DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển

Đai cây ven biển có một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ đê biển và bờ biển. Vùng đất cát ven biển cần phải có giải pháp công nghệ phù hợp để trồng dải cây chắn gió, hạn chế sự di động của các cồn cát ven biển, như: chọn loại cây trồng phù hợp, có biện pháp thu trữ nước và tưới tiết kiệm, bổ sung chất mùn và chất giữ ẩm cho đất, nếu nơi có cồn cát cao thì cần làm hàng rào chắn cát...

Để có được dải cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê biển với chiều rộng cần thiết từ 200-300m, đặc biệt là đối với những nơi sóng to, gió lớn, chưa có bãi hoặc bãi chưa ổn định, cần phải có các biện pháp xây dựng công trình tạm giảm sóng trước khi trồng cây, sử dụng nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, nhằm đảm bảo trồng cây hiệu quả nhất.

1. Đặt vấn đề
Đai cây ven biển có một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ đê biển và bờ biển. Sự tồn tại của đai rừng phòng hộ ven biển có ý nghĩa không chỉ về vấn đề môi trường mà còn cả về vấn đề kinh tế xã hội và phòng chống thiên tai như hạn chế cát bay, cát nhảy, xói lở, tăng bồi tụ đất ven biển, hạn chế xâm nhập mặn, ngăn cản các chất thải rắn trôi ra biển, bảo vệ đê điều, đồng ruộng, nơi sống của người dân ven biển trước sự tàn phá của gió bão, sóng thần và nước biển dâng,…[1],[4]. Tuy nhiên, do việc mở rộng nuôi trồng thủy sản và một số nguyên nhân khác nên nguy cơ mất dải rừng phòng hộ ven biển là rất lớn (khoảng gần 20% mỗi năm)[3],[7],[9]. Vì thế việc trồng cây, phục hồi, phát triển đai cây chắn sóng, chắn cát bảo vệ đê biển là góp phần hoàn thiện hệ thống đê biển các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang nhằm phòng tránh thiên tai từ biển gây ra, làm giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, tạo điều kiện thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế biển, giữ vững an ninh quốc phòng càng trở thành vấn đề bức thiết.[2],[5],[10].
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để trồng được cây ở những nơi có điều kiện không thuận lợi  (nghèo dinh dưỡng, gió to, sóng lớn, xói lở…), trồng loài cây gì và kỹ thuật trồng như thế nào để đạt hiệu quả cao. Chúng tôi xin giới thiệu một số giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát và bãi ngập mặn ven biển nước ta, rút ra từ kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển, góp phần cải thiện môi trường ven biển ở các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang” thuộc chương trình đê biển giai đoạn II.
2. Hiện trạng về cây bảo vệ đê biển ở các tỉnh ven biển nước ta
2.1. Hiện trạng về cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát ven biển
2.1.1  Điều kiện tự nhiên liên quan đến cây trồng trên cát.

