữ lại dưới lớp gạch lát đường. Các tấm pin mặt trời được gắn trên mái che sẽ giúp bơm lượng nước trữ ở phía dưới mặt đường ngược trở lên mái che, phun nước ra xung quanh dưới dạng sương mù để làm giảm nhiệt độ không khí và hiệu ứng ‘ống khói ngược’ sẽ đưa luồng không khí mát này đi xuống và điều hòa nhiệt độ trong khu mua sắm ngoài trời. Nếu chúng ta duy trì liên tục như vậy, nhiệt độ trong khu vực xung quanh sẽ được giảm xuống đáng kể. Bằng cách đó, chúng ta có thể thu hút khách mua sắm quay trở lại, mang lại lợi ích thương mại cho các doanh nghiệp. Trong hình trên là thiết kế đã được lắp đặt tại Rundle Mall, khu mua sắm trung tâm ở thành phố Adelaide thuộc bang Nam Úc.                                                         
Nếu biết kết hợp các hệ thống tự nhiên như vậy với nhau, chúng ta có thể đạt được nhiều mục đích cùng một lúc như vừa xử lý ô nhiễm vừa tích trữ được nước mưa. Dưới đây là phác thảo ý tưởng một dự án đang được tiến hành ở trường đại học Nam Úc. Như ta thấy, ta có thể cùng một lúc xử lý được nước mưa, tích trữ lại lượng nước mưa ấy trong lớp sỏi dưới lớp gạch lát vỉa hè; đồng thời dùng các cây thân gỗ thẳng để mang lại bóng mát, giảm tác động của hiện tượng ‘đảo nhiệt đô thị[4]’, làm mát khu vực vỉa hè, và cuối cùng, ta có thể dẫn nguồn nước được tích trữ dưới vỉa hè vào trong các tòa nhà bên cạnh để tái sử dụng. Cũng với những tác dụng tương tự – trữ nước và làm mát không khí – là các thiết kế ‘tường sống’ và ‘mái nhà xanh’.
‘Mái nhà xanh’
Ưu điểm lớn của ‘mái nhà xanh’ là việc chúng ta có thể thiết kế mái nhà loại này theo bất kì hình dạng nào chúng ta mong muốn. Các kĩ thuật hiện có hoàn toàn cho phép chúng ta làm được điều này dễ dàng. Trong ảnh dưới dây là mái nhà Việc Công Nghệ California; họ đã tận dụng địa hình của mái nhà để điều hòa không khí cho tòa nhà. Như vậy có thể thấy là có rất nhiều lợi ích từ ‘mái nhà xanh’ cho một tòa nhà cao tầng, vừa làm tăng bóng mát và khả năng cách nhiệt lại làm giảm chi phí năng lượng. Thực tế chỉ cần giảm được một phần nhỏ mức tiêu thụ năng lượng trong các tòa nhà như vậy thì chúng ta đã có thể có được những khoản tiết kiệm về mặt chi phí khá lớn. Một ‘mái nhà xanh’ có đủ khả năng làm mát cho khoảng ba tầng nhà đầu tiên. Dễ thấy là kể cả khi đã có mái nhà xanh, các mặt bên của tòa nhà vẫn bị ánh nắng chiếu vào trực tiếp. Và đó là lí do chúng ta cần kết hợp thêm ‘tường sống’ vào thiết kế các tòa nhà trong đô thị, sẽ đề cập đến trong phần sau của bài này.
Ảnh
Hình 8: Minh họa mái nhà xanh
Một câu hỏi đặt ra là có những hệ thống sinh thái tự nhiên nào có thể được áp dụng trong thiết kế ‘mái nhà xanh’. Một lựa chọn là ta có thể sử dụng hệ thống làm mát bằng cây xanh; trồng cây xung quanh các tấm kính năng lượng mặt trời sẽ làm tăng hiệu quả của các tấm kính này lên thêm 20% so với ở mái nhà bình thường. Đây là kết quả năm năm nghiên cứu của các nhà khoa học Đức; nếu chúng ta làm tăng hiệu suất của các tấm kinh quang điện lên thêm 20% thì rõ ràng đây là một nguồn lợi lớn, có thể thu hút các doanh nghiệp đầu tư.
Ảnh
Hình 9: Các thiết kế khác nhau với mái nhà xanh
Một lựa chọn khác là ta sẽ thiết kế mái nhà theo kiểu đất ngập nước. Phần dưới của hình 9 là mái nhà của một nhà máy ở Đức; nước từ dây chuyền sản xuất sẽ được dẫn lên mái nhà, tưới cho cây trên mái nhà rồi quay trở lại dây chuyền sản xuất. Một lợi ích khác của thiết kế kiểu này là chúng ta sẽ tận dụng được diện tích mái nhà để thay thế các vùng đất ngập nước ở dưới mặt đất. Trong điều kiện thực tế của một thành phố theo mô hình nhỏ gọn[5], diện tích mặt đất là rất quý giá và nên được tiết kiệm để dành làm các chức năng khác. Thiết kế như đã nói sẽ cho phép chúng ta tranh thủ được diện tích mái nhà mà vẫn đạt được mục đích ban đầu.
‘Tường sống’
Ảnh
Hình 10: Phác thảo thiết kế ‘tường sống’
Như đã nói ở trên, bên cạnh ‘mái nhà xanh’, chúng ta cũng rất cần quan tâm đến thiết kế các ‘tường sống’. Tường của các tòa nhà trong một thành phố không chỉ làm nên diện mạo về mặt thẩm mỹ của đô thị đó mà còn có tiềm năng lớn giúp tiết kiệm mức tiêu thụ năng lượng trong các tòa nhà. Rõ ràng với một tòa nhà càng nhiều tầng, càng có thêm nhiều diện tích để ta có điều kiện áp dụng các thiết kế mới. Dĩ nhiên, sẽ có nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật nhưng không phải là không thể. Các kỹ thuật mới vẫn đang tiếp tục được phát triển với chi phí ngày càng giảm.
Các bức ‘tường sống’ cũng có hiệu quả tương tự như ‘mái nhà xanh’ như giúp giảm hiện tượng ‘đảo nhiệt đô thị’. Hình 11 bên trái minh họa một tòa nhà nhiều tầng trong đó ‘tường sống’ của nó được sử dụng như một lớp lọc sinh học. Nước xám (greywater)[6] sẽ được dẫn từ tầng trên, chảy qua hệ thống, trở thành nước sạch và được dẫn xuống để tái sử dụng ở tầng bên dưới; quy trình diễn ra như một ‘thác nước’. Hình 11 bên phải là ảnh một bức tường trong một công ty bảo hiểm ở Canada, dưới chân tường là bể cá. Nước ở trong bể cá sẽ được quay vòng dẫn lên trên nóc của bức tường sống và từ đó chảy dần xuống theo mô phỏng ‘thác nước’ đã miêu tả ở trên. Trong quá trình ấy, các chất dinh dưỡng trong nước sẽ được hấp thụ bởi các cây trồng trên bức tường còn nước sạch sẽ quay trở lại bể cá lúc đầu. Vòng tuần hoàn cứ thế tiếp tục.
Ảnh
Hình 11: Ứng dụng ‘tường sống’ mô phỏng thác nước với bể cá ở chân tường (Canada)
Kết hợp ‘mái nhà xanh’ và ‘tường sống’
Nếu chúng ta đồng bộ hóa các mảng xanh trên tường và mái nhà, ta sẽ có một hệ thống tích hợp đồng bộ từ mặt đất đến mái nhà, giúp làm giảm mức tiêu thụ năng lượng, hình thành các vành đai xanh trong thánh phố, giảm dòng chảy tràn do mưa, và tăng mảng xanh đô thị.
Hình 13 là một công trình rất nổi tiếng ở tỉnh Fukuoka của Nhật Bản. Ta tưởng tượng nếu xung quanh các quảng trường trong thành phố mà chúng ta xây dựng một vành đai các tòa nhà hình bậc thang như thế này, ta sẽ làm tăng diện tích mảng xanh trong mỗi khu vực quảng trường ấy lên gấp bốn hay sáu lần, từ đó cũng làm tăng khả năng làm mát thành phố lên gấp nhiều lần.
Ảnh
Hình 12: Phác thảo kết hợp ‘mái nhà xanh’ và ‘tường sống’
Ảnh 
Hình 13: Nhà bậc thang, tích hợp mảng xanh từ mặt đất đến mái nhà ở Nhật Bản
‘Hành lang sinh thái trên cao’
Ảnh
Hình 14: Phác thảo thiết kế ‘hệ sinh thái trên cao’
Ta thậm chí có thể tiến xa hơn một bước nữa bằng việc áp dụng thiết kế kiểu ‘hệ sinh thái trên cao’ (bushtop), nghĩa là khi chúng ta tiến hành xây dựng một tòa nhà mới, ta sẽ thiết kế các mảng xanh trên mái nhà và tường nhà với một hệ thực vật và động vật làm sao cho hệ sinh thái mới này giống hệt như hệ sinh thái ta từng có trên mặt đất nơi đó, trước khi có các hoạt động xây dựng của con người.
Với thiết kế này, ta thậm chí có thể thiết lập cả một hệ thống sinh thái hoàn chỉnh trên các mái nhà và tường trong khu vực đô thi. Các loài côn trùng và chim trong một thành phố luôn có những tuyến di cư nhất định của chúng; việc thiết lập các hành lang sinh thái[7]  nhân tạo sẽ giúp khôi phục các tuyến di cư tự nhiên này vốn bị ảnh hưởng do hoạt động xây dựng của con người. Thiết kề này dựa trên lý thuyết ‘siêu dân cư’ (meta-population theory) do nhà nghiên cứu Paul Ehrlich phát triển giữa những năm 70 của thế kỉ trước. Các hành lang sinh thái không bắt buộc phải liên tục trong không gian mà có thể được thiết lập theo kiểu “bàn đạp” (stepping stone corridor)[8], miễn là khoảng cách giữa các “bàn đạp” (mái nhà) vẫn nằm trong tầm bay của các loài sinh vật để chúng có thể di chuyển qua lại và cư ngụ trong các môi trường sinh thái nhân tạo trên đó.
Ảnh
Hình 15: Phác thảo thiết kế chuỗi ‘hành lang sinh thái trên cao’ trong thành phố
Ứng dụng làm tăng mật độ dân cư và diện tích mảng xanh đô thị
Trong một thành phố theo mô hình nhỏ gọn, với mật độ dân cư lớn, một thách thức là làm sao tăng được các khoảng không gian mở. Hình vẽ số 1 của hình 16 minh họa không gian mở và diện tích mảng xanh ta có trong điều kiện tự nhiên. Trong hình vẽ số 2, khi ta xây nhà kiểu bình thường, không gian quanh nơi ở chỉ còn giữ lại khoảng 25-30% mảng xanh tự nhiên. Tuy nhiên nếu ta tiến hành phủ xanh tường và mái nhà, tạo ra các ‘tường sống’ và ‘mái nhà xanh’, chúng ta sẽ vừa tạo ra thêm khoảng không gian mở mà lại có thêm đất trống để xây thêm một hoặc hai tòa nhà. Như các hình vẽ 3 và 4 cho thấy, chúng ta có thể làm tăng mật độ xây dựng
