DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Ứng dụng viễn thám trong điều tra thăm dò khoáng sản

Biến đổi khí hậu và các hệ quả của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ chiến tranh

Những cuộc nội chiến và xung đột vũ trang tại châu Phi sẽ tăng lên trong khoảng thời gian từ nay tới năm 2030 do tình trạng ấm lên toàn cầu.
> Biến đổi khí hậu đáng sợ hơn đại chiến thế giới
Trước đây những nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu với các cuộc chiến tại châu Phi chỉ tập trung vào lượng mưa. Nhưng mới đây các nhà khoa học của Đại học California và Đại học Stanford (Mỹ) đã phân tích cả dữ liệu về lượng mưa, nhiệt độ và số lượng các cuộc xung đột vũ trang tại châu Phi từ năm 1981 tới 2002.
Theo New Scientist, nhóm nghiên cứu nhận thấy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và nguy cơ xung đột vũ trang. Trong những giai đoạn mà nhiệt độ trung bình tăng thì số lượng các cuộc chiến cũng leo thang. Các tính toán dựa trên mô hình khí hậu cho thấy, nguy cơ chiến tranh sẽ tăng lên 54% trong khoảng thời gian từ nay tới năm 2030, với số người chết tăng thêm 393.000. Marshell Burke và David Lobell, hai trưởng nhóm nghiên cứu, cho rằng lượng khí thải sẽ không giảm trong ngắn hạn nên nhiệt độ trái đất còn tăng và các cuộc chiến trong tương lai sẽ thảm khốc như hiện nay.
Hơn hai triệu người mất nhà cửa và trở thành dân tị nạn vì cuộc nội chiến ở Sudan. Ảnh: ehponline.org.
Hơn hai triệu người mất nhà cửa và trở thành dân tị nạn vì cuộc nội chiến ở Sudan. Ảnh: ehponline.org.
Nhiều nhà khoa học khác đồng ý rằng sự thay đổi nhiệt độ có thể tác động tới nguy cơ chiến tranh, song họ không nghĩ mối tương quan lại mạnh đến thế. “Tôi hoài nghi kết luận của Burke và Lobell”, Peter Brecke, một chuyên gia của Viện Công nghệ Georgia (Mỹ), phát biểu.
Cullen Hendrix, một nhà khoa học chính trị của Đại học North Texas (Mỹ), cho rằng có nhiều vấn đề có thể làm sai lệch kết quả nghiên cứu của Burke và Lobell. Thứ nhất, nghiên cứu tập trung vào giai đoạn mà số lượng các cuộc chiến cao hơn hẳn so với những giai đoạn khác. Thứ hai, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các cường quốc đã cắt viện trợ dành cho châu Phi khiến nhiều nước ở lục địa đen rơi vào cảnh nội chiến. Như vậy sự tăng nhiệt độ không phải là nhân tố hàng đầu dẫn tới nguy cơ chiến tranh.
“Chúng tôi rất vui nếu ai đó chứng minh rằng chúng tôi sai. Nhưng mối liên hệ giữa nhiệt độ và nguy cơ chiến tranh vẫn rất chặt chẽ ngay cả khi chúng tôi loại trừ các yếu tố khác, như mức độ dân chủ và thực trạng kinh tế”, Lobell và Burke tuyên bố.
Burke và Lobell cho rằng khi nhiệt độ tăng, sản lượng lương thực sẽ giảm do cây trồng sinh trưởng kém hơn. Ngoài ra năng suất lao động trong nhiều ngành kinh tế khác cũng giảm. Tình trạng đó khiến kinh tế tụt dốc. Khi nền kinh tế suy yếu, căng thẳng xã hội và nguy cơ xung đột sẽ tăng. Sự ấm lên toàn cầu cũng khiến số lượng nguồn nước ngọt giảm dần. Trong tương lai tranh chấp nguồn nước sẽ trở thành một trong những nguyên nhân gây mâu thuẫn giữa các quốc gia.

Biến đổi khí hậu làm tăng xuất hiện các bệnh tật mới

Trong 2 ngày 4 và 5/11, cuộc Hội thảo Á - Âu “Chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và các bệnh mới nổi” đã được Việt Nam và Hungari đồng tổ chức tại Hà Nội.
Với sự tham gia của gần 200 các nhà hoạch định chính sách và các nhà khoa học của các nước thành viên ASEM cũng như các đại diện đại sứ quán và lãnh sự quán các nước ASEM tại Việt Nam, Hội thảo đã đề cập đến một nguy cơ đang xảy ra – tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với sức khỏe – chia sẻ các giải pháp cần thiết để ứng phó.

Trong số rất nhiều hậu quả của BĐKH, chủ yếu ảnh hưởng hiện tượng nóng lên của Trái đất đến sức khỏe và bệnh tật là vấn đề được tất cả mọi người đặc biệt quan tâm. Sự tăng nhiệt độ trung bình đã dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với người già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh và ở các nước nhiệt đới, sốt rét, sốt xuất huyết, đồng thời tạo điều kiện tăng trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn, côn trùng mang mầm bệnh. Nước biển dâng cao tác động tiêu cực đến các hoạt động sản xuất, đời sống và sức khỏe của dân cư ven biển.

BĐKH còn làm những thiên tai (bão lũ, lốc xoáy, mưa lớn, hạn hán…) diễn ra thường xuyên hơn, gây tình trạng thiếu lương thực, nước uống và những thiệt hại người và của cho nhiều vùng.

Trong khi đó, theo Cục trưởng Cục Y tế quốc gia Hungari Ferenc Falus, để đối phó với BĐKH, ngành y tế của các nước đang gặp thách thức lớn trong việc đầu tư, tăng kinh phí và nhân lực cho hệ thống y tế. Lần đầu tiên, đại biểu các nước ASEM cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và tìm ra các giải pháp ứng phó với BĐKH và các bệnh mới nổi.
Mô tả ảnh.
BĐKH làm thiên tai (bão lũ, lốc xoáy, mưa lớn, hạn hán…) diễn ra thường xuyên hơn, gây tình trạng thiếu lương thực, nước uống và những thiệt hại về người và của cho nhiều vùng.

Về phía Việt Nam Bộ trưởng Y tế Ngyễn Quốc Triệu cho biết, Bộ đã xây dựng kế hoạch tổng thể để giảm nhẹ các ảnh hưởng của BĐKH đối với sức khỏe người dân trong giai đoạn 2010-2015. Các hoạt động sẽ tập trung vào các khu vực dễ bị ảnh hưởng do BĐKH; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm để giám sát BĐKH, trong đó chú ý đến các bệnh dịch, các bệnh tái xuất hiện và mới nổi; xây dựng và nhân rộng mô hình cộng đồng ứng phó với BĐKH; nâng cao nhận thức cho người dân về ảnh hưởng của BĐKH đến sức khỏe và nguy cơ phát sinh, phát triển các bệnh mới, triển khai các biện pháp phòng chống các bệnh truyền nhiễm lây lan.

Bộ trưởng khẳng định, Việt Nam với tư cách thành viên của ASEM, quyết tâm giải quyết các nguy cơ do BĐKH gây ra và mong muốn được hợp tác với các nước trên thế giới và khu vực phòng chống các bệnh dịch liên quan đến BĐKH. 
9 bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam liên quan đến BĐKH:
Khí hậu nóng lên là nguyên nhân phát sinh 9 bệnh truyền nhiễm trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đó là các bệnh:
- Bệnh cúm A(H1N1) hiện đang xảy ra
- Bệnh cúm A(H5N1): xảy ra từ tháng 12/2003 đến tháng 9/2008.
- Bệnh sốt xuất huyết.
- Bệnh sốt rét.
- Bệnh tả: xảy ra vào các năm 2004, 2007, 2008.
- Bệnh thương hàn.
- Bệnh tiêu chảy.
- Bệnh viêm não do virus.
- Bệnh viêm đường hô hấp cấp tính (SARC): 2003.