http://qmt.vn/Portals/0/News/trieuphong_trongrung2.png


Các bãi cát vùng Nam Trung Bộ bao gồm các cồn cát, đụn cát phân bố thành một dải hẹp, chạy dài ven biển. Nhìn chung các dải đất cát, cồn cát ven biển phần lớn là những vùng đất khô hạn, thiếu nước tưới, khí hậu khắc nghiệt.[6],[8]
Vùng Nam Trung bộ, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô thường kéo dài 8 tháng, từ tháng 1 đến tháng 8, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20-25% lượng mưa năm; mùa mưa kéo dài 4 tháng, từ tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa chiếm khoảng 75-80% lượng mưa năm. Lượng mưa trung bình năm từ 1.000 - 2.200mm (Ninh Thuận <1.000mm). Có hai loại gió chính là gió Đông Bắc và gió Tây Nam với tốc độ gió trung bình từ 2 - 3 m/s. Nhiệt độ bình quân năm: > 26,50C. [14]
Các giải pháp cần nghiên cứu để hạn chế một số yếu tố tự nhiên không thuận lợi cho việc trồng cây trên các vùng cát ven biển nước ta là: đất khô hạn, không đủ nước tưới cây, nhất là về mùa khô; nhiệt độ quá cao trên bề mặt cát vào mùa hè; đất cát nghèo dinh dưỡng;  gió mạnh (bình quân từ 2-3 m/s, khi có bão mạnh tốc độ gió đạt tới 40 m/s), nhiều cồn cát có độ dốc lớn, cát chảy thường xuyên.
2.1.2 Hiện trạng đai cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát ven biển.
Tình trạng phá rừng và huỷ hoại lớp phủ thực vật do con người gây ra làm cho diện tích rừng phòng hộ ven biển bị thu hẹp, độ che phủ thảm thực vật thấp, sự xói mòn và thoái hoá đất xảy ra nghiêm trọng. Mặt khác, do nuôi trồng thuỷ sản đã gây nên mặn hoá những vùng đất ven biển. Hiện tượng hoang mạc hoá đã xuất hiện ở các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận), Ninh Phước, Ninh Hải (Ninh Thuận). [6]
Thành phần loài trong các đai rừng còn lại đơn giản, nhiều đai rừng chỉ có một hoặc vài vài loài cây chính. Một số dai rừng trồng thuần loài, khả năng tái sinh tự nhiên rất hạn chế. Trong đó phi lao là loài cây tiên phong, phát triển mạnh nhất, được xem là cây chủ lực trong việc trồng rừng chắn cát bay, cát chảy. Tuy nhiên cần phải trồng bổ sung các loài cây khác để nâng cao khả năng cải tạo đất của đai rừng phòng hộ trên các vùng cát.
2.2. Hiện trạng dải cây ngập mặn bảo vệ đê biển
2.2.1. Một số điều kiện tự nhiên liên quan đến cây ngập mặn
Nhìn chung, địa hình khu vực ven biển vùng đồng bằng Nam Bộ nước ta tương đối bằng phẳng, nhưng quá trình bồi tụ và xói lở vẫn diễn ra thường xuyên, tạo ra nhiều bãi bồi rộng lớn cũng như gây ra nhiều điểm xói lở nghiêm trọng. Một số khu vực đang được bồi tụ như: cửa sông Ba Lai (huyện Ba Tri - Bến Tre), phía bắc cửa biển Định An tỉnh Trà Vinh... Một số nơi lại đang diễn ra xói lở như: Tân Thành và Tân Điền (Gò Công Đông, Tiền Giang), Hiệp Thạnh (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng)...[3],[5], [17].
 Vùng miền Trung chịu ảnh hưởng của gió mùa, trong mùa hè là gió Đông,   Đông Nam và Tây Nam, mùa đông là gió Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc. Nhiệt độ trung bình: vùng Trung bộ: 230C-270C; lượng mưa từ 1.944 -2.867 mm/năm. Khu vực ven biển Nam bộ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Khí hậu theo hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 260C-270C. Tổng lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1500 - 2200 mm, càng đi xuống phía nam lượng mưa càng tăng.[12],[13],[15].
Vùng biển phía đông của Nam bộ chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều còn ở vùng biển tây chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều. [11].
Độ mặn dao động từ 0,7 - 3,5% tùy theo mùa, theo vị trị. Về mùa khô độ mặn tăng và xâm nhập sâu vào cửa sông đặc biệt là các vùng cửa sông có lưu lượng nước thấp.
Các giải pháp cần nghiên cứu để hạn chế một số yếu tố tự nhiên không thuận lợi cho việc trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển là: mức triều cao, sóng to, gió lớn, xói lở mạnh; việc khai thác, đánh bắt hải sản, nạn chặt phát rừng để nuôi trồng thủy sản làm ảnh hưởng lớn đến đai rừng ngập mặn; một số bãi bồi hàm lượng mùn quá thấp hoặc nhiễm phèn nặng.[16],[17]
 2.2.2 Hiện trạng về cây ngập mặn bảo vệ đê biển
Vùng bãi bồi ven biển nước ta là nơi cây ngập mặn phát triển mạnh. Tuy nhiên, trong những năm qua dưới tác động của tự nhiên và con người, rừng ngập mặn đã bị biến động mạnh về diện tích, số lượng, cấu trúc, thành phần loài.
Diện tích RNM hiện nay ở khu vực biển Nam bộ khoảng 82.000 ha, trong đó Cà Mau là nơi có diện tích RNM lớn nhất chiếm 70% diện tích rừng ngập mặn toàn vùng. Thành phần loài cây ngập mặn chủ yếu: Mắm, Đước, Bần, Dừa nước, Ô rô, Giá, Tra, Vẹt dù, Cóc vv…[12]
Diện tích các bãi bồi ở các tỉnh ven biển có thể trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển ở các tỉnh Nam bộ là khoảng gần 28.000ha.[2].
Các đai rừng ngập mặn bảo vệ đê biển ngoài một số nơi đang được chủ động trồng mới hoặc khôi phục còn lại hầu hết đang bị thu hẹp dần, thành phần loài và cấu trúc đai rừng ngày càng đơn giản. Một số đai rừng thuần loài, đã qua thời kỳ sinh trưởng sang giai đoạn thoái hóa nên hiệu quả chắn sóng giảm.[18]
3. Các giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển, bờ biển
3.1 Các giải pháp trồng cây bảo vệ đê biển ở các vùng cát ven biển
3.1.1 Lựa chọn các loài cây trồng phù hợp
3.1.2 Các giải pháp kỹ thuật
Xây dựng tường rào chắn cát để trồng cây
Trong điều kiện cồn cát cao và dốc, phải sử dụng các cọc tre hoặc gỗ dài cắm sâu xuống đất (>0,5m) tạo thành hàng cọc, buộc các phên tre nằm ngang vào hàng cọc, tạo tường rào chắn cát. Tùy thuộc vào địa hình để xây dựng các cấp tường rào cho phù hợp. Bố trí các tường rào song song tạo thành các cấp cơ đồng mức trên cồn cát, chống cát chảy để trồng cây. Đối với các cồn cát lồi lõm bố trí tường rào tạo thành các ô 10x10m xen kẽ tạo thành các ô tương đối phẳng để trồng cây. Giữa các ô hàng rào để lại 1 lối đi lại. Sử dụng rơm rạ bện quanh từng gốc cây để giữ ẩm cục bộ cho cây đồng thời hạn chế hiện tượng trơ gốc, rễ do nền cát không ổn định (hình 1).
Phương thức trồng cây trên cát
 Phương thức trồng là chọn cây tiên phong về phía trước biển, phía sau là trồng hỗn giao giữa các giống cây khác nhau. Phối hợp cây mọc nhanh với cây mọc chậm, giữa cây tầng cao với cây tầng thấp, giữa cây có tán thưa, mỏng với cây có tán dày để chắn gió, chống cát bay. Tiếp theo là cây bụi, cây thân thảo để chống cát chảy. Trồng cây đủ tiêu chuẩn, được gieo ươm trong túi bầu PE.
Phi lao là cây sinh trưởng nhanh về chiều cao, chịu hạn và điều kiện khắc nghiệt tốt thường được sử dụng làm cây tiên phong trồng phía trước biển. Keo lá tràm, xoan chịu hạn có khả năng chịu hạn tốt, tán rộng, đặc biệt rễ cây có nốt sần cố định đạm, góp phần cải thiện tính chất của đất trồng tiếp theo dải tiên phong. Muống biển, tù bi, cây bụi, mọc lan trên mặt đất, có tác dụng che phủ bề mặt, giữ ẩm, giảm nhiệt độ đất, cố định cát.
Kỹ thuật trồng cây
Trồng so le hình nanh sấu với nhau với tiêu chuẩn cây giống và mật độ như sau
Căn cứ vào điều kiện đất đai và mức độ thâm canh, tình hình xói mòn để lựa chọn biện pháp cải tạo đất thích hợp như: Cày toàn diện, cày lật đất độ sâu 20 - 25cm;  Cày theo băng độ sâu 20 - 25cm;  Cải tạo hố trồng cục bộ: đào hố rộng rồi bổ sung đất màu, tuỳ điều kiện cho phép có thể bón lót 1kg phân chuồng hoai + 50g phân NPK hay phân lân vi sinh cho 1 cây. Bón vào lúc đào hố lấp đất bằng cách trộn đều với đất ở độ sâu giữa hố và sau đó lấy đất đắp lên trên. Thực hiện trồng sâu để đảm bảo đủ ẩm cho cây. Khi đào hố phải để riêng phần đất mặt, phần đất đáy hố để một bên. Cho lớp đất mặt xuống đáy hố. Thực hiện trồng sâu, cây trồng đặt ngay giữa hố sau đó từ từ xé bỏ vỏ bầu PE, lấp đất và dẫm chặt xung quanh gốc. Lấp đất cách miệng hố từ 3 - 5cm để cây trồng tận dụng lượng nước mưa và mùn.
Sau khi trồng cây, che phủ quanh gốc cây bằng các vật liệu như rơm, cỏ khô… để hạn chế sự bốc hơi nước giữ ẩm cho cây đồng thời giảm nhiệt độ bề mặt đất.
 Sau khi trồng 2- 3 tuần, kiểm tra tỷ lệ sống, trồng dặm kịp thời những cây bị chết.
Nguồn nước và kỹ thuật tưới
Dải đất cát ven biển phần lớn là những vùng đất khô hạn, lượng nước ngầm cũng như nước mưa khan hiếm. Nguồn nước tưới dùng cho cây được thu trữ trong bể chứa vào mùa mưa hoặc tiến hành khoan giếng đưa nước vào bể. Đất cát có kết cấu rời rạc nên khả năng giữ nước kém, nhiệt độ không khí lại khá cao dẫn đến lượng bốc hơi nước rất lớn. Vì vậy để hạn chế sự thất thoát nước trong quá trình tưới cho cây trồng trên cát thì nên tưới nước theo hình thức phun mưa hoặc nhỏ giọt.
Chăm sóc - bảo vệ  
Tiến hành dãy cỏ xới vun gốc, đồng thời trồng dặm và sửa cây đổ ngã. Cày giữa hai hàng cây, cày ranh bao ngăn, ranh lô (nếu có). Tùy theo mức độ thực bì có thể áp dụng biện pháp kỹ thuật phát dọn thực bì trước khi cày. Khi phát hiện sâu bệnh hại, cần có biện pháp xử lý kịp thời. Sử dụng cọc tre, gỗ kết hợp cây xương rồng, dứa dại làm hàng rào xung quanh khu vực trồng cây để ngăn trâu, bò, cừu và gia súc khác vào phá hoại.
3.2 Các giải pháp trồng cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê biển
3.2.1 Lựa chọn loài cây trồng phù hợp với các dạng lập địa
Căn cứ vào yêu cầu về cây chắn sóng, phân bố địa lý, đặc điểm sinh thái loài cây, chúng tôi đã lựa chọn một số loài cây chủ yếu để trồng trên các bãi triều như sau:
3.2.2 Các giải pháp kỹ thuật
Phương thức trồng cây
Việc trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển cần phải căn cứ vào diễn thế tự nhiên của rừng ngập mặn, đảm bảo trồng đủ các đai cây: đai cây tiên phong, đai cây trên các bãi bồi ngập triều thể nền đã ổn định, đai cây trên bãi cạn (không chịu ảnh hưởng của chế độ triều). Trong đó, chiều rộng dải cây ngập mặn cần thiết là 300m. Đối với những nơi sóng lớn cần xây dựng công trình tạm giảm sóng khi trồng cây. Trước hết phải lựa chọn cây tiên phong chịu sóng biển tốt và độ ngập triều sâu. Sau khi đã hình thành đai tiên phong, cần trồng đai cây hỗn loài có chức năng cản sóng tốt hơn rừng trồng thuần loài. Khi bãi bồi đã nhô cao hơn mực nước triều dâng bình thường phải tiến hành trồng bổ sung các loài cây trên cạn thích hợp.[18]
Mật độ trồng một số loài cây cơ bản là: Bần chua, Bần trắng 1.600 cây/ha; Mắm trắng, Mắm đen, Mắm biển 10.000 cây/ha; Đước 10.000 cây/ha.
Trồng cây đủ tiêu chuẩn, được gieo ươm trong túi bầu PE. Cây con trong giai đoạn mới trồng sức chống chịu kém, nên việc trồng phải tiến hành trước mùa mưa bão, mùa có gió nhẹ và sóng nhỏ. Việc xác định thời vụ trồng cần căn cứ vào điều kiện tự nhiên của từng khu vực.
Tiêu chuẩn xuất vườn của một số loài cây ngập mặn như sau:
Mắm: Chiều cao từ 0.7-1m, tuổi từ 10-12 tháng tuổi, đường kính gốc từ 1,0-1,2cm
Bần: Chiều cao từ 1,2 - 1,5m, tuổi từ 22 - 24 tháng, đường kính gốc từ 1-2cm
Trang: Chiều cao từ 0,7 - 1,05m, tuổi từ 22 - 24 tháng, đường kính gốc từ 0,8-1,5cm
Đước: Chiều cao từ 0.7-1m, tuổi từ 10-12 tháng tuổi, đường kính gốc từ 1-1,2cm
Giải pháp trồng CNM tại các bãi bồi:
Đối với bãi bồi có hàm lượng cát ≥ 90%: trước khi trồng CNM cần tiến hành cải tạo thể nền. Thay thế lớp đất cát bằng lớp phù sa hoặc đất màu giàu dinh dưỡng. Đối với bãi bối có hàm lượng cát <90% có thể tiến hành trồng cây ngập mặn ngay không cần cải tạo thể nền.
Giải pháp trồng CNM tại các bãi xói lở
Tại những khu vực này cần đánh giá các nguyên nhân gây ra xói lở, xác định chế độ động lực ven bờ, sau đó triển khai các biện pháp giảm sóng, tạo bãi và ổn định bãi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực. Khi khảo sát thấy sóng đã giảm theo thiết kế, bãi xuất hiện lớp bùn trầm tích phủ trên cát thì mới tiến hành trồng cây (hình 2).
 Hình 2: Sơ đồ tường rào giảm sóng sử dụng cọc tre hoặc gỗ và bao tải cát
Quản lý bảo vệ CNM sau khi trồng
Vệ sinh cho cây sau khi trồng, chống rác rưởi bám vào cây; Phòng chống sâu bệnh hại như Hà, Sâu róm hại cây vv… Hạn chế các hoạt động đánh bắt thủy sản. Dành lối đi riêng cho thuyền bè trong khu vực trồng cây.
Giải pháp trồng CNM bổ sung đối với rừng tự nhiên có đai rừng hẹp, không đủ tiêu chuẩn chắn sóng
Đối với những khu rừng mà quá trình diễn thế tự nhiên đang diễn ra bình thường, đai rừng rộng, chức năng tự nhiên của rừng đang được duy trì thì chỉ cần tạo lập hành lang bảo vệ cây tái sinh phía trước biển (thuộc đai tiên phong). Đặc biệt là việc cấm quét chài lưới ở hành lang này vào mùa cây sinh sản. Đối với những khu rừng tự nhiên già cỗi, không có cây con tái sinh cần tiến hành chặt tỉa những cây già cỗi để trồng bổ sung cây con và trồng bổ sung cho đai cây tiên phong.
Giải pháp đối với rừng trồng
Đối với rừng trồng thuần loài, không có cây con tái sinh cần trồng xen những loài cây khác đồng thời trồng thêm cây con cùng loài, đảm bảo cấu trúc rừng có nhiều độ tuổi khác nhau và hỗn loài. Đối với rừng trồng hỗn loài nhưng cây trồng đã qua giai đoạn trưởng thành, thiếu cây con tái sinh thì cần phải trồng lớp cây mới, mỗi lớp cây cách nhau 3-5 năm.
4. Đề xuất giải pháp
4.1 Đối với việc trồng cây bảo vệ đê biển trên vùng cát ven biển
Các vùng cát ven biển có điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, gió mạnh, khô hạn, nhiệt độ trên bề mặt cát cao, cồn cát cao, dốc. Một số loài cây trồng thích nghi trên vùng cát như phi lao, keo lai, xoan chịu hạn, muống biển, xương rồng… có thể trồng hỗn giao để chắn gió, hạn chế cát bay, cát chảy. Đối với các đụn cát cao, dốc, lồi lõm cần phải lập các loại tường rào chắn cát trước khi trồng cây bằng các nguyên vật liệu địa phương rẻ tiền.
Trồng cây đủ tiêu chuẩn, được gieo ươm trong túi bầu PE.
Cần áp dụng một số biện pháp kỹ thuật như: cải tạo đất, bổ sung mùn và chất giữ ẩm cho đất, trồng sâu, che phủ bề mặt đất, thu trữ nước và tưới tiết kiệm khi trồng cây, đảm bảo tỷ lệ cây sống cao và có hiệu quả chắn gió, hạn chế cát bay và cát chảy tốt.
4.2. Đối với việc trồng cây ngập mặn bảo vệ đê biển trên các bãi ngập mặn
Trồng cây ngập mặn cần có thành phần loài và tuổi cây đa dạng phù hợp với từng lập địa cụ thể. Đảm bảo chiều rộng cần thiết của đai rừng bảo vệ đê biển (200-300m). Tạo hành lang cho cây tái sinh ở bìa rừng phía biển bằng cách bảo vệ bãi, cấm quyét chài lưới vào mùa tái sinh của cây tiên phong. Với rừng ngập mặn bị khiếm khuyết một số đai đặc trưng, đặc biệt là đai tiên phong cần tiến hành trồng bổ sung các đai khiếm khuyết và cây tiên phong. Cây đem trồng phải đạt tiêu chuẩn và được gieo ươm trong túi bầu PE.
Đối với rừng trồng ngập mặn thuần loài, lứa tuổi của cây đã qua giai đoạn trưởng thành, không xuất hiện cây tái sinh tự nhiên, độ rộng dải rừng hẹp (dưới 100m), cần tiến hành trồng cây mới thay thế các cây thoái hóa và mở rộng chiều rộng của đai rừng, đủ yêu cầu chắn sóng bảo vệ đê.
Ở các bãi bồi đang trong quá trình bồi tụ chưa có rừng ngập mặn cần tiến hành trồng ngay các loài cây thích hợp với điều kiện cụ thể của bãi vào mùa vụ hợp lý. Với các vùng bãi đang bị xói lở phải xây dựng các công trình tạm giảm sóng, nuôi bãi bằng vật liệu địa phương. Sau đó mới lựa chọn giống cây tiên phong thích hợp, đã được ươm trong bầu đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cần thiết đem trồng trên bãi đã tạo lập.