Ảnh
Hình 16: Phác thảo thiết kế làm tăng mật độ dân cư và diện tích mảng xanh đô thị
lên thêm ba đến bốn lần trong khi cũng làm tăng thêm diện tích mảng xanh trong không gian mở của khu vực sinh sống thêm 25%. Chỉ cần một phép tính đơn giản diện tích tường và nhà có thể phủ xanh là ta sẽ thấy rõ ràng tiềm năng tạo ra thêm không gian mở và tăng mảng xanh cho thành phố như thế nào nhờ những thiết kế đã nói ở trên. Tuy nhiên các thiết kế này vẫn có điểm hạn chế là không tạo được tầng đất sâu cho các cây lớn.
Ảnh
Hình 17: Phác thảo thiết kế trong trường hợp khu vực ngoại ô
Ta sẽ tham khảo thêm một ví dụ khác trong điều kiện khu vực ngoại ô của các thành phố. Hình vẽ bên trên của hình 17 là một ngôi nhà điển hình ở các vùng ngoại ô; ở bên cạnh ta để ý thấy có một hàng rào. Hàng rào này là nơi sinh sống của các loài chim cỡ bé để trốn sự dòm ngó của các loài chim săn mồi lớn vốn sống nhiều ở các đồng cỏ trống xung quanh khu vực ngoại ô. Khi chúng ta tăng mật độ xây dựng lên bằng cách xây thêm một ngôi nhà thứ hai vào bên cạnh, hàng rào ta vừa nói dĩ nhiên sẽ buộc phải bị dỡ bỏ. Nơi sinh sống của các loài chim nhỏ như thế sẽ bị hủy diệt. Tuy nhiên bằng việc phát triển các ‘tường sống’ và ‘mái nhà xanh’, ta hoàn toàn có thể tái tạo lại hệ cây cối, chim chóc vốn sống trên dãy hàng rào trước kia. Như vậy ta vừa tăng thêm mật độ xây dựng mà vẫn duy trì được hệ sinh thái vốn có quanh nơi ở của con người.           
Đồng bộ hóa hệ thống mảng xanh trong không gian xây dựng đô thị
Ảnh
Hình 18: Phác thảo thiết kế đồng bộ hóa hệ thống mảng xanh trong không gian xây dựng đô thị
Nếu chúng ta áp dụng triệt để các thiết kế đã nói ở trên với ‘mái nhà xanh’, ‘tường sống’, ban công xanh, công viên, kết nối không gian đường phố với mặt tiền các tòa nhà, v.v… chúng ta có thể tạo ra một hệ thống không gian xanh mở ba chiều, khác với tư duy thiết kế truyền thống trên nguyên tắc không gian hai chiều chúng ta vốn quen thuộc.
Ảnh
Hình 19: Phác thảo thiết kế đồng bộ hóa hệ thống mảng xanh trong không gian xây dựng đô thị
Các nghiên cứu hiện vẫn đang được tiến hành và có tiềm năng sẽ cho ra được kết quả sau một hoặc hai năm. Khi đó chúng ta có thể tiến tới xây dựng một vành đai xanh quanh thành phố, đặc biệt là phủ xanh các công trình tại vị trí trọng yếu để vừa làm giảm hiệu ứng ‘đảo nhiệt đô thị’ vừa làm giảm lượng khí thải CO2 trong thành phố.
Ảnh
Hình 20: Phác thảo thiết kế làm giảm hiện tượng ‘đảo nhiệt đô thị’
Các lợi ích môi trường, kinh tế, xã hội nhờ tận dụng không gian mái nhà
Ảnh
Hình 21: Bốn nhóm yếu tố cần cân nhắc khi tiến hành thiết kế tận dụng khoảng không gian mái nhà trong thành phố
Cuối cùng, cần phải nhấn mạnh một lần nữa rằng mái nhà của các công trình xây dựng trong thành phố, vốn thường là khoảng không gian mở bị bỏ phí, thực ra có thể mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích khác nhau. Như vậy khi tiến hành thiết kế mái nhà, có bốn nhóm yếu tố chúng ta phải quan tâm. Về mặt môi trường, như đã nói ở trên, chúng ta thiết kế các ‘mái nhà xanh’, ‘hệ sinh thái trên cao’ hay ‘hành lang sinh thái trên cao’, v.v… nhằm tăng khả năng thích ứng với các biến đổi khí hậu trong các đô thị. Về mặt đời sống, mái nhà trong các khu chung cư sẽ cung cấp thêm diện tích mảng xanh cho các cư dân sống trong khu chung cư đó. Về mặt kinh tế, trên tầng thượng của các khu trung tâm thương mại, chúng ta có thể thiết kế các rạp chiếu phim hay nhà trông trẻ đi kèm với sân chơi có mái phủ xanh. Ví dụ như các ông bố bà mẹ khi có việc phải đi vào thành phố có thể lái xe đưa con đi cùng; sau khi cất xe vào bãi gửi xe, họ sẽ gửi con lên nhà trẻ ở bên trên; khi nào xong việc, họ lại quay lại và đón con. Cuối cùng là lợi ích về mặt sản xuất thực phẩm cho con người; các mái nhà, sân thượng trong thành phố có thể được tận dụng để trồng rau hay các cây ăn quả, qua đó mang lại một nguồn lợi kinh tế nữa cho chúng ta.
Lời kết
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ ràng đến phát triển đô thị bền vững thì việc xem xét lại vai trò và cách tiếp cận trong quy hoạch và quản lý đô thị là hết sức cần thiết. Quan niệm và phương cách quy hoạch truyền thống cho rằng quy hoạch và kiến trúc có khả năng và sức mạnh lớn lao, với sự hỗ trợ của khoa học hiện đại, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, trong việc cải tạo, xắp xếp lại lại tự nhiên, nhằm tạo ra mội môi trường sống hoàn toàn theo ý muốn chủ quan của con người. Thực tế biến đổi khí hậu toàn cầu làm cho cách tiếp cận này dễ dẫn đến thất bại do chúng ta luôn không thể nào dự đoán chắc chắn trước tất cả những rủi ro khí hậu. Khi mà cách tiếp cận xây dựng công trình truyền thống không còn phù hợp, những kinh nghiệm quốc tế đã thấy rằng việc thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua quy hoạch đô thị phải được nghiên cứu từ bài toán quy hoạch tổng thể cho đến thiết kế chi tiết cho từng khu đô thị, từng công trình, theo hướng mềm dẻo, tôn trọng tự nhiên, phù hợp với đặc điểm từng khu vực cụ thể. Thay vì cố gắng giảm tần suất rủi ro bằng các giải pháp công trình ‘cứng’ vốn nhanh chóng bị lỗi thời dưới tác động của biến đổi khí hậu, các nguyên tắc quy hoạch và xây dựng nhằm tận dụng các hệ thống sinh thái tự nhiên cần phải được coi trọng trong thiết kế công trình kiến trúc, cảnh quan nhằm tăng khả năng thích nghi với rủi ro của cư dân đô thị và giảm thiệt hại.
Tham khảo thêm:
-          Ứng dụng thực tế ‘mái nhà xanh’ ở Thụy Sĩ: http://www.bbc.com/travel/slideshow/20120608-switzerlands-habitats-in-the-sky)
-          Giải pháp cho thành phố xanh: http://ashui.com/mag/congnghe/giaiphap/5787-giai-phap-cho-thanh-pho-xanh.html
[1] Lượng nước ngầm bổ sung cho nước mặt (chảy vào các kênh, rạch, v.v…)
[2]  Là lớp chắn thực vật được thiết kế xử lý dòng chảy tràn trên bề mặt, lớp thực vật này có chức năng làm giảm tốc độ của dòng chảy, cho phép lắng trầm tích và các loại ô nhiễm khác. Nước mưa có thể thấm qua lớp lọc phía bên dưới, không những cung cấp khả năng xử lý ô nhiễm phân tán cao, mà còn là khoảng không gian xanh và tươi mát cho cộng đồng dân cư. (Nguồn: ashui.com)
[3] Hiệu ứng xảy ra khi lớp khí nóng phía trên bị làm nguội, do chênh lệch áp suất sẽ bị đẩy xuống phía dưới.
[4] Là hiện tượng nhiệt độ ở khu vực đô thị thường cao hơn nhiều nhiệt độ các vùng lân cận. Hình thành khi bức xạ mặt trời bị các kiến trúc xây dựng, đường sá, vỉa hè… giữ lại thay vì được hấp thu vào đất, nước, cây cỏ hay được phản chiếu trở lại không gian để gió mang đi. Một lượng nhiệt không nhỏ khác do con người tạo ra từ máy móc sinh hoạt và văn phòng, động cơ xe cộ và nhà máy công nghiệp. (Nguồn: www.physicsworld.com)
[5] Compact city – khuynh hướng, ý tưởng quy hoạch đô thị thịnh hành từ đầu những năm 90, chủ trương xây dựng thành phố theo hướng nhỏ gọn, mật độ lớn, với các khu chức năng hỗn hợp, có hệ thống giao thông công cộng hiệu quả, khuyến khích việc đi bộ và đi xe đạp, theo tình thần ‘phát triển bền vững’, đối lập với xu hướng xu hướng phát triển đô thị ‘vệt dầu loang’ (Nguồn: www.ashui.com)
[6] “Nước xám” là nước thải từ các hoạt động trong nhàcủa con người như tắm giặt, nấu nướng, v.v…, phân biệt với “nước đen” (blackwater) là nước thải từ nhà vệ sinh.
[7] Hành lang thực vật kết nối hai hoặc nhiều môi trường sinh thái khác nhau đóng vai trò quan trọng trong việc chống phân mảnh môi trường sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học (xem thêm tại:  www.seqcatchments.com.au/LiteratureRetrieve.aspx?ID=69158).
[8] Một kiểu hành lang sinh thái được tạo bởi các mảng thực vật rời rạc đóng vai trò như những “bàn đạp” hay “bước đệm” kết nối các môi trường sống khác nhau (xem thêm tại: www.seqcatchments.com.au/LiteratureRetrieve.aspx?ID=69158).
Nguồn: http://greenforvietnamblog.com 

Biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng lên nghề cá tại các khu vực rừng ngập mặn ven biển


Nghề cá Việt Nam, đặc biệt là nghề cá quy mô nhỏ ven bờ với các loại ngư lưới cụ khai thác truyền thống và hàng triệu hộ gia đình đang sống phụ thuộc là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất và dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH).
BĐKH và các biểu hiện của nó như nước biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan… đã ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến các hệ sinh thái (HST) quan trọng ven bờ và nghề cá liên quan như hệ sinh thái đầm phá và nghề cá đầm phá, HST rừng ngập mặn và nghề cá rừng ngập mặn ven biển, HST rạn san hô và nghề cá liên quan…
Tiếp theo loạt bài phân tích về tác động của BĐKH lên nghề cá quy mô nhỏ tại vùng ven biển Việt Nam, bài viết này phân tích sơ bộ tác động của BĐKH lên HST rừng ngập mặn và nghề cá liên quan đến HST rừng ngập mặn.

Ảnh hưởng của nhiệt độ tăng và biến đổi lượng mưa
Các yếu tố khí hậu tác động một cách tổng hợp lên hệ sinh thái rừng ngập mặn (RNM). Khi khí hậu nóng lên, các yếu tố như sự biến động nhiệt độ, lượng mưa, nước biến dâng sẽ là những yếu tố tác động mạnh nhất lên hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Dưới tác động của BĐKH, những năm gần đây, tại miền Bắc, nơi có nhiệt độ mùa đông thấp, đã nhiều lần ghi nhận các đợt lạnh bất thường (ví dụ như đợt lạnh lịch sử mùa đông năm 2007). Các đợt lạnh cực đoan này đã gây ra hiện tượng sương muối nhiều hơn và chính là một nhân tố hạn chế sự sinh trưởng của cây ngập mặn, thể hiện rõ ở triệu chứng là lá cây bị khô cháy. Theo Nguyễn Văn Hải, 1995, ở khu Đông Bắc Việt Nam vào những ngày khô hanh trong mùa đông lạnh bất thường, thường có sương muối vào ban đêm gây tổn thất cho cây ngập mặn, nhất là vào những ngày nước triều kiệt. Hiện tượng lá của một số cây ngập mặn ở ven biển Quảng Ninh như Rhizophora stylosa, Bruguiera gymnorhiza, Excoccaria agallocha và Cerbera manga đã quan sát thấy bị khô cháy và chết từng phần do sương muối khi nhiệt độ ban đêm xuống dưới 00C (Nguyễn Văn Hải, 1995).
Cùng với nhiệt độ, sự biến đổi của lượng mưa cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và phân vùng của các loài cây ngập mặn. Sở dĩ lượng mưa có ảnh hưởng đến sự phân bố các quần xã và thành phần loài vì nó cung cấp nước cho đất, tăng cường lượng nước ngọt chảy qua bề mặt, làm giảm nồng độ muối trong đất, nhất là vào thời gian cây sinh trưởng mạnh mẽ (lúc cây con mới bén rễ và lúc cây ra hoa kết quả), tránh cho cây khỏi bị “hạn sinh lý”do nồng độ muối cao. Vì vậy, mùa mưa thường cũng là mùa ra hoa, kết quả và phát tán hạt giống của các cây ngập mặn. Tuy nhiên, lượng mưa lớn không phải bao giờ cũng có lợi. Do ảnh hưởng của BĐKH nên các hiện tượng mưa, lũ lớn thường xuyên xảy ra hơn cả về cường độ và thời gian. Khi mưa lớn chỉ tập trung trong thời gian ngắn và nhiều tháng còn lại trong năm bị khô hạn sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho sự sinh trưởng và phân bố của cây ngập mặn. Trong hoàn cảnh đó, mưa lớn sẽ lọc rửa hết muối trong đất, ngược lại về mùa khô lượng muối trong đất lại quá cao. Ảnh hưởng này của mưa lớn do BĐKH đã được quan sát thấy ở khu vực Bắc Trung Bộ. Số liệu khí tượng tại các khu vực như thị xã Hà Tĩnh, huyện Kỳ Anh, thị xã Đồng Hới… cho thấy đây là những nơi thường có mưa lớn bất thường và xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn, có ngày mưa tới 400-500 mm và thường tập trung vào 2 tháng 9 và 10, trùng với mùa mưa bão (cũng có tần xuất xuất hiện thường xuyên hơn do ảnh hưởng của BĐKH) nên lượng mưa càng lớn hơn và làm đất ngập mặn bị lọc hết muối, nhất là khi con nước kém. Chính vì vậy, cây ngập mặn tại những khu vực này thường bị ngừng sinh trưởng hoặc chết cây con. Một số nơi, mưa lớn đã cuối theo cát, sỏi, đá cuội ra các bãi lầy, lấp rễ hô hấp và phá huỷ cây con đang tái sinh. Hiện tượng này đã được quan sát thấy ở vùng cửa sông Ba Chẽ, bởi vậy, sự phân bố cây ngập mặn ở đây ngày càng thưa và không đồng đều.
Ngược lại, vào thời điểm vào đầu và giữa mùa hè (tháng 4-7), do tác động của gió tây nam khô nóng với cường độ và thời gian kéo dài hơn do tác động của BĐKH nên làm cho đất ngập mặn bị bốc hơi rất mạnh, nồng độ muối trong đất tăng lên rất cao (tới 40-60%), cây thoát hơi nước nhiều, lượng nước hút vào không đủ nên khó giữ được cân bằng nước trong cơ thể dẫn đến nhiều cây bị chết khô. Hiện tượng này đã được quan sát thấy với những đám cây sú và đước bị chết khô vào tháng 7/1982 ở gần cửa sông Rào và sông Nghèn (Hà Tĩnh) khi có gió Lào thổi mạnh nhất. Ngoài ra, gió mùa đông bắc cũng góp phần quan trọng làm tăng mực nước biển ở Việt Nam. Gió mùa xuất hiện vào mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, vào thời kỳ thủy triều cao nhất trong năm (tháng 10 đến tháng 12). Kết quả là nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, khi tốc độ gió là 5m/s thì nước biển tăng cao 10cm. Khi tốc độ gió tới 10m/s thì nước biển tăng lên 20cm, nếu không có gió thì nước biển chỉ tăng 4cm. Nước mặn, lợ vào đến đâu thì các loài cây ngập mặn theo dòng nước vào sâu trong nội địa đến đó. Ví dụ, tại Quảng Trạch (Quảng Bình), gió mùa đông bắc đưa cát lấp dần các cửa sông khiến cho nước triều xuống rất chậm, nước mặn tràn vào ngấm vào các đồng ruộng, gây ảnh hưởng đến các hệ sinh thái nước ngọt. Nhiều đám cây ngập mặn được quan sát thấy mọc cả ở các kênh, mương, mép bờ đầm ruộng ở miền Trung (Nguyễn Văn Hải, 1995).


Ảnh hưởng của mực nước biển dâng
Tại Việt Nam, tác động của sự biến đổi mực nước biển đối với HST RNM ở từng vùng không giống nhau. Nguyên nhân chi phối tác động đó là tốc độ bồi đắp và điều kiện địa hình trong RNM ở từng khu vực khác nhau trước sự tăng của mực nước biển. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Hải và nnk, 1995, tác động của nước biển dâng tới HST RNM của Việt Nam có thể ở các dạng như ảnh hưởng lên sự bồi đắp phù sa và trầm tích vùng RNM, đẩy nhanh tốc độ xói lở vùng ven biển có RNM… Dưới tác động của BĐKH, gió mùa và bão sẽ xảy ra thường xuyên hơn, gây nên gió to, sóng lớn là mực nước biển dâng cao hơn và thường xuyên hơn, góp phần đẩy nhanh tốc độ xói lở bờ biển, nhiều khu RNM của Việt Nam đã bị chìm xuống biển như dải rừng suốt dọc phía đông mũi Cà Mau, làm mất nơi ở của nhiều loài động vật trong rừng và ở bãi triều, làm mất nơi đẻ của một số loài tôm, cá. Ở phía Nam một số cửa sông của khu vực ĐBSCL như cửa Hàm Luông, cửa Định An, cửa Trần Đề cũng có hiện tượng xói lở bờ biển và RNM do gió mùa đông bắc và nước biển dâng. Nhiều vùng cửa sông cũng bị xói lở từng mảng. Nước biển dâng cùng với gió mùa, bão, triều cường đã làm xói lở bờ biển, gây xói mòn nền đất RNM, lộ dễ cây, sạt lở bờ sông ở các vùng cửa sông, cuốn trôi cây ngập mặn. Ở phía Đông bán đảo Cà Mau, gió mùa Đông Bắc (gió chướng) cùng với triều cường đã làm xói lở hàng chục km từ Gành Hào xuống đến xóm Đất Mũi, mỗi năm có chỗ mất 20-30m chiều rộng như ở cửa sông Bồ Đề, Rạch Gốc, khu vực Khai Long… làm đổ các cây RNM, trong đó có nhiều mắm biển (Avicennia marina) đước, tràm, sú vẹt lâu năm.
Đồng thời, nước biển dâng đã tạo điều kiện cho cây ngập mặn lấn sâu vào nội địa và tiêu diệt các loại cây trồng khác. Đối với nước ta, mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn/các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất cả nước. Đây cũng là nơi sinh sống của các cộng đồng dân cư lâu đời (hiện có tỷ lệ đói nghèo cao), vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các khu bảo tồn thiên nhiên, sinh quyển. Đặc biệt là các hệ sinh thái rừng tràm tự nhiên, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển tại Đồng bằng sông Cửu Long - một vùng đất thấp và nhạy cảm với tác động của BĐKH. Tại đây có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn chim, sân chim... rất hấp dẫn cho du lịch sinh thái. Các hệ sinh thái rừng ngập mặn ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre... là những đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề từ BĐKH.
Triều cường đưa cát vào bờ làm cho nhiều loài cây ngập mặn có rễ thở trên mặt đất bị vùi lấp và cây chết đứng (Phan Nguyên Hồng, 1991). Nước biển dâng đã tạo điều kiện cho một số loài cây ngập mặn xâm lấn đất nội địa, đất sản xuất nông nghiệp từ đó ảnh hưởng đến sản lượng lương thực và đa dạng sinh học. Hiện tượng này đã được quan sát tại Quảng Bình và miền tây Nam Bộ. Số loài động thực vật nước ngọt biến mất và thay thế vào đó là các loài nước lợ. Nước biển dâng cũng ngăn cản sự bồi tụ các bãi triều, ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loài cây ngập mặn tiên phong như mắm, bần chua... Ví dụ tại Quảng Ninh, trận bão năm 1995 đã phá vỡ đê biển, cả đảo Hà Nam (huyện Yên Hưng) gồm 7 xã chìm ngập trong nước mặn do nước dâng, sóng lớn. Chỉ sau một thời gian ngắn nơi đất nông nghiệp bị nhiễm mặn, các loài sú (Aegiceras cprmiculatum), mắm biển (Avicennia marima), đước đôi (Rhizophora apiculata), trang (Kandelis scandel) đến chiếm đất. Nhân dân Yên Hưng đã phải lao động rất vất vả nhiều năm mới khắc phục được hậu quả, rửa mặn cho đất nông nghiệp để canh tác (Nguyễn Văn Hải và nnk, 1995).