Tháo chạy ồ ạt do biến đổi khí hậu

Tình trạng ấm lên của địa cầu đang buộc hàng trăm triệu người rời bỏ nơi sinh sống của họ. Nếu tình hình đó tiếp diễn, chúng ta sẽ phải chứng kiến những cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Thiên tai sẽ đẩy nhiều người sống ở vùng nông thôn tới thành thị. Ảnh:
Ảnh minh họa: abcnews.com.
Một báo cáo của Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) dự đoán ít nhất 200 triệu người sẽ bỏ nhà cửa vì các nguyên nhân liên quan tới môi trường từ nay tới năm 2050. Trong trường hợp xấu nhất, con số đó có thể lên tới 700 triệu.
Các nhà khoa học của CARE International và Đại học Columbia (Mỹ) phỏng vấn hơn 2.000 người di cư tại 23 quốc gia về nguyên nhân khiến họ rời bỏ nơi sinh sống. Kết quả cho thấy những vấn đề liên quan tới môi trường đang gây nên sự dịch chuyển dân cư.
192 nước đang đàm phán để đạt được một thỏa thuận về tình trạng ấm lên toàn cầu. Viễn cảnh đen tối về hiện tượng di cư lớn nhất trong lịch sử nhân loại do thiên tai và ô nhiễm môi trường có thể được đưa vào thỏa thuận này. Văn bản dự thảo kêu gọi các nước chuẩn bị kế hoạch để thích nghi với những đợt di cư ồ ạt do thay đổi khí hậu gây nên.
Theo IOM, những người sống trên vùng châu thổ của các con sông lớn trên thế giới có thể hứng chịu nhiều hậu quả do tình trạng tan băng. Cư dân sống gần sa mạc sẽ đối mặt với tình trạng khô hạn ngày càng tăng, trong khi những người sống trên các hòn đảo có thể mất đất vì mực nước biển tăng.
Các nhà nghiên cứu không đánh giá những cuộc xung đột liên quan tới biến đổi khí hậu. Song họ nhấn mạnh rằng, một trong những nhân tố gây nên cuộc chiến tại khu vực Darfur của Sudan là tranh chấp nguồn nước và đồng cỏ. Mối quan ngại về nguy cơ bùng phát xung đột liên quan tới nước đang tăng lên từng ngày tại nhiều nơi trên thế giới.
Báo cáo của IOM dự đoán 40 quốc đảo có thể biến mất (một phần hoặc hoàn toàn) nếu mực nước biển tăng thêm 2 mét. Maldives – được tạo nên bởi 1.200 đảo trên Ấn Độ Dương, đã lên kế hoạch bỏ một số đảo và xây dựng hệ thống đê đập trên những dảo còn lại. Ngoài ra, đảo quốc này còn tính tới khả năng đưa toàn bộ 300.000 dân tới nước khác.
Hiện tượng tan băng ở dãy Himalaya có thể dẫn tới tình trạng lũ lụt thường xuyên ở sông Hằng, sông Mekong, sông Dương Tử và sông Hoàng Hà. 4 sông này cung cấp nước cho 1,4 tỷ người (gần 1/4 dân số toàn cầu) tại Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc. Sau lũ lụt sẽ là hạn hán do không còn băng để cấp nước cho các dòng sông.
Tại Mexico và Trung Mỹ, hạn hán và bão lớn đã gây nên những cuộc di cư lớn kể từ thập niên 80. Tình hình ở đây sẽ trở nên tồi tệ hơn trong những thập kỷ tới. “Các thảm họa thiên nhiên chỉ gây nên tình trạng di cư ngắn hạn, nghĩa là người dân chỉ bỏ nhà cửa trong một thời gian nhất định. Phần lớn hoạt động di cư sẽ diễn ra trong ranh giới quốc gia, từ vùng nông thôn tới các thành phố”, Charles Ehrhart, một nhà nghiên cứu của CARE International, nhận định.

Biến đổi khí hậu đe doạ các TP biển châu Á

 -Khu vực châu Á – Thái Bình Dương (trong đó có VN) được xem là nơi có mức độ rủi ro cao nhất thế giới do thiên tai và biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu đe doạ các TP biển châu Á
Hội nghị quốc tế về giảm thiểu rủi ro do thiên tai và biến đổi khí hậu cho các TP biển khai mạc tại Đà Nẵng sáng 18/2 (Ảnh: HC)
Nhiều khả năng chắc chắn châu Á – Thái Bình Dương sẽ nhận một hoặc nhiều “thảm hoạ khổng lồ”, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng triệu người trong thế kỷ 21.
Phó Giáo sư - Tiến sĩ (PGS-TS) Rajib Shaw (Đại học Kyoto, Nhật Bản) đã cho biết như trên tại hội nghị tập huấn quốc tế “Giảm thiểu rủi ro do thiên tai và biến đổi khí hậu cho các TP biển”.

Hội nghị do Ban Thư ký CITYNET (mạng lưới vùng các chính quyền địa phương về quản lý sự định cư của con người) phối hợp với UBND TP Đà Nẵng tổ chức từ 18-20/2.


Theo PGS-TS Rajib Shaw, những tác động thảm hoạ thiên nhiên tồi tệ như động đất, núi lửa, lốc xoáy, các đợt gió mùa… ở châu Á – Thái Bình Dương đang có xu hướng gia tăng rõ rệt trong các thập kỷ qua. Khu vực này được xem là nơi có mức độ rủi ro cao nhất thế giới và những TP trong khu vực là trung tâm của rủi ro.

"Một số nghiên cứu dự báo một trận động đất ảnh hưởng đến một triệu sinh mạng sẽ xảy ra ở vành đai núi Himalaya thuộc phía Nam châu Á. Chúng tôi đã tranh luận rằng các TP lớn của Trung Quốc, Indonesia, Philipin cũng là “những ứng viên”!” - GS-TS Rajib Shaw nói.

Biến đổi khí hậu đe doạ các TP biển châu Á
TP biển Đà Nẵng đã và đang phải đối mặt với nhiều mối đe doạ do thiên tai và biến đổi khí hậu. (Ảnh: HC)
Theo ông, nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro cao xuất phát từ quá trình đô thị hoá quá nhanh, gây áp lực lớn về đất. Vấn đề cộng đồng chiếm dụng các khu vực có môi trường không bền vững như khu vực suờn đồi dốc dễ xảy ra nguy cơ sụt đất, vùng ven sông bị lụt thường xuyên, vùng ven biển bị de dọa bão, sóng dâng cao hay khu vực đất có nguy cơ bị lún. 

Trong mọi trường hợp rủi ro, gánh nặng này sẽ đè lên bộ phận dân cư có kinh tế thấp. Có những rủi ro tiềm ẩn, thường không nhận ra và tiếp tục tàn phá.

Thảm hoạ thiên nhiên không chỉ huỷ hoại tính mạng, đời sống người dân mà còn kéo dài tình trạng nghèo đói và cuối cùng là làm suy yếu những nỗ lực cải thiện các khu đô thị dễ bị tổn thương.

Tuy nhiên, theo nhiều đại biểu tham dự hội nghị, hiện các phương pháp giảm thiểu rủi ro vẫn chưa được xem xét một cách cân xứng trong việc thực hiện quy hoạch ở mức độ địa phương. Các phương pháp giảm thiểu rủi ro  hiện chỉ được hiểu theo cách truyền thống như một phương pháp riêng rẻ, không liên quan đến xu hướng quy hoạch đô thị.

Ngập do biến đổi khí hậu và đô thị hóa

 - VN là một trong 5 nước trên thế giới chịu ảnh hưởng lớn từ biến đổi khí hậu. Ngập lụt ngày càng tăng bởi ở các đô thị lớn việc đầu tư cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ với tốc độ phát triển.
Nhận định đó được nhấn mạnh ở hội thảo khoa học quốc tế về tác động biến đổi khí hậu đến sự ngập lụt đô thị, diễn ra ngày 24 và 25/6, do Trung tâm Điều hành chương trình chống ngập TPHCM phối hợp với Đại học Quốc gia TPHCM, Viện Khoa học-Công nghệ Việt Nam và Hội Nghiên cứu thủy lực quốc tế tổ chức đã thu hút hàng trăm đại biểu, chuyên gia trong và ngoài nước tham gia.

Ngập do biến đổi khí hậu và đô thị hóa
Ngập lụt ở TP.HCM. Ảnh: V.Giang
Các chuyên gia, đại biểu đều quan ngại vì VN là một trong 5 nước trên thế giới chịu ảnh hưởng lớn từ biến đổi khí hậu (BĐKH), trong đó một trong những tác động, biểu hiện là ngập lụt ngày càng tăng nhưng ở các đô thị lớn việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là hạ tầng thoát nước vẫn chưa đồng bộ với tốc độ phát triển
Ngập lụt, nắng nóng ngày càng tăng
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Văn Đức cho biết: Ứng phó với BĐKH có tính chất cấp thiết và sống còn của Việt Nam. VN là một trong 5 nước chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH trên toàn cầu.
Khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình nước ta tăng khoảng 0,7°C; mực nước biển đã dâng khoảng 20cm. BĐKH đã và đang tác động mạnh mẽ đến nước ta mà điển hình là làm cho các thiên tai, đặc biệt bão lũ, ngập lụt, hạn hán ngày càng khốc liệt hơn. Dự tính tới năm 2100, mực nước biển sẽ tăng lên tới 1m, nhiệt độ tăng khoảng 3°C. Phó Chủ tịch TP.HCM cho biết thêm, nhiệt độ TP.HCM những năm qua tăng 2°C.