   Tài liệu tham khảo
1. Chỉ thị số 85/2007/CT-BNN ngày 11/10/2007 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc đẩy mạnh trồng rừng và trồng cây chắn sóng ven biển.
2. Cục Quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão-Bộ NN&PTNT, 2009. Rừng ngập mặn tại Việt Nam, công tác quản lý, đề xuất kế hoạch hành động, bảo tồn và phát triển. Hà Nội - 5/2009.
3. “Dự báo hiện tượng xói lở, bồi tụ bờ biển, cửa sông và các giải pháp phòng tránh” - Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Nhà nước KC-09-05. Viện Địa lý, Hà Nội-2005.
4. Đề án phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển nhằm bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai giai đoạn 2008-2015. Bộ NN&PTNT, Hà Nội-2009.
5. “Nghiên cứu, dự báo, phòng chống sạt lở bở biển miền Trung (Từ Thanh Hóa đến Bình Thuận)” - Báo cáo tổng kết đề án KHCN cấp nhà nước - 5B. Viện Địa lý, Hà Nội - 2001.
6. “Nguyên nhân, giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn quá trình hoang mạc hóa vùng Nam Trung Bộ” - Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp nhà nước. KHCN - 07 - 01. Viện Địa lý, Hà Nội-2001.
7. “Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng phòng hộ ven biển” - Cẩm nang ngành Lâm nghiệp. Bộ NN&PTNT, 2006.
8. Quyết định số: 58/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình đầu tư củng cố, bảo vệ và nâng cấp đê biển hiện có tại các tỉnh có đê từ Quảng Ninh đến Quảng Nam.
9. Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc trồng rừng phòng hộ ven biển là nhiệm vụ ưu tiên phải được thực hiện đối với tất cả các khu vực ven biển có điều kiện trồng cây.
10. Quyết định số: 667/QĐ-TTg ngày 27 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang.
11. Trịnh Văn Hạnh và CS, 2009. Báo cáo tổng kết đề tài: Nghiên cứu giải pháp trồng cây ngập mặn chắn sóng bảo vệ đê ven biển Thanh Hóa và Ninh Bình.
12. Viện Kỹ thuật Biển. 2009. Báo cáo kết quả điều tra khảo sát, phân loại bãi ngập mặn vùng ngập mặn có liên quan đến việc chọn giống cây thích hợp.
13. Viện Phòng trừ Mối và Bảo vệ công trình. 2009. Báo cáo khảo sát một số điều kiện tự nhiên liên quan đến các dạng bãi ngập mặn ven biển Nam Bộ.
14. Viện Phòng trừ Mối và Bảo vệ công trình. 2009. Báo cáo khảo sát một số điều kiện tự nhiên liên quan đến cây trồng của các dạng đất cát ven biển Nam Trung Bộ.
15. Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2007. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ đất cát biển và bãi bồi ven biển vùng Nam Trung bộ.
16. Carew-Reid, J., 2008. Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet Nam. Climate Change Discussion Paper 1. ICEM - International Centre for Environmental Management, Brisbane, Australia. 74 pages.
17. Southern Institute of Water Resources Research. 2010. Shore line variation analysis from Ho Chi Minh city to Kien Giang province.
18. Trinh Văn Hanh et al. 2010 Change in erosion and mangrove in the coast of Go Cong Dong district, Tien Giang province.