Ảnh hưởng của bão
Bão cũng là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng nước biển dâng và gây tác động đến HST RNM. Với tần suất bão lớn (hàng năm có từ 5 -10 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào vùng bờ), hầu như năm nào Việt Nam cũng phải hứng chịu nước dâng do bão. Nước dâng lớn thường xảy ra tại các vùng miền Trung: ở dải ven bờ Nghệ An đã đo được nước dâng do bão trên 3,2m; dải ven bờ từ Thừa Thiên Huế trở vào Nam Trung Bộ, nước dâng đo được thay đổi trong khoảng 2,5 – 3m; dải ven biển Nam Bộ có những đặc thù riêng về đường bờ, kênh rạch và hệ thống rừng ngập mặn, nước dâng cũng đã đo được từ 1m tới 2,5m.
Do tác động của BĐKH bão lũ ngày càng xuất hiện với tần xuất lớn hơn và mức độ mạnh hơn đã gây ảnh hưởng lớn đến các hệ sinh thái đất ngập nước đặc biệt là các khu rừng ngập mặn trong các đầm phá ven biển hoặc bãi bồi phù sa. Nhìn chung, RNM thường không thể phát triển được ở những nơi chịu tác động trực tiếp theo chu kỳ năm của bão. Những cơn bão lớn xuất hiện hàng năm vào các tỉnh ven biển với tần xuất và cường độ ngày càng khốc liệt hơn do tác động của BĐKH đã làm vỡ đê biển, phá huỷ các RNM tự nhiên hoặc trồng để bảo vệ đê, phá huỷ môi trường sống của nhiều loài tôm cá biển cũng như chim nước. Nước biển dâng cao nhất trong những ngày có mưa bão kết hợp triều cường, có khi lên tới 5-8 m gây ra thiệt hại to lớn về tài sản của cộng đồng ven biển, làm cho bờ biển bị xói lở, kể cả những vùng có các dải rừng ngập mặn phòng hộ. Sóng to, mưa lớn làm cho cây bị gãy cành, rụng hoa quả và cuốn trôi nhiều cây con ra biển. Ví dụ cơn bão số 6 ngày 17/8/1991 đã cuốn trôi hơn 70% số cây ngập mặn mới trồng ở một số xã huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Bão và triều cường còn đưa cát vào bờ, làm cho các loài cây ngập mặn có rễ thở trên mặt đất bị vùi lấp và chết đứng. Nước biển dâng tạo điều kiện cho một số loài cây ngập mặn xâm lấn nội địa, giảm diện tích sản xuất nông nghiệp (như ở Quảng Bình và miền Tây Nam Bộ). Nhiều loài động thực vật nước ngọt biến mất và thay vào đó là các loài nước lợ. Nước biển dâng cũng ngăn cản sự bồi tụ của các bãi triều, ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loài cây ngập mặn tiên phong như mắm, bần chua. Tại Tp.Hồ Chí Minh, trong thời gian gần đây triều cường gây ngập nhiều khu dân cư trong đó có nguyên nhân là hầu hết các kênh rạch có những dải dừa nước và nhiều loài cây ngập mặn khác như bần, mắm, su trang ở các quận Nhà Bè, Phú Xuân, Bình Chánh bị chặt phá và lấp đất để xây dựng.


Ảnh hưởng lên nghề cá trong và xung quanh các khu vực rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn cùng với 2 hệ sinh thái biển – ven biển nhiệt đới điển hình (rạn san hô và thảm cỏ biển) quyết định phần lớn năng suất sơ cấp của toàn vùng biển. Có thể nói, rừng ngập mặn chính là cái nôi của nghề cá ven bờ (cả khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven bờ). Phần lớn các hoạt động của nghề cá (cả khai thác và nuôi trồng) được thực hiện ở vùng ven bờ đều có liên quan đến HST rừng ngập mặn. Xét trên tổng thể ngành thuỷ sản, theo ước tính khoảng gần 50% sản lượng tôm sú thu được của ngành là được nuôi và khai thác có liên quan đến rừng ngập mặn. Liên quan đến người nghèo, thu nhặt cua, ốc, cá, tôm từ rừng ngập mặn chính là nguồn thu nhập chính của họ. Ví dụ, cua biển là một loại hải sản có giá trị kinh tế cao, có mối quan hệ mật thiết với RNM, hầu hết vòng đời của cua biển sống trong RNM. Trong khoảng thời gian từ tháng 8-11 hàng năm, ấu trùng cua biển từ biển vào RNM để sinh trưởng. RNM chính là cá nôi che chở cho ấu trùng cua biển sinh trưởng và phát triển. Chính vì vậy, tại vùng ven biển các huyện Tiền Hải (Thái Bình), Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ (Nam Định), đầu những năm 1990s, khi một số diện tích RNM bị mất đi do nhiều lý do (do tác động của con người chuyển mục đích sử dụng RNM sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc tác động của BĐKH gây ảnh hưởng đến sự phát triển và mở rộng của RNM), nguồn lợi giống cua biển đã bị mất. Nhiều người dân địa phương đã từng sống phụ thuộc vào nguồn lợi cua biển giống trong RNM bị ảnh hưởng đáng kể đến sinh kế và thu nhập, họ đã phải chuyển đổi sang nhiều nghề khác nhau. Đồng thời nguồn lợi cua giống trong RNM khan hiếm đã đẩy giá cua biển giống lên cao tại địa phương, gây ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cua trong khu vực. Các nghề khai thác hải sản truyền thống liên quan đến RNM như nghề sẻo, soi, đăng, đáy, câu, vó, xúc thủ công, sáo, nò, bắt tay… cũng bị mai một do không còn rừng ngập mặn và nguồn lợi đi kèm theo RNM để hoạt động.
Ngoài ra, cùng với việc diện tích rừng bị suy giảm do nước biển dâng, RNM còn bị phá huỷ làm đầm nuôi tôm, việc đào mương dẫn nước vào vùng đầm đã đã ảnh hưởng đến môi trường sống của chim ở trong vùng lõi, một số cây là nơi làm tổ chết, chim không đủ lượng nước ngọt để uống, nhiều loài chim và một số loài bò sát cũng biến mất
Các hoạt động của máy bơm sục khí đã tác động đến đời sống của chim non, do chim bố mẹ không kiếm đủ lượng thức ăn cần thiết.
Ở những nơi RNM bị phá huỷ, hiện tượng tích tụ chất bảo vệ thực vật trong thuỷ sản nuôi tăng cao; ví dụ trong cơ thể động vật thân mềm ở khu vực Ba Lạt hàm lượng chất bảo vệ thực vật lên tới 75,263 mg/g, ở ngao (Meretrix meretrix) là 68,18 mg/g, ngó (Cyclima sinensis) là 166,95 mg/g.
Các hoá chất, chất thải từ các trang trại nuôi tôm đã phá huỷ chu trình dinh dưỡng trong RNM cũng như các hệ sinh thái lân cận dẫn đến phản ứng dây truyền khiến cho nhiều loài động vật, hải sản trong các hệ sinh thái này giảm sút.
Do mất RNM số lượng sinh vật phù du và sinh vật đáy làm thức ăn cho các loài thuỷ sản giảm đáng kể, dẫn đến tình trạng giảm sút năng suất tôm nuôi theo hình thức quảng canh: năm 1980 là 200 – 250 kg/ha/vụ, đến 2001 chỉ còn 70 – 80 kg/ha/vụ. Theo ước tính cứ 1 ha RNM trước đây có thể khai thác được từ 700 – 1000 kg thuỷ sản, nhưng hiện nay chỉ thu được 1/20 so với trước đây.
Mưa lớn và tập trung trong thời gian ngắn cũng gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến nguồn lợi sinh vật sống trong các rừng ngập mặn, đặc biệt là các động vật nổi ở vùng cửa sông và vùng nước lợ. Nghiên cứu đã cho thấy những trận mưa lớn ở Vũng Tàu và Hà Tĩnh tháng 8 năm 1992 đã làm độ mặn thay đổi đột ngột và làm cho cho tôm sú trong các đầm và một số sinh vật nổi ở vùng rừng ngập mặn cửa sông chết hàng loạt, gây ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập và đời sống của các cộng đồng dân cư nuôi trồng thuỷ sản và khai thác nguồn lợi quy mô nhỏ ở các vùng ngập mặn cửa sông (Nguyễn Văn Hải và nnk, 1995).
Hiện tượng gió mùa tây nam khô nóng xuất hiện với tần suất dầy hơn và thời gian xuất hiện dài hơn như là một hệ quả của BĐKH cũng đã gây nhiều thiệt hại về nguồn lợi và nghề cá trong RNM ven sông nước lợ ở khu vực Bắc Trung bộ, nhất là vào thời kỳ có nước triều kém trong các tháng 6-8 hàng năm. Ở thời điểm này, độ mặn trong đất RNM lên rất cao (4-4,5%) ảnh hưởng đến cả thực vật và các sinh vật đáy như thân mềm, giun nhiều tơ. Các đối tượng này bị chết hoặc phải di cư, gây ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn tự nhiên cho các đối tượng hải sản tôm, cua, ghẹ, cá nước lợ trong RNM, gây suy giảm năng xuất sinh học và năng suất khai thác của các cộng đồng dân cư địa phương sống phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ sản trong RNM. Theo Nguyễn Văn Hải, 1995 quan sát nhiều đầm nuôi tôm ở Hồng Hà (Hà Tĩnh) vào tháng 7/1991, sau 3 ngày có gió Lào (gió mùa tây nam), mặt nước trong đầm còn 0,3m, nhiệt độ nước buổi trưa lên đến 37,50C, độ mặn 3,7%0. Vào những ngày này tôm trong đầm hầu như không ăn và hoạt động rất ít, một số không lột xác được, một số ít tôm bị chết lấp trong bùn ao.
Mực nước biển dâng sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nuôi trồng thuỷ sản của các vùng ven biển Việt Nam, làm cho tình trạng xâm mặn ở các vùng ven biển ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Nó đã trở thành một trong những vấn đề nan giải tại nhiều địa phương ven biển. Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông Cửu Long với 1,77 triệu ha đất nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích và đây là địa phương có diện tích đất nhiễm mặn lớn nhất. Nếu mực nước biển sẽ tiếp tục dâng cao lên 30cm theo kịch bản BĐKH năm 2050, khoảng 50% các khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng. Nước mặn xâm nhập sâu vào nội địa, tiêu diệt nhiều loài sinh vật nước ngọt. 36 khu bảo tồn trong đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong diện tích bị ngập (Võ Quý, 2008). Đây chính là những cái nôi của nguồn lợi thuỷ sản, là nơi mà nguồn lợi tự nhiên, trong đó có nguồn lợi thuỷ sản được bảo tồn, sinh sôi và phát tán ra các vùng nước xung quanh. Điều này sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nghề khai thác thuỷ sản nội địa và ven biển thủ công (như đăng, đó, sáo, nò, súc thủ công) và một số nghề khai thác ven bờ quy mô nhỏ như câu, rê. Đây là những nghề phần lớn được thực hiện bởi những cộng đồng ngư dân nghèo. Đồng thời nguồn lợi giống tự nhiên cung cấp cho việc nuôi nhiều đối tượng nuôi khác nhau cũng sẽ bị ảnh hưởng, đẩy giá giống lên cao do tình trạng khan hiếm nguồn cung.
Ngoài ra, nếu mực nước biển dâng cao, các trại nuôi trồng thuỷ sản phải di dời và xâm mặn, diện tích rừng ngập mặn giảm sẽ làm mất nơi cư trú của các sinh vật nước ngọt. Theo kịch bản về nước biển dâng của Việt Nam (mức trung bình – B2), nếu mực nước biển tăng lên 75cm vào năm 2100 (MONRE, 2009) và các hệ thống đê không được cải thiện cao hơn bây giờ thì khoảng 500.000ha đất (đồng bằng sông Hồng) và 1.500.000-2.000.000 ha (đồng bằng sông Cửu Long) sẽ bị ngập triều và vùng đất bị nhiễm mặn ước tính vào khoảng 2.200.000 – 2.500.000 ha. Ngoài 400.000ha đầm lầy và rừng ngập măn, sẽ có 250.000ha rừng ngập mặn bị ngập hoàn toàn. 100.000 ha nuôi trồng thủy sản sẽ bị chuyển thành khu vực nuôi trong rừng ngập mặn và hơn 217.000ha rừng melaleuca ở khu vực thấp sẽ bị nhiễm mặn vì khu vực này không có đê (RIMF, 2008).
Tuy địa hình ở miền Bắc cao hơn ở Nam Bộ, có thể nhiều vùng không bị ngập khi nước biển dâng cao tới 1m nhưng ở các đầm hồ ở trong đất liền sẽ bị nhiễm mặn do các tầng nước ngầm bị ảnh hưởng của nước biển dâng. Lớp địa tầng đá vôi ngấm nước sâu rộng sẽ khiến cho sự xâm thực nước mặn trở nên rộng và vào sâu tới những vùng đất trũng như khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, các vùng đất có núi đá vôi ở Gia Viễn (Nho Quan, Ninh Bình) và một số nơi khác. Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu tới đa dạng sinh học, nhiều loài có ý nghĩa kinh tế và khoa học chết hoặc di cư, mất nguồn cung cấp thực phẩm. Các vùng nước ngọt giảm sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nước trong sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản (RIMF, 2008).
Tuy nhiên khi xét ở một khía cạnh khác, khi nước biển dâng, diện tích biển của chúng ta sẽ có nhiều hơn, điều đó có nghĩa là diện tích nuôi trồng thủy sản mặn, lợ có thể được mở rộng. Tuy nhiên, lợi ích của hiện tượng này cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản nước lợ là không lớn do môi trường nước tại những khu vực này thường là đã bị suy thoái nên cũng khó có thể sử dụng cho các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản một cách hiệu quả nếu không có các giải pháp tốn kém để xử lý và cải tạo môi trường nước. Hơn nữa những thiệt hại mà mực nước biển dâng gây ra đối với đời sống kinh tế xã hội và sự phát triển của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản còn lớn hơn rất nhiều so với lợi ích từ việc mở rộng các diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ này…