Ngập do biến đổi khí hậu và đô thị hóa
Các chuyên gia tại hội thảo trăn trở với bài toán ngập nước đô thị. Ảnh: V.Giang
Theo tính toán, nếu nước biển dâng 1m sẽ có 10% dân số nước ta bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10%, khoảng 40 ngàn km² đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm.
Theo Trung tâm điều hành chống ngập TP.HCM, mực nước biển đo được ở Vũng Tàu đã tăng khoảng 0,8cm/năm, còn mực nước các sông, kênh của TPHCM đo được ở Phú An tăng đến 1,5cm/năm. Những cơn mưa lớn ngày một dày đặc hơn với vũ lượng trung bình năm sau cao hơn năm trước khoảng 0,8mm.
Nếu trước đây cứ 5 năm mới có những cơn mưa có vũ lượng trên 100mm thì nay chỉ 3 năm đã thấy xuất hiện. Còn những cơn mưa có vũ lượng khoảng 100mm thì năm nào cũng xuất hiện. Đặc biệt, vào đầu mùa mưa năm nay trên địa bàn TPHCM đã xuất hiện cơn mưa hiếm thấy với lượng mưa 117mm.
Nếu như năm 1990, TP.HCM chỉ có 10 điểm ngập thì đến năm 2003, số điểm ngập đã tăng lên 80 điểm và hiện là 100 điểm ngập.Th.s Hoàng Phi Long, ĐH Bách Khoa dự tính, nếu mức thủy triều đỉnh chỉ cần tăng lên 50cm nữa thì gần như 90% diện tích đất của TPHCM đều bị ngập.
Đô thị hóa… phá môi trường
Nhiều đại biểu cho rằng, tác động của biến đổi khí hậu gây mưa lớn, ngập lụt ngày càng tăng là một trong những nguyên nhân làm cho nhiều nỗ lực chống ngập của TP.HCM không đạt được kết quả như mong muốn. Nhiều công trình chống ngập của thành phố đang xây dựng và dự kiến hoàn thành trong năm 2012 sẽ có nguy cơ trở thành… lạc hậu ngay trong thời điểm hoàn thành.
Không ít ý kiến nhấn mạnh sự thiếu tầm nhìn xa và quá trình đô thị hóa chưa đồng bộ đã tăng nguy cơ ngập lụt.

San rạch để xây đô thị, tất yếu sẽ ngập! Ảnh: VNN
Cụ thể, khi nói về khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng (PMH), TP.HCM, GS.TSKH Lê Huy Bá (Viện Khoa học Công nghệ Tài nguyên - Môi trường) cho rằng:"Mặc dù nhìn vào khu đô thị PMH mới xây dựng này thì ai cũng thích, cũng trầm trồ thán phục nhưng người ta phải hiểu rằng, hệ sinh thái đô thị là hệ sinh thái nhân tác, rất mẫn cảm. Hơn nữa, TP HCM là đô thị bán ngập triều, muốn giữ cho một đô thị trên vùng đất ướt như vậy tồn tại thì phải có một khoảng trống làm hệ sinh thái đệm. Như ta đã biết, đây là vùng trũng, thực chất là bồn trũng, mang sứ mệnh của một “hồ điều hòa tự nhiên. Vai trò chống ngập mùa mưa cho cả thành phố chính là chỗ này đây thì lại bị san lấp, xây đô thị mới!"
PGS-TS Trần Thục, đại diện Ban chỉ đạo Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu cũng cho rằng bên cạnh nguyên do biến đổi khí hậu, một nguyên nhân gây ngập lụt ở các thành phố lớn còn do tốc độ đô thị hóa tăng nhanh nhưng thiếu sự đầu tư đồng bộ trong xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng thoát nước; sự sụt lún của địa tầng do khai thác nước ngầm quá mức.
Tại TP.HCM, chỉ trong 5 năm lại đây, hàng loạt các nhà cao tầng mọc lên trong khi 5 dự án đầu tư mới, cải tạo lại hệ thống thoát nước với tổng vốn đầu tư gần 1 tỷ USD vẫn chưa có dự án nào hoạt động. Hơn nữa, cho đến khi dự án này đi vào hoạt động, dự kiến 2015 thì có thể đã lạc hậu so với tình hình thực tế và tình trạng ngập có thể tiếp tục lặp lại.
Ông Nabiul Islam, Giám đốc Viện Nghiên cứu khoa học và phát triển Bangladesh nhấn mạnh thêm, cần xây dựng những giải pháp thích nghi, sống chung với ngập lụt vì những tác hại, ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu là không thể tránh khỏi. Viện trưởng Viện Tài nguyên nước ngầm Bồ Đào Nha, ông Lobo-Ferrira, cũng đồng tình, nói, Chính phủ Việt Nam cần phải xác định rõ khu vực sẽ phải chịu ảnh hưởng bởi ngập lụt và mức độ ngập. Từ đó, thông qua các phương tiện truyền thông đưa ý kiến của các nhà khoa học đến với từng người dân – người trực tiếp tham gia chống biến đổi khí hậu để họ nhận thấy rõ tác hại và những biện pháp thực hiện phòng chống.

Khốn cùng vì biến đổi khí hậu

- Trên thế giới, khoảng 150.000 người chết và 5 triệu người ốm một khi biến đổi khí hậu (BĐKH) gia tăng. Riêng ở Việt Nam, 22 triệu người sẽ lâm vào cảnh khốn cùng...

BĐKH đe doạ cuộc sống của mọi người: dịch bệnh, nghèo đói, tranh chấp tài nguyên và dẫn đến xung đột, bất ổn xã hội…
Trong khuôn khổ Hội thảo "BĐKH toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam" đang diễn ra tại Hà Nội (26-29/2), báo cáo của PGS.TS Nguyễn Đình Hoè, Chủ nhiệm bộ môn quản lý môi trường (Trường ĐH Quốc gia Hà Nội) và TS. Nguyễn Ngọc Sinh - Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN đã thu hút sự chú ý đặc biệt của các đại biểu và các nhà khoa học trong hội thảo.
Đòn chí mạng giáng vào nông nghiệp
Hạn hán đã gây thiệt hại mùa màng đến 7,4 tỉ baht ở Thái Lan.
Một cảnh hạn hán (Ảnh: VNN)
Dẫn số liệu của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN), báo cáo trên cho biết, nếu mực nước biển dâng cao 5m thì VN sẽ mất tới 16% diện tích đất đai; khoảng 35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốc nội bị đe doạ. Đặc biệt cộng đồng người nghèo sống tại khu vực Đồng bằng sông Hồng và sông Mekong sẽ phải gánh chịu nhiều nhất những ảnh hưởng nặng nề của BĐKH.
Những nghiên cứu mới nhất của IPCC đã phác thảo một viễn cảnh kinh hoàng… Khi Trái đất nóng lên sẽ kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng. Có khoảng 20-30% các loài động, thực vật có nhiều nguy cơ bị diệt chủng nếu nhiệt độ Trái đất tăng thêm từ 1,5-2,50 C so với mức trung bình của 20 năm cuối thế kỷ XX.