Tác giả: TS. Trịnh Văn Hạnh, TS. Phạm Minh Cương, ThS. Nguyễn Hoàng Thanh
Viện Phòng trừ Mối & Bảo vệ công trình -
Viện Khoa học  Thủy lợi Việt Nam


Nguồn: Tạp chí Khoa học & Công nghệ Thủy lợi

Những biến đổi khí hậu bất thường ở Việt Nam

Trái đất đang nóng lên là một hiểm họa vô cùng to lớn. Theo Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì sự nóng lên của khí hậu trái đất không còn đơn thuần là vấn đề môi trường mà đã trở thành vấn đề của sự phát triển. Sự biến đổi diễn ra trên toàn cầu, trong các khu vực, bao gồm cả các thay đổi trong thành phần hóa học của khí quyển, biến đổi nhiệt độ bề mặt, nước biển dâng, các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai tăng lên đáng kể về số lượng và cường độ.
Những nghiên cứu cổ sinh khí hậu đã khẳng định rằng hàng ngàn năm trước thời kỳ tiền công nghiệp, khí hậu đã không bị nóng lên. Nhưng xu thế đó đã thay đổi, đặc biệt trong những thập niên gần đây. Theo tính toán của IPCC, trong những thập niên gần đây, nhiệt độ tăng trung bình 0,30 mỗi thập niên. Đến năm 2100, nhiệt độ bề mặt có thể tăng từ 1,50C đến 4,50C. Mưa trở nên thất thường hơn.
 http://dantri4.vcmedia.vn/VkYf35t8Fk0XJpn3xQeP/Image/2011/10/dt1610mualu4_37b54.jpg
Những vùng mưa nhiều, lượng mưa trở nên nhiều hơn, cường độ mưa lớn hơn. Các vùng hạn trở nên hạn hơn. Toàn bộ mặt đệm, cả mặt đất và đại dương đều nóng lên, đặc biệt là ở vĩ độ cao dẫn đến hiện tượng tan băng hai vùng cực, gây nên hiện tượng nước biển dâng. Tần suất và cường độ hiện tượng El Nino tăng đáng kể, gây lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.
Cùng với sự nóng lên toàn cầu, nước biển dâng, sự thay đổi về mưa và sự bốc hơi là sự suy thoái của tầng ôzôn bình lưu làm tăng bức xạ cực tím mặt trời trên trái đất, gây ra những ảnh hưởng lớn cho loài người. Ngược lại, bản thân sự tồn tại và phát triển của các ngành kinh tế - xã hội cũng làm biến đổi môi trường xung quanh, tác động đến hệ thống khí hậu. Nguyên nhân chính của sự nóng lên của trái đất là do sự gia tăng đáng kể nồng độ khí nhà kính nhân tạo trong khí quyển, làm thay đổi khả năng hấp thụ và phản xạ bức xạ của khí quyển.

Những biến đổi khí hậu đã làm tăng các  hiện tượng nguy hiểm. Tần suất và cường độ các hiện tượng bão, mưa lớn, nhiệt độ cao, hạn hán ở Việt Nam tăng hơn nhiều trong thập niên vừa qua.
Nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,10C trong mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1-0,30C mỗi thập kỷ. Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa. Nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè có xu thế tăng rõ rệt trong khi nhiệt độ trung bình của các tháng khác không tăng hoặc giảm chút ít, dẫn đến nhiệt độ trung bình năm có xu thế tăng lên. Ví dụ điển hình là đợt nắng nóng đầu mùa vừa qua với nhiệt độ nhiều nơi lên đến hơn 400C.
Cùng với nắng nóng là hạn hán. Trong những năm qua, ở Nam Bộ và Tây Nguyên hầu như năm nào cũng có hạn hán. Theo thống kê, các thập kỷ gần đây hạn hán có xu hướng gia tăng hơn so với các thập kỷ trước.

Xu thế biến đổi của lượng mưa không nhất quán giữa các khu vực và các thời kỳ. Sự thay đổi về tổng lượng mưa tăng và mưa năm không thể hiện xu thế tăng hay giảm nhưng cường độ mưa đang có xu hướng tăng lên rõ rệt.
Sự biến đổi bất thường của khí hậu được biểu hiện rõ trong thời gian vừa qua. Ngay tại Hà Nội, trong đợt nắng nóng khoảng 4-5 ngày đã bất ngờ có giông, mưa với cường độ mạnh (hơn 101mm) kèm theo mưa đá. Theo nhiều chuyên gia về khí tượng thủy văn, năm 2005 sẽ là năm có nhiều biến đổi bất thường về khí hậu ở Việt Nam.
Đáng lưu ý, tần suất và cường độ El Nino (hiện tượng gây nắng nóng, hạn hán ở Việt Nam) tăng lên rõ rệt trong những năm cuối thế kỷ trước và những năm đầu thế kỷ này. Trong 5 thập kỷ gần đây, hiện tượng ENSO (bao gồm cả hiện tượng El Nino và hiện tượng La Nina - hiện tượng mưa nhiều, mưa lớn ở Việt Nam) ngày càng có tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực của Việt Nam. Những ảnh hưởng của ENSO đến thời tiết, khí hậu nước ta thông qua một cơ chế tác động phức tạp giữa các thành phần hoàn lưu khí quyển và biển khu vực châu á-Thái Bình Dương, gây ra những biến đổi dị thường về khí áp, nhiệt độ, lượng mưa và nhiều hiện tượng thời tiết thủy văn quan trọng khác như bão, lũ, hạn hán...