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Hải và nnk, 1995. Đánh giá hệ quả sinh thái kinh tế do biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Đề tài phân tích và đánh giá hệ quả sinh thái kinh tế do biến đổi khí hậu ở Việt Nam (PT02-12). Báo cáo tổng kết tập II.
2. MONRE (Bộ Tài nguyên và Môi trường), 2009. Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam.
3. Phan Nguyên Hồng, 1991. Sinh thái thảm thực vật RNM Việt Nam. Luận án tiến sĩ khoa học sinh học.
4. RIMF (Viện Nghiên cứu hải sản Hải Phòng), 2009. Đánh giá tác động, tổn hại của BĐKH đến lĩnh vực thủy sản và nghiên cứu, đề xuất các biện pháp thích ứng với BĐKH trong ngành thủy sản Việt Nam. Nghiên cứu chuyên đề của dự án: “Việt Nam: Chuẩn bị thông báo quốc gia lần thứ hai cho UNFCCC”.
5. Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản, 2009. Tác động của biến đổi khí hậu tới nghề cá quy mô nhỏ ven bờ ở Việt Nam và biện pháp thích ứng. Nghiên cứu chuyên đề của dự án “Tăng cường năng lực cho Cơ quan đầu mối quốc gia về biến đổi khí hậu ở Việt Nam (CD4FFCP)”.
6. Võ Quý, 2008. Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học. Hội thảo BĐKH toàn cầu và biến đổi khí hậu của Việt Nam. Hội thảo BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam, Hà Nội, 26-29/2/2008.
Nguồn: http://www.vifep.com.vn