Sinh thái bị nhiễu loạn dẫn đến nguồn lợi đa dạng sinh học bị cắt giảm, điều này giáng một đòn chí mạng vào những vùng mà đời sống của một số đông dân chúng dựa chủ yếu vào nông nghiệp và nguồn lợi tự nhiên (hái lượm, đánh bắt).
Điều khiến các nhà khoa học Việt Nam lo lắng, đó là nguồn nước phục vụ cuộc sống và nông nghiệp. Gần 60% nguồn nước của Việt Nam là quá cảnh từ nước ngoài, chủ yếu qua các hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long. Đó cũng là lý do tại sao năm 2007 vừa qua mực nước sống Hồng của VN cạn ở mức kỷ lục trong vòng 100 năm qua. Theo khuyến cáo của FAO, hiện nay chúng ta đã sử dụng khoảng 40% lượng nước, xấp xỉ lượng nước được sử dụng trong ngưỡng an toàn sinh thái.
Hiện nay, các nước thượng nguồn đã đắp đập, chiếm thế thượng phong trong nguồn nước. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến VN, vì VN có 72% dân số sống bằng ngành nông nghiệp. Sự tan băng hà vùng thượng nguồn các sông Hồng và Mekong cũng như sự gia tăng nhu cầu sử dụng nước sẽ dẫn đến tranh chấp nguồn nước của 2 hệ thống sông này.
5 triệu người ốm…
Theo nhận định của TS. Nguyễn Ngọc Sinh trong mấy năm gần đây biểu hiện của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam đã rất rõ nét như mưa lũ bất thường, hạn hán ngày càng khắc nghiệt... Bắc Trung Bộ có nguy cơ gia tăng bão lũ, trong khi vùng ven biển Nam Trung Bộ đang gia tăng độ khô hạn và có nguy cơ hạn hán. Hậu quả của bão lũ, hạn hán trực tiếp gây chết người, dịch bệnh sau lũ mùa màng mất mùa, làm tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng, giảm khả năng kháng bệnh.
Theo khuyến cáo của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc UNDP, với nhiệt độ tăng lên 2 độ C và mực nước biển dâng 1m sẽ làm cho 22 triệu người Việt Nam mất nhà cửa, trong khi VN là nước nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đô thị công nghiệp không có nước thì sống bằng nghề gì?
Do vậy, biến đổi khí hậu có tác động mạnh vào những người nghèo đặc biệt là những người nông dân. Bài học thảm họa những cơn lũ ở miền trung năm qua đã minh chứng phần nào cho vấn đề này.
Đồng thời, khi nhiệt độ toàn cầu ấm lên sẽ tạo điều kiện cho dịch bệnh cũ và dịch bệnh mới phát triển mà con người khó có thể kiểm soát được.

Trong báo cáo gần đây của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPPC) đã khẳng định dưới tác động của nhiệt các căn bệnh đã gia tăng như: sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não (truyền qua muỗi); các bệnh đường ruột (qua môi trường nước), các bệnh suy dinh dưỡng, bệnh phổi... Những bệnh này đặc biệt ảnh hưởng lớn đến các vùng kinh tế kém phát triển, đông dân và có tỷ lệ đói nghèo cao.
Theo nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), BĐKH làm tăng tỷ lệ bệnh sốt rét, tiêu chảy và suy dinh dưỡng. Dự báo mỗi năm biến đổi khí hậu sẽ làm khoảng 150.000 người chết và 5 triệu người ốm.

22 triệu người Việt Nam khốn đốn
Mô tả ảnh.
Miền Trung Việt Nam sau bão Xangsane vào tháng 11/2007. (Ảnh: VNN)
Trong bối cảnh đó, vậy biến đổi khí hậu sẽ làm cho 22 triệu người VN mất nhà cửa, đói nghèo dịch bệnh gia tăng họ sẽ đi đâu? Làm gì? Hiện tượng tị nạn môi trường sẽ xảy ra và kéo dài trên diện rộng. Với đất đai đã có chủ sử dụng, đã quy hoạch, giao thông và thông tin thuận lợi, các dòng dân di cư sẽ khác xa so với trước đây.
Dòng người tị nạn xâm nhập dần vào các đô thị ít chịu ảnh hưởng của BĐKH, tạo ra các khu dân cư kiểu “xóm liều, ổ chuột”, gia tăng lực lượng lao động giản đơn, bán hàng rong, tạo thành các nhóm dân lang thang trong đô thị (floating peoples), góp phần nông thôn hoá đô thị và làm cho quy hoạch các khu vực đô thị trở thành không thể kiểm soát được.

Phụ nữ hoá quản trị hộ gia đình tại các vùng chịu ảnh hưởng của BĐKH do đàn ông phải rời nhà đi kiếm sống trong thời gian dài, tạo ra những hệ luỵ khó khắc phục về mặt giáo dục trẻ em, trật tự xã hội và kiểm soát các bệnh xã hội như HIV-AIDS, lao, STD (các bệnh lây truyền qua đường tình duc). Những vấn đề này đã từng xảy ra ở nhiều vùng nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ đã được cảnh báo.

Các ổ sinh thái trống rỗng hoặc kiệt quệ do BĐKH, tạo tiền đề cho các loài ngoại lai có khả năng thích nghi tốt hơn xâm nhập.Trong số đó, có thể có những loài cây trồng hay vật nuôi biến đổi gen (GMO) chưa được kiểm định về tính an toàn sinh học, được người dân hay các công ty giống vật nuôi cây trồng nhập vào mà cơ quan kiểm dịch động thực vật khó bề kiểm soát hết.

Biến đổi khí hậu đáng sợ hơn đại chiến thế giới

Thủ tướng Anh khẳng định tình trạng ấm lên của trái đất có thể gây nên một cuộc khủng hoảng kinh tế mà mức độ thiệt hại vật chất của nó lớn hơn cả hai cuộc chiến tranh thế giới và Đại suy thoái gộp lại.
Thủ tướng Anh cho rằng biến đổi khí hậu sẽ khiến hàng trăm nghìn người chết mỗi năm vì lũ lụt và hạn hán. Ảnh: Reuters.
Thủ tướng Anh cho rằng biến đổi khí hậu sẽ khiến hàng trăm nghìn người chết mỗi năm vì lũ lụt và hạn hán. Ảnh: Reuters.
Phát biểu tại một hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu ở thủ đô London hôm qua, Thủ tướng Anh Gordon Brown nói rằng các nhà lãnh đạo thế giới phải đạt được một thỏa thuận để ngăn chặn tình trạng ấm lên toàn cầu. Nếu nỗ lực đó thất bại, mỗi năm thế giới không chỉ mất hàng trăm nghìn sinh mạng người do hạn hán và lũ lụt, mà còn phải hứng chịu một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất trong vài thập niên gần đây.
“Đó là nguy cơ về mặt nhân đạo, sinh thái và kinh tế. Nếu không ngăn chặn những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu, GDP toàn cầu sẽ giảm 20%. Mức thiệt hại kinh tế này lớn hơn tổn thất do hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc khủng hoảng Đại suy thoái gây nên. Chúng ta có thể khẳng định rằng đây là thời điểm có ý nghĩa hệ trọng đối với thế giới của chúng ta”, ông nói.
Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu do Liên Hợp Quốc chủ trì vào tháng 12 năm nay tại Copenhagen (Đan Mạch) sẽ tập trung vào nỗ lực ký kết môt thỏa thuận để ngăn chặn tình trạng ấm lên toàn cầu. Lãnh đạo của khoảng 190 nước sẽ tham dự hội nghị.
Ông Gordon Brown phát biểu tại Diễn đàn các nền kinh tế lớn tại London. Ảnh: AP.
Ông Gordon Brown phát biểu tại Diễn đàn các nền kinh tế lớn tại London. Ảnh: AP.
Tuy nhiên, cho tới thời điểm này các cuộc thương lượng vẫn đang lâm vào thế bế tức do những nước giàu như Mỹ không muốn chấp nhận những cam kết nghiêm ngặt trong việc giảm khí thải carbon. Trong khi đó, các nước đang phát triển như Trung Quốc và Ấn Độ từ chối hành động nếu nhóm nước giàu không chịu đưa ra cam kết.
Telegraph cho biết, trong nỗ lực cuối cùng nhằm giải quyết bất đồng giữa các nước, Anh mời bộ trưởng và quan chức từ 17 quốc gia tới London để tham dự Diễn đàn các nền kinh tế lớn. Cuộc họp bắt đầu từ ngày 19/10.
Ông Brown – người sẽ tới Copenhagen vào tháng 12 để tham gia hội nghị về khí hậu của Liên Hợp Quốc – kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới hành động theo ông. Thủ tướng Anh cho rằng những nước giàu nên cam kết giảm lượng khí thải từ 25 tới 40% trước năm 2020. Cùng lúc đó những nền kinh tế đang nổi như Trung Quốc và Ấn Độ cần đưa ra các biện pháp cụ thể để hạn chế mức độ thiệt hại do sự phát triển kinh tế quá nhanh của họ gây nên. Những nước giàu, trong đó có Anh, phải đóng góp khoảng 84 tỷ USD mỗi năm để giúp các nước nghèo thích nghi với biến đổi khí hậu và giảm lượng khí thải carbon.