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á với hơn 3.000 km bờ biển và hơn 3.000 đảo lớn nhỏ. Khí hậu Việt Nam chịu ảnh hưởng của gió mùa nhiệt đới nóng và ẩm, là một trong những nước chịu nhiều thiên tai nhất thế giới. Những vùng kinh tế trọng yếu nằm ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long lại là những vùng chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các thiên tai về nước. Những chiến lược thích nghi về biến đổi khí hậu của Việt Nam là cần thiết và phải thay đổi khái niệm thích nghi từ bị động thành chủ động ra quyết định. Trọng tâm nhất của những chọn lựa thích nghi là nhằm vào những lĩnh vực dễ bị ảnh hưởng như tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, những vùng ven biển, năng lượng, giao thông vận tải và y tế.
HNM

Những người bị ảnh hưởng nhất vì trái đất nóng lên

Quan chức của 11 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất vì sự biến đổi khí hậu gây nên bởi khí nhà kính đã tụ họp ở quốc đảo Tuvalu để bàn về số phận của mình khi nhiệt độ trái đất tăng lên.
Dưới đây là hình ảnh các nước này, trong đó có Việt Nam.
Tần suất và mức độ nghiêm trọng của các trận lũ lụt, bão và hạn hán ở Việt Nam đang ngày càng trở nên nghiêm trọng do biến đổi khí hậu. Ảnh: Hoàng Hà.
Việt Nam mất hàng trăm sinh mạng và hàng triệu USD mỗi năm do hậu quả của biến đổi khí hậu. Mức độ thiệt hại có xu hướng tăng. Ảnh: Hoàng Hà.
Nằm ở giữa Australia và quần đảo Hawaii (Mỹ) trên Thái Bình Dương, phần lớn lãnh thổ Tuvalu (gồm 9 đảo san hô vòng) cách mực nước biển chưa tới 0,9 m. Nơi cao nhất của nước này chỉ cách mực nước biển 4,5 m. Vì thế mà Tuvalu đang đối mặt với nguy cơ bị nước biển nhấn chìm do tình trạng ấm lên toàn cầu. Ảnh: Reuters.
Maldives
Tình trạng nước biển dâng đang tác động trực tiếp tới đời sống người dân trên quốc đảo Maldives. Ông Mohamed Nasheed, Tổng thống Maldives, từng nói: "Người dân của chúng tôi sẽ lĩnh án tử hình nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm 2 độ C". Ảnh: Reuters.
Chính phủ Maldives từng tổ chức họp dưới nước để kêu gọi thế giới chống biến đổi khí hậu. Ảnh: Reuters.
Chính phủ Maldives từng tổ chức họp dưới nước để kêu gọi thế giới chống biến đổi khí hậu. Ảnh: Reuters.
Nhiều làng mạc trên quốc đảo Kiribati (nằm ở phía tây Thái Bình Dương và gần đường xích đạo) đã di chuyển do nước biển dâng. Sản lượng lương thực và lượng nước ngọt giảm mạnh do sự xâm thực của nước biển. Ảnh: Reuters.
Một tảng băng trơ trọi trên đỉnh Klimanjaro tại Tanzania. 80% diện tích băng trên đỉnh Kilimanjaro đã biến mất trong 50 năm qua. Ông Batilda Buran, Bộ trưởng Môi trường Tanzania, phát biểu: "Tác động của biến đổi khí hậu đối với Tanzania đang diễn ra với tốc độ khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử". Ảnh: PA.
Quốc đảo Barbados ở phía đông vùng biển Caribbe
Quốc đảo Barbados ở phía đông vùng biển Caribbe đang hứng chịu hàng loạt tác động của biến đổi khí hậu như xói mòn bờ biển, sự gia tăng của bão lớn, nước biển dâng, sự biến mất của các rặng san hô và tình trạng giảm nguồn nước ngọt. Ảnh: Reuters.
Sự biến mất của các rạn san hô cũng là vấn đề ở nhiều quốc gia khác.
Sự biến mất của các rạn san hô diễn ra đặc biệt nghiêm trọng ở Sri Lanka, Kenya, Maldives, Tanzania. Ảnh: PA.
Ngoại trưởng Dipu Moni của Bangladesh phát biểu: "Theo các tính toán của giới khoa học, tới năm 2050 sẽ có ít nhất 20 triệu người dân Bangladesh mất chỗ ở vì tác động của biến đổi khí hậu". Ảnh: Reuters.
Nếu mực nước biển tăng thêm 1 m,
Nếu mực nước biển tăng thêm 1 m, 30% diện tích lãnh thổ của Bangladesh sẽ chìm trong nước và 40 triệu người dân nước này sẽ mất đất cũng như sinh kế. Ảnh: EPA.
Ông
Ông Charity Kaluki Ngilu, Bộ trưởng Nước và Thủy lợi Kenya, cho biết: "Do hạn hán kéo dài, chúng tôi đang phải hứng chịu tình trạng thiếu nước ngọt. Ngay tại thủ đô Nairobi người dân đang phải sử dụng nước theo định mức mỗi ngày. Cũng do hạn hán mà các nhà máy thủy điện của chúng tôi không có nước nên chính quyền phải cắt điện luân phiên". Ảnh: Getty Images.
Nguồn: http://vnexpress.net

CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA PHÒNG, CHỐNG VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI ĐẾN NĂM 2020

 
View more Climate GIS from Trantoan

Dự báo thay đổi thời tiết, ô nhiễm không khí, biến đổi khí hậu và mối quan hệ giữa chúng sẽ là mối quan tâm hàng đầu của tất cả chúng ta trong thế kỷ 21 này.


Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm chịu ảnh hưởng của các khối không khí cực đới khô, lạnh từ phía Bắc tràn xuống về mùa đông và các khối không khí nóng ẩm từ phía Nam đi lên về mùa hè. Vì vậy, khí hậu vừa mang tính chất ôn đới vừa mang tính chất nhiệt đới với những biến động lớn trong năm cũng như giữa các năm, tạo ra những dị thường về thời tiết.

Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng thành phần hoá học của khí quyển đã và đang thay đổi, chúng có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với các điều kiện thời tiết, khí hậu ở quy mô toàn cầu và khu vực.

Dự báo thay đổi thời tiết, dự báo ô nhiễm không khí, dự báo biến đổi khí hậu và mối quan hệ giữa chúng sẽ là mối quan tâm hàng đầu của tất cả chúng ta trong thế kỷ 21 này.

Biến đổi khí hậu sẽ gây ra những biến động mạnh mẽ trong diễn biến của các hiện tượng khí tượng, thuỷ văn như bão, mưa lớn, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng, rét đậm, rét hại, mực nước biển dâng… làm tăng tính dị thường và tính cực đoan của chúng, gây khó khăn cho công tác dự báo và phòng tránh.

Những biểu hiện gần đây về các hiện tượng khí tượng, thuỷ văn cực đoan trên thế giới và Việt Nam đã minh chứng cho những nhận định nêu trên và phù hợp với quy luật của biến đổi khí hậu. Dự báo các hiện tượng thời tiết, thuỷ văn sẽ ngày càng trở lên khó khăn, vì bản chất và quy luật xuất hiện của hiện tượng ngày càng phức tạp, khó lường.

Do đó, tuy trình độ, trang thiết bị, công nghệ dự báo khí tượng thủy văn (KTTV) trong nước cũng như trên thế giới đang ngày càng được hoàn thiện hơn nhưng không phải hiện tượng KTTV nào cũng dự báo được chính xác.

10 năm trở lại đây, công tác dự báo KTTV ở nước ta có những bước chuyển biến rõ rệt. Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho ngành KTTV theo hướng hiện đại hóa, nhằm nâng cao năng lực dự báo phục vụ, đặc biệt là phòng chống thiên tai.

Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương được trang bị bốn kênh liên lạc quốc tế: Hà Nội - Bắc Kinh, Hà Nội - Moscow, Hà Nội - Bangkok, Hà Nội - Tokyo.

Một số kênh có tốc độ tương đối cao. Các kênh thông tin đã được khai thác rất hiệu quả nhằm thu nhận số liệu quan trắc, các sản phẩm phân tích và dự báo, ảnh vệ tinh, số liệu radar từ các trung tâm quốc tế và từ chín đài KTTV khu vực trong nước, phục vụ cho công tác dự báo KTTV ở trung ương và địa phương, đáp ứng kịp thời nhu cầu phòng tránh thiên tai và phát triển kinh tế - xã hội.

Đến nay, mạng thông tin phục vụ dự báo KTTV đã kết nối tất cả các trung tâm KTTV cấp tỉnh với đài KTTV khu vực và Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương bằng điện thoại cố định, mạng Wan, mạng Internet, Mettv. Mạng thông tin này hiện đang được mở rộng tới một số trạm KTTV.