Hiểm họa của biến đổi khí hậu đối với VN và nhìn từ VN

Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã chứng kiến và các nhà khoa học trên khắp thế giới đã liên tục báo động về những biến động bất thường của khí hậu toàn cầu.
Hiem hoa cua bien doi khi hau doi voi VN va nhin tu VN
Người dân chống chọi với mưa lũ
Hiện tượng bề mặt địa cầu, trước hết là khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên, làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang đặt ra nhiều hệ lụy đối với đời sống loài người và sinh quyển của trái đất.
Các công tác nghiên cứu quy mô toàn cầu đã được các nhà khoa học ở các trung tâm nổi tiếng trên thế giới thúc đẩy từ đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX.
Hội nghị quốc tế do Liên Hiệp Quốc triệu tập đã được tổ chức tại Jio de Janero năm 1992. Hội nghị đã thông qua một hiệp định khung và một chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển trái đất, được coi là nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng hiểm họa.
Tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc (IPCC) đã được thành lập, thu hút sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học quốc tế.
Nhiều hội thảo và báo cáo đã được tổ chức và công bố. Tại hội nghị Kyoto năm 1997, một nghị định thư quốc tế (Nghị định thư Kyoto) đã được thông qua. Đến đầu tháng 2/2005, Nghị định thư đã được nguyên thủ 165 quốc gia phê chuẩn và bắt đầu có hiệu lực từ 10/2/2005.
Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư Kyoto ngày 25/9/2005. Mới đây, hội nghị lần thứ 12 của 159 nước tham gia hiệp định khung về khí hậu, phiên họp thứ 2 của các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã được Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Nairobi, thủ đô Kênya.
Bài viết này đề cập đến các mối liên quan giữa nhiệt độ bề mặt địa cầu không ngừng gia tăng, băng tan nhanh ở hai địa cực và trên đỉnh các dãy núi cao, mực nước biển không ngừng dâng cao là tuyến chủ đạo đang được dư luận quốc tế quan tâm đặc biệt.
Các báo cáo của IPCC và nhiều trung tâm nghiên cứu có uy tín hàng đầu trên thế giới công bố trong thời gian gần đây cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin và dự báo quan trọng:
- Các số liệu đo đạc và nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trung bình trên bề mặt địa cầu ấm lên gần 10C kể từ 1920 đến 2005, tăng nhanh nhất trong khoảng từ 1980 đến nay (mức tăng từ 0,20C đến 10C)
- Băng vĩnh cửu ở hai đầu địa cực và các dãy núi cao tan nhanh một cách đáng kinh ngạc. Thử điểm một vài tin chính:
- ở Nam cực, tháng 3/2002 khối băng 500 tỷ tấn tan rã thành hàng ngàn mảnh ngay trước mắt các nhà khoa học…
- Ở Bắc cực, băng tan đạt mức kỷ lục. Mùa hè 2002, lượng băng tan ở Greenland cao gấp đôi so với 1992, diện tích băng tan đã lên tới 655.000km2. Hơn 110 sông băng và những cánh đồng băng vĩnh cửu ở bang Montana đã biến mất trong vòng 100 năm qua…
- Các sông băng sẽ hầu như biến mất khỏi dãy Alpes vào năm 2050 (nếu độ tan chảy duy trì như hiện nay). Hè 2002 một khối băng 3,5 triệu tấn tách ra gây lũ băng từ dãy núi Mali trên đỉnh Capcadơ thuộc Nga. Kể từ 1991-2004 số băng tan ở châu Âu gấp đôi so với 30 năm trước (1961-1990)…
- Các số liệu quan trắc mực nước biển thế giới cho thấy mức tăng trung bình trong vòng 50-100 năm qua là 1,8mm/năm. Trong12 năm qua các số liệu đo đạc của vệ tinh NASA thấy xu thế biển dâng đang gia tăng nhanh. Mức tăng trung bình trong 12 năm qua là 3mm/năm.
Các nhà khoa học trên thế giới gần như nhất trí khẳng định các sự kiện cũng như chiều hướng phát triển của các sự kiện nêu trên. Tuy nhiên, khi bàn về nguyên nhân và dự báo cho tương lai sắp tới còn có những luận giải ít nhiều khác nhau.
Băng vĩnh cửu tan chảy vào đại dương cũng như việc tăng thể tích nước do thủy quyển ấm lên là nguyên nhân làm tăng mực nước đại dương (theo tính toán của các nhà khoa học mức tác động của 2 yếu tố trên là xấp xỉ nhau). Băng vĩnh cửu tan cũng là do nhiệt độ bề mặt trái đất ấm nóng lên. Tuy nhiên, do nguyên nhân nào mà nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên, thậm chí tăng nhanh?
Loại ý kiến thứ nhất, được đại đa số các nhà khoa học tham gia các chương trình nghiên cứu chỉ rõ mối quan hệ giữa việc tăng nhiệt độ bề mặt địa cầu với việc tăng hàm lượng khí CO2 và các loại khí thải tạo hiệu ứng nhà kính do hoạt động con người gây ra trong bầu khí quyển trái đất.
Nguyên nhân này chịu trách nhiệm đến 90% thậm chí 99% mức gia tăng của nhiệt độ bề mặt trái đất đang được báo động. Loại ý kiến thứ hai, ít hơn, tuy thừa nhận vấn đề gia tăng nhiệt độ do hiệu ứng nhà kính song cho rằng mức độ tác động của vấn đề khí thải nhân tạo không quá nghiêm trọng. Hiện tượng nhiệt độ bề mặt trái đất nóng lên và lạnh đi là hiện tượng tự nhiên đã xảy ra có tính chu kỳ trong lịch sử hình thành và phát triển của trái đất.
Tôi cho rằng, các nhà khoa học Việt Nam có thể và cần được tổ chức tham gia nghiên cứu vấn đề hệ trọng này. Rõ ràng, mối liên quan giữa quá trình gia tăng hàm lượng CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính do con người gây ra với sự gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất đã được minh chứng theo các số liệu mấy thế kỷ và nhất là trong vài thập kỷ gần đây.
Nhiệt độ bề mặt trái đất có được là nhờ hấp thụ nhiệt từ mặt trời và nhận dòng nhiệt của chính mình tỏa ra từ bên trong lòng quả đất. Sự có mặt của một hàm lượng khí CO2 cần thiết trong bầu khí quyển vốn là tấm áo giáp ngăn chặn bức xạ nhiệt (bức xạ hồng ngoại) từ trái đất.
Thoát vào vũ trụ mênh mông lạnh lẽo. Thiếu nó thì mặt đất sẽ không có được một nhiệt độ điều hòa cho sự sinh sôi phát triển sự sống. Các công trình nghiên cứu, ngày càng áp dụng các công nghệ hiện đại cho chúng ta biết suốt thiên niên kỷ trước khi có cuộc cách mạng công nghiệp, hàm lượng CO2 trong khí quyển vẫn cân bằng ở mức 280 phần triệu (ppm). Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XIX đến nay hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng nhanh và liên tục đến 360 ppm.
Số liệu quan trắc trong 4 thập kỷ gần đây cho thấy cứ mỗi thập kỷ, hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng 4%. Nói cách khác, hiệu ứng nhà khí do khí CO2 gây ra là quá mức cần thiết, gây tăng nhanh nhiệt độ bề mặt địa cầu kéo theo nhiều hệ lụy như đã nêu trên. Tôi cho rằng, những cứ liệu và luận giải đã được nêu ra là đầy sức thuyết phục. Điều đáng tiếc là cho đến nay, Hoa Kỳ là nước xả khí thải nhà kính nhiều nhất vào khí quyển (trên 30% tổng khí thải công nghiệp) đã chưa phê chuẩn Nghị định thư Kyoto.
Mặt khác, tôi cho rằng không thể và không nên đối lập giữa hai cách luận giải. Cần phải tính đến vận động tự thân của quả đất, sự thoát nhiệt từ bên trong quả đất (vốn có nhiệt độ rất cao lên tới hàng ngàn độ C) lên bề mặt trái đất. Các nhà địa chất khắp thế giới đều hiểu rõ quá trình này.
Trong lịch sử xa xôi hàng trăm, ngàn triệu năm trái đất đã trải qua những biến động kiến tạo dữ dội với sự trao đổi năng lượng – nhiệt độ khổng lồ giữa các lớp dung nham bên trong và lớp vỏ thạch quyển, thủy quyển, khí quyển trên mặt: làm dung nham trào và phun ra ngoài; làm hình thành, chia tách, xô đẩy, xoay chuyển các lục địa và mảng lục địa; Làm biến mất các đại dương cổ, xuất hiện đại dương mới; tạo các dãy núi cao, hẻm vực sâu ở đại dương và trên lục địa v.v…
Gần ngày nay nhất, Kỷ Đệ tứ (từ năm triệu năm đến nay) được coi là thời kỳ tương đối yên tĩnh song các vận động của quả đất cũng đã trải qua nhiều thời kỳ biến động lớn khí hậu bề mặt địa cầu. Tính từ 1,6 triệu năm đến nay đã có 5-6 chu kỳ biến động lớn.
Đó là các thời kỳ băng hà kéo theo mực nước biển hạ thấp (biển lùi) và các thời kỳ gian băng (băng tan) kéo theo mực nước biển dâng cao (biển tiến). Vào các thời kỳ băng hà nhiệt độ bề mặt trái đất khô lạnh.
Vào các thời kỳ gian băng nhiệt độ bề mặt trái đất đan xen giữa nóng ẩm và khô hạn. Vào các thời kỳ đó, biên độ giao động của mực nước biển (dâng, hạ) lên đến hàng chục, hàng trăm mét. Mỗi chu kỳ kéo dài hàng vạn, chục vạn năm. Mỗi chu kỳ như vậy còn được chia ra các chu kỳ ngắn hơn với thời gian kéo dài nhiều trăm năm đến nghìn năm với biên độ giao động mực nước biển 2-3 mét hoặc hơn. Các chu kỳ biến động không phải đều đặn liên tục mà có những thời đoạn ngừng nghỉ hoặc đột biến.
Việt Nam và nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á với vị trí địa lý của mình, không phải làvùng có băng vĩnh cửu kể cả trong hiện tại và quá khứ song cũng là vùng chịu tác động của các thời kỳ băng hà, gian băng với các dấu tích của biển lùi, biển tiến, và biến động khí hậu lớn có tính toàn cầu khá rõ rệt.
Trong thế kỷ XX, nhất là trong nửa cuối thế kỷ XX hàng loạt các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam, các nước trong khu vực và quốc tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là địa chất học, khảo cổ học, hải dương học, cổ sinh vật học… về Kỷ Đệ tứ đã đưa ra nhiều kết luận quan trọng về những vấn đề nêu trên. Nhưng kết luận rất đáng chú ý là:
- Thời kỳ băng hà cuối cùng của địa cầu trong Kỷ Đệ tứ- băng hà Uôc 2 (Wurm 2) đạt đỉnh cao cách đây khoảng 18.000 năm. Thời đó, biển lùi xa về phía biển Đông. Dấu vết đường bờ biển thời đó hiện nằm ở độ sâu 100-120m so với mực nước biển hiện tại trên thềm lục địa. Thời đó toàn bộ vùng vịnh Bắc Bộ và thêm Sunda (nối liền Nam bộ Việt Nam với Indonesia), Vịnh Thái Lan còn là đất liền.
- Thời kỳ gian băng lớn nhất gần ngày nay (thời kỳ biển tiến Flandrian) diễn ra vào khoảng 6.000 – 4.000 năm trước đây. Vào thời kỳ này mực nước biển dâng cao hơn 4 –5 m so với mực nước biển hiện tại. Vào thời đó vịnh Hạ Long và vịnh Thái Lan mới bị ngập nước như ngày nay.
Biển còn lấn sâu và phủ trùm gần như toàn bộ đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long cũng như các đồng bằng châu thổ các sông ven biển miền trung Việt Nam. Các đồng bằng này như chúng ta thấy được ngày nay chỉ được hình thành và được con người chiếm lĩnh, khai thác dần khi biển rút bắt đầu từ khoảng 4.500 năm đến nay.
-Những tài liệu nghiên cứu chi tiết về địa chất học và khảo cổ học còn cho biết, từ cách đây 4.000 năm đến nay, xu hướng chung là biển lùi song vẫn có một số chu kỳ tiến, lùi với biên độ giao động mực nước biển 2 – 3 m vào khoảng trước 3.000 năm, trước 2.000 năm, sát trước và sau công nguyên. Thời đoạn từ 1.000 – 1.200 năm sau công nguyên đến nay, toàn vùng đang nằm trong chu trình biển tiến.
- Có thời đoạn có dấu hiệu của biển dâng đột biến khiến cư dân tiền sử phải dịch chuyển địa bàn cư trú không bình thường, rõ nhất là ở khoảng giao thời hậu kỳ đá mới sang sơ kỳ kim khí ở ven rìa đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Mã, ở ven biển cũng như ở ven đồng bằng sông Cửu Long.
Những điều trình bày sơ lược trên đây cho thấy nếu theo chu kỳ biển tiến, biển lùi với biên độ thời gian khoảng 800 - 1.000 năm thì hiện tại chúng ta đang ở đoạn cuối của chu kỳ biển tiến hiện đại, không loại trừ tốc độ sẽ nhanh lên hoặc có đột biến.
Như vậy, mực nước biển dâng đang xảy ra nằm trong chu trình chung của biển tiến cộng thêm tác động nhanh do hiệu ứng nhà kính gây ra chỉ càng làm chúng ta phải nhìn nhận vấn đề một cách cảnh giác hơn, chứ không phải ngược lại. Dù nguyên nhân nào thì việc nhận thức được để có kế hoạch ứng phó vì sự tồn tại và phát triển bền vững cho mỗi quốc gia dân tộc cũng như cho toàn nhân loại là điều con người có thể và phải làm được.