3 phương án ứng phó với biến đổi khí hậu

- Ngày 16/9, tại TP.HCM, trong cuộc trao đổi với báo chí về vấn đề biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp đối phó với biến đổi khí hậu, ông Ralph Cantral, cố vấn cấp cao Văn phòng Quản lý biển và tài nguyên bờ biển - Cục Quản lý biển và khí quyển quốc gia Hoa Kỳ đã đưa ra 3 phương án ứng phó.

Người dân khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ phải di cư khi nước biển dâng lên....
Người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ phải di cư khi nước biển dâng lên....Ảnh Internet


Theo ông Ralph Cantral, để ứng phó với biến đổi khí hậu: Thứ nhất cần tiến hành các biện pháp bảo vệ đất, nhất là đối với các vùng đất ven biển, bởi nếu có biến đổi khí hậu sẽ gây nên tình trạng đất quanh bờ biển bị xói mòn.

Thứ hai, các biện pháp thích nghi với biến đổi khí hậu như nâng kết cấu hoặc tạo ra các kết cấu có thể di chuyển được.
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), TP. Hồ Chí Minh nằm trong danh sách 10 thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu (bao gồm Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, TP.HCM của VN, Bangkok của Thái Lan và Yangon của Myanmar).

Kết quả thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, biến đổi khí hậu ở Việt Nam thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt. Trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình hàng năm tăng khoảng 0,7oC, mực nước biển dâng cao khoảng 20cm. 
Thứ ba, di dời dân ra khỏi vùng bị ảnh hưởng, đồng thời thực hiện việc tái định cư đối với các khu vực bị tác động của lũ lụt bằng cách di dân hoặc thôi vụ hoặc vĩnh viễn. Sau khi di dời, có thể tận dụng các vùng đất này làm đất nông nghiệp hoặc dùng vào các mục đích khác phù hợp hơn.

Tuy nhiên, theo ông Ralph Cantral, trong 3 phương án nêu trên, phương án thứ 3 có chi phí thực hiện thấp hơn cả.

Ngoài ra, trong 2 ngày làm việc tại Hà Nội, cố vấn cấp cao Văn phòng Quản lý biển và tài nguyên bờ biển - Cục Quản lý biển và khí quyển quốc gia Hoa Kỳ Ralph Cantral cũng đã có buổi làm việc với đại diện quốc hội Việt Nam.

Tại buổi làm việc nói trên, ông Ralph Cantral đã đưa ra những kinh nghiệm của Mỹ trong việc lập ra những văn bản pháp luật, quy chế cụ thể về biến đổi khí hậu.

Đồng thời, ông Ralph Cantral cho biết, ông cũng đã có một số đề xuất cụ thể với đại diện quốc hội Việt Nam về việc giải quyết ngập lụt cũng như bàn cụ thể về tiến trình đối phó với biến đối khí hậu với các chuyên gia Việt Nam.

Theo ông Ralph Cantral, các cơ quan Việt Nam hiện thiếu sự phối hợp đồng bộ trong việc nghiên cứu vấn đề biến đổi khí hậu cũng như đề xuất các giải pháp đối phó với biến đổi khí hậu.
Trần Toàn - tổng hợp từ tin tức 247

5 ứng dụng thay thế Google Maps ở VN

Trác hẳn trong chúng ta ai cũng đã từng biết đến hệ thống google map, một hệ thống đang bao trùm toàn cầu hiện nay. Google Maps là bản đồ trực tuyến và dịch vụ dẫn đường phổ biến nhất với người dùng smartphone tại Việt Nam. Bởi vậy việc Google vừa dừng hỗ trợ tính năng dẫn đường sẽ gây những ảnh hướng tới người dùng, khó tìm kiếm và đi tới một vị trí, địa điểm khi cần. Tuy nhiên, không thiếu những ứng dụng bản đồ có thể thay thế tốt cho tính năng điều hướng và dẫn đường của Google.
Dưới đây là 5 ứng dụng có thể thay thế tốt cho Google Maps trong tính năng dẫn đường ở Việt Nam:
Sygic: GPS Navigation
Sygic hoạt động tốt trên cả iPhone lẫn Android.
Sygic hoạt động tốt trên cả iPhone lẫn Android.
Sygic là một ứng dụng đa nền tảng, hỗ trợ cả iPhone lẫn Android với nhiều ngôn ngữ khác nhau trong đó có tiếng Việt. Không như Google Maps, Sygic có thể tải hoặc chép sẵn dữ liệu vào máy và không cần đến kết nối mạng. Hiện tại dữ liệu bản đồ ở Việt Nam đã có đầy đủ, hỗ trợ dẫn đường bằng hình ảnh và giọng nói.
Papago
Papago có giá khá đắt trên iOS.
Papago có giá khá đắt trên iOS.
Giống như Sygic, Papago cũng là ứng dụng bản đồ và điều hướng đa nền tảng, cho phép người dùng có thể sử dụng dễ dàng tại Việt Nam với dữ liệu tải về sẵn và chép vào bộ nhớ của điện thoại, thay vì trực tuyến như Google Maps. Việc dẫn đường có thể thực hiện bằng hình ảnh hoặc giọng nói. Tuy nhiên, với người dùng iOS, mức phí bỏ ra để sở hữu Papago dành Việt Nam là khá đắt, lên tới 49,99 USD, hơn một triệu đồng.
OpenMaps
OpenMaps mới có trên iPhone.
OpenMaps mới chỉ có trên iPhone.
OpenMaps là bản đồ sử dụng dữ liệu của Open Street Maps, bản đồ mà Apple đang định thay thế cho Google Maps trên các phiên bản iOS tiếp theo. Ứng dụng này hiện tại chỉ cung cấp trên iPhone và miễn phí, cho phép người dùng có thể định vị, tìm kiếm địa điểm, xem bản đồ với nhiều lớp khác nhau. Tuy nhiên, để sử dụng tính năng dẫn đường hay tải về bản đồ để dùng offline, người chơi sẽ phải bỏ thêm 1,99 USD.
Nokia Map
Nokia Maps có thể sử dụng ngay trên trình duyệt.
Nokia Maps có thể sử dụng ngay trên trình duyệt.
Khác với các ứng dụng ở trên, bản đồ Nokia Maps lại chạy ngay trên trình duyệt của smartphone Android hay iOS. Các tính năng định vị, tìm kiếm vị trí hay dẫn đường vẫn xuất hiện đầy đủ. Nokia Maps miễn phí và có thể sử dụng trên nhiều dòng máy khác nhau tuy nhiên việc không có ứng dụng riêng khiến cho cảm giác sử dụng không mượt mà.
HTC Location
HTC Location sử dụng dữ liệu tách biệt hoàn toàn với Google Maps.
Ứng dụng bản đồ HTC Location sử dụng dữ liệu tách biệt hoàn toàn với Google Maps.
Không giống như Samsung hay Sony, Motorola, HTC phát triển một công cụ dẫn đường riêng dành cho smartphone Android của mình và không phụ thuộc vào tiện ích Nagivation cung cấp sẵn. HTC Location hoạt động trên hầu hết các smartphone Android của hãng, từ model Desire HD và Desire Z trở đi, ngoại trừ các dòng phổ thông như Wildfire hay Explorer. Hỗ trợ người dùng tại Việt Nam tuy nhiên HTC Location chỉ miễn phí trong 30 ngày đầu sử dụng.
 Nguồn: http://vnexpress.net

SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN VÀ CÁC TRẦM TÍCH ĐI KÈM THỜI KỲ CUỐI PLEISTOCEN MUỘN - HOLOCEN Ở THỀM LỤC ĐỊA NAM TRUNG BỘ

Tóm tắt: Vào cuối Pleistocen muộn, trên thềm lục địa Nam Trung Bộ, nước biển rút lúc đầu khá nhanh và về sau chậm dần nên để lại ba đới trầm tích cát bãi triều ở khoảng độ sâu -120 ¸ -130 m và đường bờ cổ trước biển tiến Franđri ở -140 ¸ -150 m nước hiện nay, khoảng 12.000 ¸ 18.000 năm trước đây (n.tr.đ.). Trong Holocen, nguồn cung cấp vật liệu hạn chế và rải đều nên dễ nhận biết các thời kỳ tích tụ trầm tích thuận lợi ở đới ven biển khi mực nước biển ít dao động. Do đó, theo tài liệu địa chấn nông phân giải cao, cột mẫu trầm tích và tuổi C14, đã lập lại được sự thay đổi mực biển tiến Franđri như sau:
- Đầu Holocen sớm, đường bờ ở độ sâu -90 ¸ -80 m (đới bờ -90 ¸ -130 m) (khoảng 10000 n. tr. đ.). Đây là đợt dừng đầu tiên của biển tiến Flanđri.
- Cuối Holocen sớm, đường bờ ở độ sâu -60 ¸ -50 m (đới bờ -50 ¸ -90 m) (khoảng 8000 n. tr.đ).
- Cuối phần sớm của Holocen giữa, đường bờ ở độ sâu -25 ¸ -30 m (đới bờ -20¸ -40 m) (khoảng 6000 n. tr.đ.). Cuối phần muộn của Holocen giữa, đường bờ ở độ cao +4 ¸ -5 m (đới bờ 5¸ -20 m) (khoảng 4000 n. tr.đ).
- Cuối Holocen muộn, đường bờ ở độ sâu 0 ¸ -3 m nước (đới bờ hiện đại 3 ¸ -20 m) (khoảng 1000 n.tr.đ. đến nay).