Ngành khí tượng cũng đã lắp đặt, vận hành ba hệ thống thu và xử lý ảnh vệ tinh phân giải cao: vệ tinh quỹ đạo cực NOAA (Mỹ), MTSAT, Phong Vân (Trung quốc); 6 radar thời tiết ở Phủ Liễn, Việt Trì, Vinh (TRS 2730), Tam Kỳ (DWRS 93C), Nha Trang, TP. HCM (EEC 2500C).

Các mô hình dự báo khí tượng, khí hậu tiên tiến trên thế giới đang được nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong dự báo nghiệp vụ. Năm 2001, mô hình dự báo số đầu tiên đã được thử nghiệm thành công và đưa vào sử dụng nghiệp vụ. Năm 2002, mô hình dự báo khí hậu đã được thử nghiệm có kết quả.

Hàng ngày Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương đã nhận và chạy nghiệp vụ các sản phẩm mô hình số như BoM, ETA, JMA, HRM. Những thành công này tạo ra một bước ngoặt trong công nghệ dự báo khí tượng, khí hậu, góp phần nâng cao chất lượng dự báo.

Về dự báo thuỷ văn, ngoài việc không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng dự báo lũ trên các sông lớn, hệ thống cảnh báo, dự báo lũ quét trên sông, suối nhỏ cũng đã được triển khai thử nghiệm tại Nậm La - Nậm Pàn tỉnh Sơn La từ năm 2001-2002.

Hiện ngành khí tượng tiến hành xây dựng một hệ thống cảnh báo tương tự cho các tỉnh Trung Trung Bộ nhằm rút kinh nghiệm trước khi áp dụng cho các khu vực khác.

Trong năm năm qua, nội dung bản tin dự báo khí tượng thuỷ văn không ngừng được đổi mới, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác phòng chống thiên tai, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.

Bản tin dự báo bão đã kéo dài thời hạn dự báo đến 48 giờ và đang thử nghiệm dự báo đến 72 giờ. Dự báo gió mùa Đông Bắc, các đợt mưa lớn diện rộng, nắng nóng được thực hiện trước từ 1-2 ngày. Dự báo các đợt rét đậm, rét hại phát báo trước 2-5 ngày. Nhận định thời tiết hạn dài: tháng, mùa ngày càng sát thực tế hơn.

Bản tin dự báo thuỷ văn hàng ngày, dự báo lũ, cảnh báo lũ quét, ngập lụt, triều cường đã được phát kịp thời, phục vụ ngày càng hiệu quả cho công tác phòng, chống lụt, bão và vận hành của các nhà máy thuỷ điện và hồ chứa.

Tuy nhiên hoạt động của lĩnh vực vẫn còn những khó khăn như mạng lưới KTTV đã hoạt động khoảng 60 năm, có trạm hơn 100 năm nhưng chưa được quy hoạch hoàn chỉnh.

Ở vùng sâu, vùng xa có địa hình phức tạp, vùng có điều kiện KTTV khắc nghiệt, vùng ven biển và một số vùng trọng điểm phát triển kinh tế, trạm KTTV còn thưa, chưa đáp ứng được đòi hỏi của công tác dự báo cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội.

Các phương tiện đo còn lạc hậu. Việc quan trắc được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thủ công. Một số thiết bị mới hiện đại như ra-đa thời tiết, trạm khí tượng tự động, máy quan trắc bức xạ tự động, trạm phao, máy thuỷ văn tự ghi/tự báo đã được đầu tư nhưng còn quá ít, thiếu đồng bộ. Việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa gặp nhiều khó khăn. Do vậy, hiệu quả khai thác các thiết bị trên chưa cao, một số trạm khí tượng tự động, máy thuỷ văn tự ghi/tự động và trạm phao hoạt động không ổn định.

Trong dự báo KTTV, các trạm chủ yếu sử dụng các phương pháp cũ được thế giới áp dụng từ 30 - 40 năm nay, thông tin dự báo KTTV còn ít, hầu như chưa cảnh báo được một số hiện tượng KTTV nguy hiểm như lốc, tố, lũ quét...; chất lượng dự báo chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai.

Các quy trình, quy định nghiệp vụ về công tác dự báo còn thiếu và chưa đồng bộ, công tác tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và phổ biến kiến thức về KTTV chưa được thường xuyên.

Như đã cảnh báo, rồi đây chắc chắn hậu quả của BĐKH toàn cầu sẽ còn lớn hơn, nhiều hơn, nặng nề hơn mà chúng ta không thể tránh khỏi và hậu quả sẽ khó lường trước được.

Điều có thể dự kiến trước đối với nước ta là mưa sẽ nhiều hơn, lũ lụt, xói mòn, sụt lở đất, lũ quét, cháy rừng, hạn hán sẽ xảy ra thường xuyên hơn (do rừng bị tàn phá quá nhiều), bão cũng sẽ mạnh hơn.

Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, người ta có thể phát hiện sớm và theo dõi khá sát diễn biến của một số thiên tai. Mặc dù vậy, do tính biến động phức tạp của thiên tai, công tác dự báo vẫn còn hạn chế, chưa thể đáp ứng được mong muốn của chúng ta cả về mặt độ lớn cũng như thời gian và quy mô xuất hiện của chúng, đặc biệt đối với những thiên tai có phạm vi ảnh hưởng không lớn, lại diễn ra rất nhanh như lũ quét, tố, lốc...

                                                                                                                                                             Đỗ Duy Hưng
Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu và những hệ lụy khó lường

Thảm họa động đất, sóng thần xảy ra ở Nhật Bản ngày 11/3 vừa qua cho thấy sức tàn phá ghê gớm! Theo các nhà khoa học, tình trạng biến đổi khí hậu là nguyên nhân dẫn đến những “cơn thịnh nộ” như vậy của thiên nhiên.
"Cơn giận" của thiên nhiên
Động đất và sóng thần không do nguyên nhân trực tiếp từ biến đổi khí hậu, nhưng hầu hết những thảm họa thiên tai như bão lũ, nước biển dâng, sa mạc hóa…đều có nguyên nhân từ tình trạng biến đổi khí hậu do chính con người gây nên, làm ảnh hưởng lớn đến hầu khắp các lĩnh vực kinh tế, an sinh xã hội của các nước trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngọai lệ.

Ở nước ta, biến đổi khí hậu thể hiện rõ nhất ở sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan và thiên tai, cả về số lượng lẫn cường độ. Trong khi tình trạng nắng nóng gay gắt kéo dài vào mùa hè kéo theo hạn hán dữ dội trên diện rộng, thì trong những năm gần đây số cơn bão có cường độ mạnh cũng xuất hiện nhiều hơn. Nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển bất thường, phức tạp, khó dự đoán và mùa mưa bão cũng kết thúc muộn hơn.
Cùng với sự nóng lên của bề mặt trái đất, nhiệt độ trung bình của các khu vực ở nước ta cũng tăng lên. Theo các chuyên gia thời tiết, nhiệt độ bề mặt trái đất tăng từ 0,3-0,5 độ C trong năm 2010, từ 1-2 độ C vào năm 2020. Đáng chú ý là ở những vùng hay xảy ra hạn hán như Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ, hạn hán có thể còn tăng lên cả về cường độ và diện tích.


Bài viết về BĐKH các độc giả có thể gửi cho Climate GIS qua địa chỉ e-mail: climategis@gmail.com
Hiện tượng biến đổi khí hậu ở nước ta đã và đang tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực liên quan đến đời sống con người.
Trước hết là vấn đề sức khỏe, nhiệt độ tăng làm tăng tác động xấu đối với sức khỏe con người. Ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung bộ, mùa đông sẽ ấm dần lên, dẫn tới những thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người. Các căn bệnh truyền nhiễm như: sốt rét, sốt xuất huyết có nguy cơ bùng phát thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật mang bệnh đồng thời khiến cho các bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan ra cộng đồng. Những đối tượng dễ bị tổn thương hơn cả là người nghèo, người già, phụ nữ, trẻ em, người dân ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Biến đổi khí hậu cũng gây ra những tác động xấu đối với sản xuất nông nghiệp và dẫn đến những quan ngại về an ninh lương thực. Sự nóng lên trên phạm vi toàn lãnh thổ, đã tác động đến sinh trưởng, thời vụ, năng suất cây trồng, làm tăng nguy cơ lây lan bệnh.
Nhiệt độ có xu hướng tăng cũng ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản, quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm, làm tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của chúng. Ngành nông nghiệp đối mặt với nguy cơ thiếu hụt về giống cây trồng, vật nuôi.
Biến đổi khí hậu cũng có khả năng làm tăng tần số, cường độ và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như: bão, lụt, tố, lốc, hạn hán, rét hại làm vật nuôi chậm phát triển, mùa màng thất bát tất yếu làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực.