Theo báo cáo của IPCC: Đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ bề mặt trái đất sẽ tăng thêm từ 1,4 đến 4oC, mực nước biển sẽ dâng thêm từ 28-43cm.
Hiem hoa cua bien doi khi hau toan cau doi voi VN va nhin tu VN ky 2
Hiện tượng ngập úng vùng đồng bằng châu thổ mở rộng vào mùa mưa lũ
Báo cáo của IPCC do hàng chục nhà khoa học soạn thảo và ý kiến tham gia của hơn 2.000 nhà khoa học từ 130 quốc gia.
Nhiều nhà khoa học cho những dự báo trên là còn bảo thủ do phải đạt sự đồng thuận của đại diện 130 quốc gia.
Họ đưa ra những dự báo mực nước biển dâng có thể nhanh và cao hơn nhiều, nhất là các nhà nghiên cứu về băng hà trước thảm họa tan băng đang xảy ra với tốc độ đáng kinh ngạc trong thời gian gần đây.
Bà Susmita Dagupta, chuyên gia kinh tế, đồng tác giả của báo cáo “Ảnh hưởng khi mực nước biển tăng lên ở các nước phát triển; phân tích so sánh” do Ngân hàng thế giới công bố hồi đầu năm nay cho biết: Mực nước biển chỉ cần dâng thêm 1m thì sẽ gây hiểm họa lớn đối với các nước có vùng dân cư và đời sống kinh tế tập trung ở các vùng đồng bằng thấp, dọc ven biển.
Việt Nam là một trong những nước sẽ bị tác động lớn khi đó sẽ có đến 10,8% dân số Việt Nam bị tác động nặng nề do có hai đồng bằng thấp chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.
Nhà địa lý học Richard Alley ở Đại học Pensylvania, Hoa Kỳ nói: Chỉ cần 15% lớp băng ở Greenland bị tan ra cũng tạo ra một khối nước mới trong các đại dương đủ để làm ngập tiểu bang Florida của Hoa Kỳ và nhiều vùng duyên hải khác trên thế giới.
Mới đây, ông Mark Lowcok, quan chức của Bộ Phát triển quốc tế Anh đã đến thăm Việt Nam và có buổi thuyết trình về “báo cáo Stern” do các nhà khoa học Anh xây dựng, được Chính phủ Anh công bố về vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu.
Báo cáo cho rằng nếu không thực hiện được chương trình hành động giảm khí thải nhà kính theo Nghị định thư Kyoto, đến năm 2035 nhiệt độ bề mặt địa cầu sẽ tăng thêm 2oC. Về dài hạn, có hơn 50% khả năng nhiệt độ sẽ tăng thêm 5oC.
Việt Nam, một nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, nằm trong nhóm nước dễ bị tổn thương bởi các vấn đề môi trường do biến đổi khí hậu gây ra như lũ lụt, hạn hán, bão… bên cạnh đó, với bờ biển dài, vấn đề mực nước biển dâng cao có thể làm mất 12,2% diện tích đất của Việt Nam và đe dọa tới chỗ sinh sống của 17 triệu người. Chính phủ Anh dự định sẽ hỗ trợ tích cực để giúp Việt Nam thiết kế các chính sách ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu.
Về phía Việt Nam chúng ta thấy gì và nghĩ gì về những hiểm họa này trước thực tế và thực tiễn Việt Nam?
Tôi cho rằng những biến động thời tiết bất thường gây thiệt hại lớn cho đời sống dân cư và đất nước mà chúng ta thường gọi là thiên tai cần được nghiên cứu, xem xét theo hướng có sự báo động toàn cầu về gia tăng nhiệt độ bề mặt trái đất và mực nước biển ngày càng dâng cao:
- Nhiệt độ khí quyển và thủy quyển tăng lên kéo theo những biến động khác thường (hiện tượng El Nino) làm cho chế độ thời tiết gió mùa bị xáo động bất thường: bão có xu hướng gia tăng về cường độ, bất thường về thời gian và hướng dịch chuyển, thời tiết mùa đông nói chung ấm lên, mùa hè nóng thêm. Xuất hiện bão, lũ và khô hạn bất thường.
- Hiện tượng ngập úng vùng đồng bằng châu thổ mở rộng vào mùa mưa lũ, các dòng sông tăng cường xâm thực ngang gây sạt lở lớn các vùng dân cư tập trung ở 2 bờ trên nhiều khu vực từ Bắc chí Nam.
Hiện tượng này cũng đồng thời tạo cồn, bãi bồi lấp dòng chảy các sông, nhánh sông ở vùng hạ du; ở những sông đã xây dựng hệ thống đê kiên cố thì có hiện tượng bồi lấp ngay chính dòng sông cũng như tuyến khống chế giữa hai bờ đê, tạo nên thế địa hình ngược: những dòng sông nổi cao hơn cả đồng bằng hai bên sông.
Vào mùa khô, hiện tượng phổ biến là nước triều tác động ngày càng sâu về phía trung du, hiện tượng nhiễm mặn ngày càng tiến sâu vào lục địa.
- Ở vùng ven biển đã thấy rõ hiện tượng vùng ngập triều cửa sông mở rộng hình phễu (hiện tượng Estuary) trên những diện rộng nhất là ở hạ du các hệ thống sông nghèo phù sa. Rõ nhất là ở vùng hạ du hệ thống sông Thái Bình – Bạch Đằng, ở vùng ven biển Hải Phòng, Quảng Ninh và hệ thống sông Đồng Nai ở vùng ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh.
Vào mùa khô, các nhánh sông và dòng sông ở các khu vực này đã không thể đóng vai trò lưu thoát nước về phía biển, biến thành những dòng sông, kênh tù đọng với mức độ ô nhiễm nhân tạo gây nguy hại cho đời sống của những vùng dân cư đông đảo (thuộc diện này có thể kể đến cả vùng rộng lớn thuộc các lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy, sông Châu Giang, ở phía tây nam Hà Nội và các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình.
- Hiện tượng sạt lở bờ biển trên nhiều đoạn kéo dài hàng chục, hàng trăm km với tốc độ phá hủy bờ sâu vào đất liền hàng chục, thậm chí hàng trăm mét là hiện tượng xảy ra thường xuyên trong nhiều năm gần đây, liên quan đến sự tàn phá do gia tăng bão, sóng lớn và sự thay đổi của động lực biển ở đôi bờ.
- Hiện tượng hình thành các cồn cát chắn và tái trầm tích bồi lấp luồng vào các cửa sông gây trở ngại lớn cho hoạt động vận tải ra vào các cảng biển khiến cho những công trình nạo vét rất tốn kém đều nhanh chóng bị vô hiệu.
Cần lưu ý rằng các hiện tượng như đã nêu trên xảy ra còn có tác động của nhiều yếu tố như lượng nước và phù sa của các lưu vực sông; hoạt động nâng, hạ của kiến tạo địa chất hiện đại; tác động bất thuận chiều của các công trình nhân tạo v.v… Vì vậy, càng rất cần được chú trọng nghiên cứu, xem xét.
Việt Nam cần làm gì để ứng phó với hiểm họa đang được báo động? Rất nhiều việc có tầm vóc và quy mô to lớn vừa trước mắt vừa lâu dài cần được tính đến:
Trước hết Việt Nam cần tham gia một cách chủ động và tích cực hơn vào các chương trình do Liên Hiệp Quốc chủ trì về biến đổi khí hậu toàn cầu. Các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và quy hoạch, chiến lược phát triển cần được tổ chức và huy động tham gia một chương trình nghiên cứu cấp quốc gia.
Nhà nước cần đầu tư thích đáng cho chương trình này. Chương trình cần được kết nối với các chương trình quốc tế và khu vực để có thể tiếp nhận thành quả nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu có uy tín trên thế giới, tiếp nhận sự trợ giúp quốc tế.
Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu thực tế và thực tiễn Việt Nam có thể đóng góp vào các vấn đề đang được các tổ chức quốc tế bàn luận. Các vị lãnh đạo cao cấp nước ta cần giành thời gian, chủ động tham gia các hội nghị quốc tế do Liên Hiệp Quốc chủ trì về vấn đề này. Việc tham gia của chúng ta trong thời gian qua rõ ràng là còn thụ động.
Chương trình quốc gia về biến động khí hậu toàn cầu tác động vào Việt Nam cần tổ chức nghiên cứu, rà soát, kiểm định lại những kết quả nghiên cứu đã có từ trước đến nay, thực hiện một số đề tài nghiên cứu có mục tiêu nhằm hướng tới những kết luận khoa học tin cậy, dự báo được chiều hướng biến động cả trước mắt cũng như ở tầm trung hạn, dài hạn (trung hạn và dài hạn hiểu theo nghĩa tính bằng thập kỷ và thế kỷ).
Các kết luận khoa học phải trở thành cơ sở cho việc hoạch định các quy hoạch, chiến lược và chính sách vì sự nghiệp phát triển bền vững cho tương lai đất nước, đặc biệt là quy hoạch xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật quốc gia, xây dựng các đô thị và vùng tập trung dân cư, các khu, cụm công nghiệp… Trọng tâm của chương trình cần:
- Tăng cường đầu tư, tổ chức các công tác điều tra cơ bản và mạng quan trắc sự biến đổi nhiệt độ, những biến động về quy luật vận động của khí quyển và thủy quyển về vận động kiến tạo hiện tại ở Việt Nam, áp dụng những thiết bị và công nghệ tiên tiến hiện nay. Dự án VinaSat sắp tới cũng phải tính đến yêu cầu này.
- Tích cực tham gia Nghị định thư Monreal về giảm khí thải CFCs, Nghị định thư Kyoto về giảm khí CO2 và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính, trước hết là phát huy kết quả và thúc đẩy mạnh mẽ việc thực hiện của chương trình quốc gia đã được triển khai về phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hạn chế tối đa tệ nạn cháy rừng, phục hồi nhanh chóng hệ sinh thái rừng, ngập mặn đã bị tàn phá nặng nề.
Đặc biệt Việt Nam cần phải có một chiến lược đúng về đáp ứng nhu cầu gia tăng rất nhanh chóng về năng lượng nhất là điện năng phục vụ công nghiệp hóa đất nước. Nêu cao yêu cầu tiết kiệm năng lượng, hạn chế đến mức cần thiết việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, dầu mỏ, khí đốt), sớm có kế hoạch phát triển năng lượng sạch.
Một mặt, chúng ta chủ động, tích cực thực hiện phần trách nhiệm quốc gia của mình, mặt khác chúng ta cũng tích cực lên tiếng đòi các nước phát triển thực hiện cam kết, các nghĩa vụ cũng như sự giúp đỡ của họ đối với các nước nghèo, các nước đang phát triển trong việc thực hiện các cam kết thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc và các Hiệp định, Nghị định thư quốc tế về bảo vệ môi trường trái đất, vì sự sống còn của nhân loại.
- Tổng kết, rút ra các kinh nghiệm thành công và chưa thành công của cha ông ta trong nhiều thế kỷ qua, được đẩy mạnh trong thời cận hiện đại trong việc ứng phó với các loại “thiên tai” thường xuyên xảy ra ở các vùng đồng bằng thấp, vùng ven biển: xây dựng mạnh kênh mương rộng lớn phục vụ việc tưới và tiêu nước cho các đồng bằng; gia cố hệ thống đê điều; xây dựng các công trình hồ thủy điện – thủy lợi điều tiết ở thượng nguồn; từng bước xây dựng tuyến đê biển từ Bắc đến Nam kết hợp xây dựng các cống điều tiết thoát lũ và ngăn mặn ở các cửa sông; xây dựng các công trình kè bờ sạt lở sông và biển; nạo vét dòng chảy ven các cửa sông, luồng vào cảng; bơm thoát nước cưỡng bức đối với nạn úng, ngập sâu và ô nhiễm nặng ở các vùng đất thấp ở đồng bằng và ven biển.
Đặc biệt những hệ thống công trình có quy mô to lớn, xây dựng bền vững lâu dài như hệ thống công trình “chung sống với lũ” ở đồng bằng sông Cửu Long, tuyến đê biển Bắc – Nam cần được hoạch định có căn cứ khoa học về tuyến, về nền móng để những công việc được thực hiện hiện nay còn được tiếp nối thuận lợi cho nhiều thế hệ mai sau.
Cần lưu ý rằng các giải pháp như đã nêu trên không phải là không còn có những ý kiến khác nhau về mặt luận cứ khoa học.
Những công việc đã làm cho thấy không phải chúng ta không có những kinh nghiệm nhất định trong việc ứng phó với tai biến do nước biển dâng. Nhưng đó là việc biển dâng tiệm tiến.
Vấn đề của báo động toàn cầu hiện nay là có nhiều khả năng biển sẽ dâng nhanh hơn và không loại trừ đột biến lớn, đưa đến hiểm họa và thảm họa lớn cho nhân loại. Quả thật, nhận thức và suy nghĩ của chúng ta còn quá ít về vấn đề này.
Để kết thúc, tôi thấy cũng cần nhắc đến những kinh nghiệm lịch sử của nhân loại đã được các nhà nghiên cứu thế giới đề cập từ lâu: Vì sao những nền văn minh rực rỡ của nhân loại như các nền văn minh Lưỡng Hà, Ai Cập ở Trung cận đông – Bắc phi; các nền văn minh Maya và Inca ở Trung và Nam Mỹ bị suy tàn thậm chí biến mất một cách khó hiểu? Vì sao nước Hà Lan ngày nay phải chấp nhận một vùng lãnh thổ khá rộng lớn nằm dưới mực nước biển?
Nguyên nhân gốc rễ của các hiện tượng trên chắc chắn là hệ quả của sự biến đổi khí hậu lớn có tính toàn cầu biểu hiện cụ thể vào từng khu vực, lãnh thổ. Cũng không phải không có lý khi gần đây xuất hiện các thông tin về việc Bộ Môi trường Nhật Bản cho biết sẽ cần hơn 64,5 tỷ USD để đối phó với mực nước biển dâng cao do băng tan ở hai cực.
Phía Nhật Bản ước tính nếu mực nước biển tăng thêm 1 mét, 90% số bãi biển của nước này sẽ bị “nuốt chửng”, sản lượng lúa sẽ giảm 50%… Nguồn thông tin cũng cho biết Trung Quốc đang xem xét việc xây dựng hệ thống đê kiên cố dọc suốt bờ biển, một kế hoạch được coi là xây dựng một “Vạn lý trường thành mới”…
Việt Nam là nước tham gia ký kết và tích cực thực hiện “Tuyên bố Thiên niên kỷ” của Liên Hiệp Quốc năm 2000, trong đó, vấn đề bảo vệ môi trường sống của hành tinh được nhấn mạnh.
Nghị quyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X (tháng 4/2006) đặc biệt coi trọng yêu cầu phát triển nhanh song phải bền vững, trong đó có yếu tố bảo vệ môi trường sinh thái; Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X mới đây về chiến lược biển dài hạn cũng nhấn mạnh vấn đề bảo vệ môi trường gắn liền với khai thác nguồn lợi của biển.
Rõ ràng vấn đề đặt ra vừa có yêu cầu bức xúc trước mắt vừa có tầm quan trọng chiến lược, lâu dài, cần có sự báo động và hành động trước khi quá muộn.
Trần Đức Lương
Đồng chủ biên bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000, giải thưởng Hồ Chí Minh; Nguyên Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Climate GIS (Theo_Việt Báo)