Trầm tích Holocen vùng biển Bình Thuận có độ hạt thô, độ dày không lớn do được rải đều trên diện rộng, còn ở vùng biển Nha Trang tạo nên thấu kính, cấu tạo chủ yếu từ bùn-sét, có chiều dày 1¸ 2 m ở mép ngoài cũng như phía bờ, còn phần giữa đạt 40 ¸ 50 m. Các đường bờ cổ ở đây phát triển trong khoảng hẹp do bờ nền dốc.

MỞ ĐẦU

Vùng nghiên cứu có nguồn cung cấp vật liệu hạn chế từ rìa ĐN võng Mesozoi Đà Lạt và tại chỗ, phân bố đồng đều, ít bị ảnh hưởng của sóng, dòng chảy, hoạt động kiến tạo tương đối mạnh mẽ trong Holocen, song vẫn giữ được hình hài các trầm tích thành tạo khi có sự thay đổi mực nước đại dương.

Tài liệu dùng cho bài viết này được rút ra từ gần 3000 km tuyến địa chấn nông phân giải cao trong các chuyến khảo sát Vulcanology (1982), Sonne 115 (1977), VG. 05 (2004), đề án “Điều tra địa chất và khoáng sản rắn biển nông ven bờ 0-30 m Việt Nam tỷ lệ 1:500 000 [2] và tham khảo các tài liệu khác. Một số tuyến được thể hiện ở Hình 1.

Các đường bờ cổ cuối Pleistocen muộn - Holocen (thời kỳ mực nước biển dao động không đáng kể) của vùng thềm này đã được xác lập dựa theo đặc điểm các đường đẳng sâu [11], tổ hợp trầm tích tầng mặt [7, 9, 10] và theo tài liệu địa chấn sâu phân giải kém của Parker [14], địa chấn nông phân giải cao, thành phần trầm tích, tướng trầm tích ở đới ven bờ [2], theo địa chấn nông (Parasounder) và tuổi C14 [11]. Các nhà địa chất này về cơ bản thống nhất có các đường bờ cổ Holocen ở độ sâu -50 ¸ -60 m và -25 ¸ -30 m, nhưng còn chưa khớp nhau về độ sâu các đường bờ cổ hơn và chưa nêu được các mặt cắt trầm tích thực tế thể hiện một đới bờ biển cổ khi có dao động mực nước biển, nhất là đới bờ cuối Pleistocen muộn - đầu Holocen (khi mực nước biển thấp nhất). Bài báo này nhằm giải quyết phần nào tồn tại này và xem xét sự thay đổi mực nước biển cuối Pleistocen muộn - Holocen.


I. SỰ THAY ĐỔI MỰC NƯỚC BIỂN THỜI KỲ CUỐI PLEISTOCEN MUỘN - HOLOCEN Ở THỀM LỤC ĐỊA NAM TRUNG BỘ

Thềm lục địa từ Vũng Tàu đến Nha Trang có nền móng Mesozoi, các bể Đệ tam, hoạt động kiến tạo trẻ và các nhân tố địa động lực sông - biển. Các thành tạo trầm tích, trầm tích - phun trào và magma trước Kainozoi chỉ lộ ra dọc ven biển hiện tại và trên đó có nơi ghi nhận được các dấu ấn đường bờ khi biển tiến Holocen (Flanđri) đạt cực đại. Trầm tích Kainozoi có tuổi từ Eocen đến Pleistocen muộn, phần sớm không lộ ra ở đáy biển. Trầm tích thuộc hệ tầng Mavieck tuổi Pliocen muộn lộ dọc bờ biển Phan Rang và vài nơi ở đáy biển thuộc vùng biển này. Trầm tích Pleistocen thượng, phần trên chỉ lộ ra ở một số nơi, còn phần lớn diện tích nghiên cứu đều bị phủ bởi lớp trầm tích Holocen có chiều dày từ 20 đến 50 cm, ở các đới xâm thực có thể tới 200 cm [9]. Ranh giới giữa phần trên Pleistocen thượng và Holocen dễ nhận biết trên các băng địa chấn cũng như ở lõi khoan nhờ sự có mặt một lớp vỏ phong hóa có chiều dày đáng kể, gồm sét, bột, cát màu sắc loang lổ khác thườngText Box: ., do chứa nhiều oxit sắt (Fe+3), đôi khi là oxit mangan, kaolin. Ở những nơi lớp này bị đào khoét cũng có thể nhận biết được mặt bào mòn nhờ đặc điểm cấu tạo và thành phần trầm tích trên và dưới mặt đó khác nhau.

Trong Holocen có hoạt động núi lửa bazan, nhất là ở vùng biển phía tây đảo Phú Quý. Do diện phân bố của bazan nhỏ nên ít ảnh hưởng đến sự thay đổi đáy biển trong Holocen.

Theo các mặt cắt địa chấn nông phân giải cao, các đứt gãy trẻ chỉ phá hủy đến trầm tích phần trên Pleistocen thượng và ít làm thay đổi độ sâu đáy biển của vùng tạo nên từ trước đó.

Biển tiến Flanđri làm cho mực nước thay đổi và gia tăng các động lực kèm theo như sóng, bão, thủy triều, dòng chảy… là các yếu tố đưa đến sự phát triển địa hình của các đới ven biển (6 đới tất cả) thời kỳ cuối Pleistocen muộn - Holocen.