Nước ta có bờ biển dài 3.260 km, hơn 1 triệu km2 lãnh hải, trên 3.000 đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ.. Hiện tượng biến đổi khí hậu với tình trạng nước biển dâng làm tăng diện tích đất liền bị ngập lụt, gây  khó khăn cho thoát nước, tăng uy hiếp sự an toàn của những vùng có đê biển, làm xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư vùng ven biển, gây nguy cơ đối với các hoạt động khai thác và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản của ngư dân ven biển.

(Ảnh minh họa. Nguồn ảnh: tamnhin.net)

Các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ… đều chịu những tác động tiêu cực từ hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra. Các khu công nghiệp thường được xây dựng nhiều ở các vùng đồng bằng, nơi có điều kiện giao thông thuận lợi, sẽ phải đối mặt nhiều hơn với nguy cơ ngập lụt và thách thức trong thoát nước do lũ từ sông và nước biển dâng. Các điều kiện khí hậu cực đoan và thiên tai gia tăng cũng gây khó khăn trong việc cung cấp nguyên, vật liệu cho các ngành công nghiệp, đồng thời làm giảm tuổi thọ của các công trình, linh kiện, máy móc, thiết bị.
Chủ động đối phó

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng có tác động trực tiếp và gián tiếp đến các họat động văn hóa, du lịch, thương mại, dịch vụ. Chẳng hạn ở lĩnh vực du lịch, nước biển dâng ảnh hưởng đến các bãi tắm ven biển, nhiều bãi tắm đẹp có thể bị mất đi, một số khác bị đẩy sâu hơn vào đất liền, ảnh hưởng đến việc khai thác. Các khu du lịch sinh thái và các công trình hạ tầng liên quan ở các vùng thấp ven biển có thể bị ngập, buộc phải di chuyển, hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ.

Theo một báo cáo mới nhất của tổ chức LHQ, nguyên nhân của hiện tượng biến đổi khí hậu 90% do con người gây ra, chỉ có 10% là do tự nhiên. Các chuyên gia trên các lĩnh vực môi trường và khí tượng thủy văn cũng đã nhận định: nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính. Theo các nhà khoa học, khí hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và không gian nhất định.

Trong khoảng 1.000 năm trước, nhiệt độ bề mặt của trái đất có tăng, có giảm nhưng không đáng kể, có thể nói là ổn định. Tuy nhiên, trong vòng 200 năm trở lại đây, đặc biệt là trong vòng mấy chục năm vừa qua, khi công nghiệp hóa phát triển, nhân loại bắt đầu khai thác than đá, dầu lửa, sử dụng triệt để các nguồn năng lượng từ các nhiên liệu hóa thạch, cùng với các họat động công nghiệp tăng lên, bắt đầu phát thải vào bầu khí quyển một lượng khí CO2, Nitơ ôxit, Mêtan… khiến cho nhiệt độ bề mặt trái đất nóng lên.

Biến đổi khí hậu có tác động trực tiếp đến cuộc sống của mỗi con người. Để ngăn chặn hiện tượng này theo các chuyên gia môi trường, có hai vấn đề cần đặt ra đó là: giảm tác động biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi.

Để làm giảm tốc độ của biến đổi khí hậu không còn cách nào hơn con người phải tiết kiệm năng lượng, thay đổi nhận thức về sử dụng nhiên liệu, đưa các dạng năng lượng khác: năng lượng nhiên liệu sinh học, năng lượng gió, năng lượng mặt trời vào thay thế các nhiên liệu hóa thạch như: than đá, dầu lửa. Bởi việc lạm dụng các loại nhiên liệu này đang làm phát thải ra không khí một lượng khí cacbon gây hiệu ứng nhà kính.Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, cần ngăn chặn có hiệu quả nạn chặt phá rừng, sử dụng phân bón hữu cơ để ngăn chặn quá trình thải khí Mêtan vào không khí.

Mặt khác, cần phải tích cực triển khai những biện pháp thích ứng, nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và chủ động đối phó với biến đổi khí hậu để tránh nhũng thiệt hại có thể xảy ra. Ở đây, các phương tiện truyền thông, thông tin có một vai trò hết sức quan trọng.    
Nguồn: http://dantri.com.vn 

Biển Hậu Lộc bị ô nhiễm

Hiện tượng ô nhiễm môi trường biển tại 5 xã, gồm Minh Lộc, Ngư Lộc, Hưng Lộc, Hoà Lộc và Đa Lộc của huyện Hậu Lộc (Thanh Hoá) đang rất nghiêm trọng. Hàng vạn ngư dân ven biển vẫn chưa có ý thức bảo vệ môi trường biển.
Chiều về, sóng biển lại cuốn những thứ rác thải nổi trên biển dạt vào ven bờ...
...cho trẻ nhỏ lượn nhặt ve chai, túi nhựa.
UBND các xã ven biển thành lập các Tổ vệ sinh từ 4 - 5 người đi thu gom rác, nhưng tất cả hàng chục tấn rác thải gom được đều cho lên thuyền đổ xuống biển quanh khu vực Hòn Nẹ. Trong đó, chưa kể chất thải lỏng, riêng xã Ngư Lộc mỗi ngày thải bình quân 5,632 tấn rác thải ra biển Diêm Phố.
Mặc cho biển đang bốc mùi mùi hôi tanh, gia đình ngư dân này vẫn có buổi sum họp vui vẻ sau một ngày đi biển.
Hiện tại, do môi trường biển Hậu Lộc đang có dấu hiệu ô nhiễm nặng, nên thuyền đánh cá chỉ bắt được những loại hải sản nhỏ như cá trích, ghẹ và tôm tít (có nơi gọi là con bề, bề).
(Theo_VTC)

Lời nhắc nhở nhân loại về bảo vệ môi trường trước biến đổi khí hậu

Lời nhắc nhở nhân Ngày trái đất 2011

Bạn vẫn thường nghe nhắc đến biến đổi khí hậu nhưng bạn cho rằng nó chẳng mấy ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn. Hãy suy nghĩ lại! Các nhà khoa học đang tiến hành một số nghiên cứu có tính đột phá về các “điểm tới hạn” của khí hậu trên trái đất. Những điểm này là thời điểm mà khí hậu sẽ đột ngột thay đổi, gây ra những biến động sâu sắc đến đời sống của các sinh vật trên trái đất. Những quá trình biến đổi này có liên quan chặt chẽ với nhau, chúng xảy ra theo chu kỳ và bị tác động bởi các hoạt động của con người. Các nhà khoa học đã đưa ra một vài dấu hiệu nhãn tiền khiến con người khó có thể thờ ơ hơn được nữa. Thông tin được tổng hợp và đăng tải trên trang Discovery.

Băng ở Biển Bắc Cực đang tan chảy

Lời nhắc nhở nhân Ngày trái đất 2011

Khối băng có diện tích hơn 14,8 triệu kilômét vuông ở Bắc Cực đang tan chảy nhanh hơn các nhà khoa học dự đoán vào 1 năm trước. Mũi băng ở Bắc bán cầu giờ đây đã trở thành một đảo băng khi băng ở cả hai đầu của nó đã tan chảy, khiến nó trở thành một đảo băng độc lập với các lục địa khác.