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến chế độ mưa

Biến đổi khí hậu gây ra lượng mưa không nhất quán


Biến đổi khí hậu gây ra lượng mưa không nhất quán
Trận lụt lịch sử ở Hà Nội đầu tháng 11/2008 đã gây thiệt hại nặng nề.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đức Ngữ, Trung tâm Khoa học công nghệ- Khí tượng thủy văn và Môi trường, biến đổi khí hậu làm cho lượng mưa biến đổi không nhất quán, có nơi tăng, nơi giảm.

Điển hình là ở hai thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, lượng mưa các thập kỷ từ 1941-1950 về trước cao hơn trung bình nhiều năm. Đối với 2 thập kỷ sau đó và nhất là 2 thập kỷ gần đây có xu thế giảm, trong khi ở Đà Nẵng tăng giảm cũng không nhất quán, riêng thập kỷ 1991-2000 tăng nhiều. Ở các tỉnh Nam Trung bộ, lượng mưa có xu thế giảm, tình trạng khô hạn tăng lên. Lượng mưa lớn nhất trong 24 giờ cũng tăng lên trong những thập kỷ gần đây.
Giáo sư Ngữ đặc biệt nhấn mạnh đến sự biến đổi khí hậu đã làm thời tiết trong những năm gần đây bất thường khó dự báo trước như cơn mưa bất thường gây ngập lụt nặng nề ở Hà Nội, nước thủy triều thường xuyên tràn vào thành phố Hồ Chí Minh, dự báo nước biển dâng do biến đổi khí hậu trong vòng 50 năm tới nhiều vùng đồng bằng ven biển sẽ chìm trong nước...
Giải thích về hiện tượng này, Giáo sư Nguyễn Đức Ngữ cho biết: Sự nóng lên toàn cầu gây ra những biến đổi hoàn lưu khí quyển và đại dương, đặc biệt là hoàn lưu gió mùa và hoàn lưu nhiệt-muối. Tăng sự bốc hơi trên lục địa và đại dương dẫn đến tăng hàm lượng ẩm trong khí quyển và tăng hội tụ ẩm vận tải từ đại dương vào lục địa. Tăng tính biến động tính dị thường và cực đoan của các yếu tố khí hậu và hiện tượng thời tiết nắng, nóng, rét, bão, lũ, mưa lớn, hạn hán, tố, lốc... Đặc biệt là trong những trường hợp liên quan đến hoạt động của El nino, La Nina. Cụ thể là thay đổi về hoàn lưu gió bao gồm cả những nhiễu động khí quyển, hàm lượng ẩm trong khí quyển và bốc hơi sẽ làm thay đổi về lượng mưa và phân bố mưa theo không gian và thời gian, dẫn đến những thay đổi trong chế độ thuỷ văn và tài nguyên nước cũng như thiên tai liên quan đến nước, ảnh hưởng đến hoạt động của các hồ chứa.

 Biến đổi khí hậu khiến lượng mưa tăng bất thường

Những trận mưa và tuyết rơi nhiều bất thường đang ngày càng mạnh lên. Lần đầu tiên các nhà khoa học tìm ra mối liên hệ logic giữa tình trạng Trái đất ấm lên do bàn tay con người và lượng nước gây nên những trận lụt tàn khốc.

Hai nghiên cứu của nhóm nhà khoa học Scotland và Canada vừa được đăng trên tạp chí Nature chỉ ra mỗi liên hệ giữa lượng mưa tăng bất thường và hiệu ứng nhà kính.

Nhiều năm qua, giới khoa học dựa vào lý thuyết vật lý cơ bản và kiến thức về khí hậu cho rằng hiện tượng ấm lên toàn cầu có khả năng gây ra những hiện tượng cực đoan về nhiệt độ và lượng mưa. Nhưng đây là lần đầu tiên các nhà khoa học có thể chỉ ra mối quan hệ nguyên nhân – hệ quả giữa hai yếu tố này nhờ phương pháp khoa học nghiêm túc khi xem xét những dấu ấn quan trọng của tình trạng khí hậu biến đổi do con người gây nên và mô hình hóa bằng máy tính.

Thông tin về những trận mưa và tuyết rơi lớn nhất giai đoạn 1951-1999 xảy ra ở bắc bán cầu rồi được các nhà khoa học dùng nhiều mô hình máy tính để thống kê và phân tích.

Kết quả cho thấy, những trận bão xảy ra sau chứa nhiều nước hơn trận trước 7%, nghe có vẻ không nhiều, nhưng tổng số lượng thêm vào góp thành khối lượng tăng đáng kể.

  Lũ lụt xảy ra ở Nashville, Tenn (Mỹ) vào tháng 3.2010. (Ảnh: AP)


Dù chỉ xem xét những trận mưa và tuyết cực lớn cho tới năm 1999, nhưng các sự kiện xảy ra ở cuối giai đoạn này cũng tương tự như các thảm họa thiên nhiên gần đây như những cơn  đại hồng thủy gây ra lụt kinh hoàng ở Pakistan và Nashville, Tenn (Mỹ), cũng như những trận bão tuyết bất thường ở một số địa phương của Mỹ.

Các nhà khoa học cũng thấy rằng, hiện tượng Trái đất ấm lên làm tăng gấp đôi khả năng xảy ra lũ lụt. Những nghiên cứu tương tự cũng đang được tiến hành để xem cơn bão nhiệt chết người xảy ra ở Nga năm ngoái và lụt lội ở Pakistan có mối liên hệ khoa học với hiện tượng ấm lên toàn cầu hay không.

Số liệu của Tổ chức Y tế thế giới cho biết, từ năm 1950, lũ lụt đã khiến 2,3 triệu người thiệt mạng. 

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482