II. ĐƯỜNG BỜ BIỂN CỔ CUỐI PLEISTOCEN MUỘN

Đợt băng hà toàn cầu lần cuối xẩy ra vào cuối Pleistocen muộn (Wurm III, hay theo các nhà địa chất Trung Quốc là Ngọc Mộc) làm cho biển lùi trong một thời gian dài và theo từng giai đoạn .
Mực nước biển rút khỏi lục địa không diễn ra liên tục đều đặn, mà có các khoảng thời gian ngưng nghỉ, tạo điều kiện hình thành kiểu trầm tích bãi biển, vũng vịnh với chiều dày đáng kể, nên dễ lưu lại ở đáy các đồng bằng và cho phép dễ dàng nhận diện các đường bờ biển cổ (nếu như chưa bị bào mòn, xâm thực khi biển lùi cũng như biển tiến), trong đó có bờ biển cuối cùng của Pleistocen - mực nước biển thoái cực đại của đợt băng hà cuối. Tài liệu thực tế mới thu được trình bày dưới đây sẽ cho thấy điều này.
Về đường bờ cổ ở cuối Pleistocen muộn vùng nghiên cứu và Sundaland chưa có sự thống nhất của các nhà nghiên cứu: -150 ¸ -200 m (12), -180 m [Haine, 1972], -120 m [Farbanks, 1989; Hanebuth, 2000], -100 ¸ -110 m [7, 11, 16], -120 ¸ -140 m [9] và v.v. Tài liệu địa chấn nông phân giải cao cho thấy:
Theo mặt cắt T7b thuộc vùng biển đông Bình Thuận ở phía sườn đông của đảo Phú Quý hầu như không có trầm tích. Đến độ sâu trên 110 m gặp trầm tích Đệ tứ phủ trên bazan Pliocen, không có đứt gãy. Tiếp theo là bùn-sét Holocen phủ trên cát bãi biển Pleistocen muộn. Đây là dấu hiệu của đợt ngưng nghỉ mực nước biển lần thứ nhất của biển thoái. Trầm tích bãi lần 2 gặp ở độ sâu khoảng -130 m và bãi thứ 3 ở độ sâu -140 m. Trầm tích bãi lần 4 phủ một phần trên bãi 3, chứng tỏ có một thời gian biển dâng lên chút ít để rồi sau đó mức nước lại hạ đến độ sâu -140 m. Tiếp theo về phía biển sâu là đứt gãy và sau đó là trầm tích biển nông có địa hình hơi sụt xuống. Từ tài liệu mặt cắt này có thể nói bờ biển cuối Pleistocen hay đầu Holocen nằm ở độ sâu khoảng -140 m nước hiện tại. Các trầm tích ở phần sâu hơn ở cuối mặt cắt là trầm tích biển nông (Hình 2). Độ sâu này tương ứng với độ sâu của tuyến V9, V13 gần kề và Sonne 2 ở phía tây nam vùng (Hình 3). Về phía bắc T7b, tại tuyến V6, trầm tích bãi nằm ở độ sâu -160 m.
Trên mặt cắt Sonne 2 nêu trên thuộc vùng biển trước Vũng Tàu, cột mẫu 18389-3 có độ sâu nước biển -109 m, gồm trầm tích sét ven biển giàu mùn cây và ít bột, chứa Trùng lỗ. Các vụn than gỗ lấy cách mặt đáy 1-2 m có kết quả xác định C14 là 12.160 ± 70 - 12450 ± 70 năm trước đây [11]. So với mặt cắt T7b nêu trên, trầm tích ở cột mẫu này có thể thành tạo vào thời gian mực
nước biển dừng, tạo trầm tích bãi 1 ở độ sâu -110 m, chưa phải là đới bờ cuối Pleistocen.
Vào thời gian này, ở đới 0-30 m nước hiện nay có các thành tạo trầm tích sông-biển. Tại lỗ khoan LK.91 ở biển Bình Thuận, độ sâu 0 - 7,5 m (tính từ đáy biển), gồm các lớp trầm tích:
+ 7,5 - 3,0 m: sét - cát - cuội - sạn màu xám vàng loang lổ; cuội sạn kích thước vài cm, đa khoáng, gặp nhiều hạt cuội đá phun trào, granit, độ chọn lọc và mài tròn kém.
+ 3,0-0 m: sét - bột màu xám xanh loang lổ.
Nhìn chung, trầm tích có thành phần hỗn tạp: cuội - sạn lẫn cát - sạn, cát - sét. Bề dày chung 5 - 10 m [4].
Như vậy, tại vùng biển Bình Thuận, mặc dù có nhiều bậc địa hình khác nhau [12], song ở độ sâu -140 ¸ -160 m là đường bờ cổ của mực nước biển thấp nhất có tuổi cuối Pleistocen - đầu Holocen có lẽ là hợp lý nhất.
Theo Phạm Văn Thơm [12], đường bờ cổ Pleistocen muộn vùng biển Nha Trang nằm ở độ sâu -200 m, còn theo Nguyễn Văn Tạc và Trịnh Phùng [10] là -140 ¸ -160 m. Tại tuyến T.13 (Hình 8) ở độ sâu trên 130 m nước có mặt các cồn cát ven biển và cát đới bãi triều. Trên mặt cắt tương tự tại cột mẫu 18401-3, độ sâu nước -134 m, mẫu C14 có độ sâu từ đáy xuống 226 cm cho tuổi 2590 ± 40 n.tr.đ., độ sâu 590 cm là 9910 ± 40 n.tr.đ.. Ở độ sâu -169 m nước vùng biển Tuy Hòa, trong cột mẫu 18404, ở độ sâu từ đáy biển xuống 60 cm có tuổi C14 là 29100±390 n.tr.đ. [11].

Trên các mặt cắt địa chấn sâu ở bể Phú Khánh VOR 93-108,103..., rìa mép thềm ở độ sâu -220 m, và trong khoảng -110 m đến -220 m không thấy biến đổi địa hình nên khó xác định được chính xác đâu là rìa thềm và đâu là đới bờ cổ Pleistocen muộn.
Tuy vậy, theo tài liệu C14 nêu trên, đới bờ cổ Pleistocen muộn vùng biển Nha Trang có lẽ ở khoảng -140 ¸ -160 m nước biển hiện tại.

III. BIỂN TIẾN FLANĐRI VÀ CÁC ĐỚI VEN BIỂN TRONG HOLOCEN

Biển tiến Flanđri ở biển Đông Việt Nam bắt đầu từ khi nào còn là vấn đề bàn cãi. Theo Tong Y. (1988), dựa vào tuổi C14, lớp than bùn đáy của biển tiến Holocen là 11.360 ± 250 n.tr.đ. Có tác giả dự báo có tới 10 đường bờ cổ từ cuối Pleistocen muộn đến ngày nay: “Các pha biển tiến, biển dừng trong thời kỳ này để lại dấu vết đường bờ cổ ở các độ sâu khác nhau (-80 ¸ -100 m, -76 ¸ -78 m, -68 ¸ -72 m, -60 ¸ -65 m). Cuối cùng là biển tiến Holocen (Flanđri ? NB) có lẽ bắt đầu từ độ sâu -60 m hiện nay, vị trí đường bờ biển cổ chuyển dịch dần lên các độ sâu -50 m, -35 ¸ -37 m, -28 ¸ -30 m,-20 ¸ -22 m, -10 ¸ -12 m” [2, tr. 188]. Qua phân tích nhiều ngàn km tuyến địa chấn nông phân giải cao, mẫu trầm tích tầng mặt cũng như kết quả nghiên cứu của nhiều người trong mấy chục năm lại đây, so sánh với vùng biển thềm lục địa biển Đông Việt Nam và kề cận đã xác định được khá rõ 5 thời điểm dừng của mực nước biển tiến Flanđri còn để lại tại các độ sâu -80 ¸ -90, -50 ¸ -60 m, -30 ¸ -25 m, 0 ¸ -2 m, +4 ¸ +5 m và hiện tại.
1. Đới ven biển cổ ở độ sâu -140 ¸ -160 m
Vùng biển Bình Thuận: tài liệu về đới này không nhiều. Theo Trịnh Thế Hiếu [16], thuộc Holocen có 2 lớp (từ dưới lên):
Lớp 1: Bùn, bùn sét, độ dính cao, xám, xám xanh, cấu tạo dòng rối, chứa 1% các mảnh vỏ Trùng lỗ, Coccolithophorite, sò, ốc. Dày 20-50 cm. Đây là trầm tích turbiđit, hỗn hợp cát nhỏ, bùn sét, có nhiều vết trượt trầm tích sườn thềm. Tuổi C14 khoảng 8000 - 9000 đến 14.000 n.tr.đ.. Chuyển lên lớp trên qua lớp mỏng có nhiều vết trượt.
Lớp 2: Cát nhỏ chứa bùn, sét, màu xám, chứa 7-10% vụn sinh vật vỏ carbonat. Tuổi C14 từ 7000-9000 n.tr.đ. Dày 60-80 cm. Đây là 2 lớp phần ngập nước, còn trầm tích bãi, cồn... có lẽ đã bị phá hủy vào thời gian đầu của đợt biển tiến.

Theo các tuyến địa chấn nông độ phân giải cao (Hình 8) và mẫu tầng mặt ở vùng biển Nha Trang, trầm tích Holocen gồm bùn sét giàu vụn, vỏ sinh vật có tuổi C14 khoảng 9950 ± 50 n.tr.đ.

Trầm tích cát Holocen sớm bắt gặp tại phần đông của bể Nam Côn Sơn (Hình 6).

2. Đới ven biển cổ ở độ sâu -80 ± -90 m

Biển tiến Flanđri dừng lần đầu tiên ở mức độ sâu -90 m để lại dấu ấn mặt mài mòn ở sườn đông khối bazan Phú Quý, tạo nên sườn lõm -80 ¸ -90 m. Về sau, khi nước biển dâng tiếp phần lõm này được trầm tích biển tuổi Holocen sớm hàn gắn (Hình 4).

Trên tuyến địa chấn đông bán đảo Hòn Gốm, thời điểm dừng của mực nước biển này tạo nên mặt bào mòn khá rộng và về sau được phủ bởi trầm tích bùn-sét Holocen hạ (Hình 5).