Băng là một tấm gương phản xạ bức xạ mặt trời trở lại không gian. Giờ đây, khi diện tích các đảo băng đang bị thu hẹp dần, các đại dương buộc phải hấp thụ lượng bức xạ lớn hơn, và nhiệt độ theo đó cũng tăng lên. Hệ lụy tiếp theo là mùa đông ấm dần lên, và các diện tích băng tiếp tục bị thu hẹp. Các nhà khoa học dự đoán trong vòng 10 - 60 năm tới, băng ở Biển Bắc sẽ không còn hiện diện vào mùa hè nữa.

Đảo băng Greenland và các dải băng ở Tây Nam Cực đang bị đe dọa


Vào những tháng mùa hè, băng trên đảo Greenland (thể tích khoảng 2,9 triệu kilômét khối) tan chảy và tạo thành những cái hồ trên bề mặt đảo băng này. Các nhà khoa học quan sát và nhận thấy nhiều hồ trong số này biến mất chỉ trong vòng 1 ngày, và họ cho rằng nước ở những hồ này đã thoát xuống phía dưới, làm trơn mặt đáy của những dòng sông băng, khiến những sông băng này trôi nhanh hơn ra biển nơi mà chúng nhanh chóng bị tách thành những tảng băng riêng lẻ rồi sau đó tan vào nước biển. Nhiều khu vực trên dải băng Tây Nam Cực cũng đang mỏng đi rất nhanh. Viễn cảnh xấu nhất mà chúng ta nên nghĩ đến là băng tan từ những khu vực này sẽ khiến nước biển dâng lên khoảng hơn 12m trong vòng 300 năm tới.

Khí nhà kính từ những tầng đất đóng băng vĩnh cữu


Những vùng đất đóng băng vĩnh cửu nằm ở Bắc Mỹ, Greenland, Châu Âu và Nga. Theo ước tính, có khoảng 1.672 triệu tấn carbon – hơn gấp đôi lượng carbon có trong khí quyển ngày nay - được lưu giữ trong các vật chất hữu cơ nằm trong các tầng đất này. Khi tầng đất đóng băng này tan, các khí nhà kính như CO2 và methane sẽ thoát vào khí quyển. Lúc ấy, những thực vật sinh sống ở những khu vực này sẽ không thể hấp thụ và chuyển hóa kịp lượng khí khổng lồ trên, hậu quả là trái đất sẽ càng ấm lên.


Hydrate khí thoát ra từ đáy đại dương


Các hydrate khí (còn gọi là băng cháy) là những tinh thể đóng băng của hợp chất gồm nước và các khí tự nhiên như methane. Chúng có mặt ở các lớp trầm tích ở độ sâu khoảng 500m hoặc hơn dưới mặt nước biển. Khi các hydrate khí này thoát ra ngoài do tác động của nhiệt độ hoặc các va chạm vật lý khác sẽ có thể gây những vụ nổ khổng lồ trong lòng đại dương và phóng thích khí methane vào khí quyển. Các nghiên cứu đã xác định, trong lịch sử trái đất đã trải qua thảm họa nói trên ít nhất là 2 lần – cách đây 180 triệu năm và 55 triệu năm, nguyên nhân đều do nhiệt độ trái đất khi đó quá ấm.

Thói quen sử dụng nhiên liệu hóa thạch



Các nguyên liệu hóa thạch như dầu, khí đốt tự nhiên, propane và than đá đã được con người khai thác và sử dụng rộng rãi hàng trăm năm qua. Chúng được dùng để tạo ra điện năng, làm nhiên liệu gia dụng, cung cấp năng lượng cho các phương tiện giao thông và dùng để sản xuất các sản phẩm khác như chất dẻo, nhựa đường, hóa mỹ phẩm, …Các nhà khoa học cho biết, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch (thông qua việc đốt) đã thải ra khoảng từ 6,3-8,5 tỉ tấn CO2 mỗi năm. Trong khi đó, hành tinh của chúng ta chỉ có khả năng hấp thụ và chuyển hóa ½ lượng khí thải trên. Như vậy mỗi năm bầu khí quyển lại ứ đọng khoảng hơn 3 tỉ tấn khí thải nhà kính.


Các khu rừng đang kêu cứu


Ảnh chụp một khu lưu vực vùng Amazon từ vệ tinh vào các năm 1975, 1989, 2001. Từ trái qua phải, những hình ảnh này cho thấy quá trình đô thị hóa diễn ra ở khu vực trước đây là rừng rậm.
Các khu rừng trên hành tinh của chúng ta có một sứ mạng đặc biệt, đó là hấp thụ và chuyển hóa khí CO2. Tuy nhiên, do các hoạt động khai thác rừng bừa bãi, các hoạt động nông nghiệp và những hoạt động khác của con người mà diện tích rừng trên trái đất đang ngày một teo nhỏ. Lấy ví dụ, khu rừng mưa Amazon sẽ có nguy cơ biến mất trong vòng 50 năm tới nếu con người tiếp tục tàn phá như hiện nay. Châu Phi – nơi 90% dân số sử dụng nhiên liệu khai thác từ rừng - là nơi nạn phá rừng diễn ra khốc liệt nhất với tỷ lệ gấp đôi tỷ lệ phá rừng của thế giới. Và như một hệ quả tất yếu, mất rừng sẽ đồng nghĩa với mất các “nhà máy” xử lý CO2, và trái đất tiếp tục nóng lên.

Hiện tượng El Nino ngày càng phổ biến


Ngày nay, El-Nino được dùng để chỉ hiện tượng nóng lên khác thường của nước biển. Hiện tượng El-Nino thường lặp lại với chu kỳ từ 8 đến 11 năm, chu kỳ ngắn hơn là 2 đến 3 năm. Giữa các thời kỳ nóng lên bất thường này, đôi khi còn xảy ra hiện tượng ngược lại, nước biển lạnh đi còn gọi là La-Nina.

Khi xuất hiện, ngoài việc ảnh hưởng đến các hoạt động đánh bắt cá, El-Nino gây ra những thiên tai nặng nề như mưa lớn, bão, lũ ở những vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp, hay hạn hán, cháy rừng ở vùng khác, làm thiệt hại lớn về người, thảm hoạ về kinh tế - xã hội và đặc biệt là những thiệt hại không thể khắc phục về môi trường.

Các khối nước sâu đang thay đổi


Nước ở tầng đáy đại dương luôn luân chuyển vòng quanh trái đất tựa như một dải băng chuyền khổng lồ. Các tầng nước ấm trên bề mặt di chuyển lên phía bắc vào Đại Tây Dương để rồi sau đó nguội đi và chìm xuống tầng dưới. Sau quá trình làm nguội này, các dòng nước này di chuyển xung quanh khu vực ngoài khơi Châu Phi, ở đây chúng lại được làm ấm và trồi lên bề mặt khi trôi xuống Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Các nhà khoa học dự đoán trong vòng 100 năm tới, hiện tượng ấm lên toàn cầu sẽ can thiệp vào quá trình hình thành các tầng nước sâu này. Một lượng lớn nước tan ra từ các sông băng cộng với nhiệt độ ngày một tăng cao sẽ là thay đổi nghiêm trọng quy trình vận hành của thời tiết, gây ra những biến đổi khí hậu sâu sắc trên phạm vi toàn thế giới.


Các đại dương bị axit hóa và giảm hàm lượng oxy


Các đại dương trên trái đất có thể ví như những bể chứa carbon vì khí CO2 từ khí quyển bị nước biển hấp thụ. Vì vậy, với lượng CO2 khổng lồ trong khí quyển như hiện nay, càng ngày nước biển càng bị axit hóa. Nước biển bị axit hóa sẽ làm tổn thương đến đời sống ở các rạn san hô cũng như đời sống của các sinh vật biển nói chung, mà tổn thương nghiêm trọng nhất là làm đứt gãy chuỗi thức ăn ở các vùng biển. Khi các đại dương ấm lên do khí hậu thay đổi, khả năng hòa tan CO2 của nước biển sẽ giảm do khí này khó hòa tan hơn trong nước ấm. Do đó, khí nhà kính này sẽ tồn ứ ngày một nhiều trong khí quyển và tiếp tục gây ra các hậu quả dây chuyền.
Theo: http://www.vn24g.com

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482