3. Đới bờ ven biển cổ ở độ sâu -60 ¸ -50 m

Bước vào thời kỳ băng tan tiếp theo, khoảng 8500 n.tr.đ., mực nước biển dâng, sóng, bão và các yếu tố động lực như nêu ở trên đã phá vỡ các lớp trầm tích trước đó phơi ra không khí, nhất là các lớp cát pha bột. Vật liệu giải phóng cấp hạt bùn, sét thường được dòng chảy mang ra khơi hoặc về phía vịnh Thái Lan, còn cấp hạt lớn hơn được dồn đẩy vào bờ tạo nên các sóng cát, vào mùa đông, khi nước dâng cao, sóng còn có thể đưa cát, sạn (các kết vón limonit) vào lục địa, tạo nên các cồn ven biển, hoặc các doi cát chứa sạn. Nước dâng tạo điều kiện tích tụ trầm tích hạt mịn ở các cửa sông hình phễu (estuary) hoặc vũng vịnh...

Nam Mũi Né khoảng 120 km thuộc vùng biển Bình Thuận có một tổ hợp trầm tích khá đặc trưng cho đới bờ biển ở độ sâu -55 ¸ -90 m. Phần trên mặt cắt T.2 (Hình 7) nam đảo Phú Quý 30 km, từ dưới lên gặp: bùn, sét, có nơi phong hóa mạnh, tuổi Pleistocen muộn. Trên đó là mặt bào mòn.

Trầm tích Holocen có 3 lớp:

1. Trầm tích cát xen bùn lấp đầy vũng vịnh, phân lớp thô và cấu tạo nêm bồi tụ (aggradation). Dạng thấu kính, dày 0-30 m.

2. Cát nhỏ, cấu tạo phân lớp xiên về phía lục địa. Đây là một dạng cát bãi thành tạo khi biển tiến. Dày khoảng 3 m.

3. Hệ xen kẽ bùn-sét biển nông. Dày 15-20 m. Phía trái Hình 7 là các cồn cát ngầm tạo cùng thời với cát bãi, về sau được bồi đắp thêm.

Trên tuyến T3 (vị trí tuyến xem ở Hình 1) có mặt 2 tổ hợp trầm tích của đới ven biển:

1. Trầm tích hỗn hợp bùn sét và cát nhỏ lấp đầy các thung lũng đào khoét cổ, phía dưới có độ hạt và phân lớp thô hơn, thuộc tướng aluvi (ở phần giữa mặt cắt).

2. Các cồn cát ven biển Holocen hạ (phần cuối bên phải mặt cắt về phía biển sâu)

Tại sườn đông đảo Phú Quý, ở độ sâu này, khối bazan bị phá hủy mạnh tạo nên địa hình phức tạp (Hình 4).

Tuổi C14 của các mảnh vỏ sinh vật trong khoảng độ sâu -140 ¸ -55 m cho kết quả khoảng 12000-8000 n. tr.đ. [13].

Tại nhiều nơi trên đáy biển thềm lục địa Việt Nam đã xác lập được tổ hợp trầm tích đới ven biển ở độ sâu -55 ¸ -60 m nước như mô tả trên đây [6, 15].

Sau một thời gian ngưng nghỉ, biển tiếp tục dâng cao và rồi dừng lại ở độ sâu -25 ¸ -30 m nước hiện nay.

Trên mặt cắt T13 vùng biển Nha Trang, đoạn Km 3 đến 4,5 (Hình 8 ) có:

- Trầm tích bùn-sét biển nông (mQ12);

- Phần cao hơn là trầm tích bãi biển. Độ sâu trầm tích bãi khoảng -56 m.

- Gần bờ hơn là cát, sạn aluvi ven biển.

Như vậy, ở vùng biển này độ sâu đới bờ tương tự như ở vùng biển Bình Thuận.

4. Đới bờ ven biển cổ ở độ sâu -20 ¸ -30 m

Đới bờ đặc trưng vùng biển Bình Thuận ở độ sâu này nằm ngoài khơi vùng biển Hàm Tân - Phò Trì, phía nam bãi cạn Brito. Tại đây, trên bản đồ, ta có thể khoanh được một doi cát ngăn phía ngoài của vịnh nông với một cửa; ở phần cao hơn có các gờ nâng theo đường đẳng sâu 25 m nước.

Trên mặt cắt địa chấn, theo sự giảm dần độ sâu, có mặt trầm tích biển nông và biển-đầm lầy. Trên các mặt cắt khác gặp trầm tích bãi biển (phía đông bãi cạn Brito), một số bãi cạn, sườn bờ ngầm giàu khoáng vật nặng, các cồn cát ven biển và trầm tích vịnh nông (tây bắc bãi cạn Brito) (Hình 9b).

Cũng trên các mặt cắt Hình 8, Hình 5 và một số mặt cắt khác tại vùng biển Nha Trang, ở khoảng độ sâu -30 ¸ - 25 m, có mặt trầm tích cát bãi biển và phía ngoài là trầm tích bùn-sét biển nông pha các lớp cát. Khác với vùng biển Bình Thuận, các đới bờ ở độ sâu -5 m và -25 m ở đây phân bố gần nhau hơn. Thềm san hô gặp ở độ sâu -20 ¸ -25 m [15].

Tuổi C14 của trầm tích tạo trong thời gian này dao động trong khoảng 3910 - 4800 ± 35 n.tr.đ.[13].

Tiếp theo nước biển lại dâng cao hơn lên đến độ cao 4-5 m, để lại một số dấu ấn như các vách ở Hòn Đỏ hoặc bề mặt mài mòn do sóng [14].

5. Đới bờ ven biển cổ ở độ cao +4 ¸ -5 m

Dọc ven biển Bình Thuận có một số vùng đất thấp và nhiều cồn cát nên biển tiến đợt này lấn sâu vào đất liền. Ở một vài nơi còn giữ được trầm tích bùn-sét tướng biển-vịnh, cát bãi biển và các cồn cát có màu vàng xám, giàu khoáng vật nặng nằm trên cát đỏ Pleistocen trung - thượng.

Trầm tích bãi biển gồm cát mịn, cát hạt vừa-thô lẫn sạn màu từ xám vàng, xám sáng đến vàng đỏ. Dày 5-10 m.

Trầm tích biển là tầng trầm tích phổ biến nhất trên đáy biển, phân bố ở độ sâu ngoài -10 ¸ -15 m nước, gồm cát, cát lẫn sạn, sạn cát, cát bùn, sạn cát bùn màu xám, xám xanh giàu vụn sinh vật. Hầu hết cát sạn đều có thành phần đơn khoáng (thạch anh = 85 - 90%, mảnh đá = 1-5%, felspat = 5-10%. Một điều đáng lưu ý là trong trầm tích biển, hàm lượng vụn carbonat thường tăng cao 10-20%. Trong trầm tích gặp phong phú các giống loài Trùng lỗ, Tảo silic và hoá thạch cực nhỏ sống trong môi trường biển nông, tuổi Holocen sớm-giữa. Chiều dày của tầng thay đổi 1-15 m.

Sau khi đạt đỉnh cao 4-5 m ở vùng Phan Thiết cách đây khoảng 4000-5000 năm, bắt đầu thời kỳ biển thoái, để lại dọc đường bờ các dải trầm tích bãi biển chứa các thân sa khoáng titan - zircon ở Phan Rí, Mũi Né, Hàm Tân và Vũng Tàu [4].

Thềm biển Holocen ở Tuy Hòa là 4 m [7].

Do địa hình ven biển Nha Trang hiện nay phức tạp, dốc, cấu tạo bởi các loại đá trước Kainozoi khó bị sóng biển phá hủy nên đới bờ biển thời kỳ này ở Nha Trang gần như hiện nay. Khi nước biển dâng cao 4-5 m, ở bán đảo Hòn Gốm thành tạo trầm tích cát bãi, cồn cát, trong đó có chứa các thân sa khoáng như dọc biển Nha Trang.

Tất cả các trầm tích tạo ở đới -25 ¸ -30 m đến 4-5 m có tuổi Holocen giữa.

Sau một thời gian biển thoái, mực nước hạ xuống vài ba mét rồi lại dâng lên chút ít, song điều này không làm thay đổi nhiều ở đới ven biển vùng nghiên cứu. Quá trình này xẩy ra cách đây khoảng 3000 năm. Biển tiếp tục rút đến độ sâu -2 m làm chết nhiều rạn san hô và sau đó một thời gian lại dâng lên. Các mẫu san hô ở mép nước hiện nay có tuổi C14 khoảng 2000 năm [14].

6. Mực nước biển cuối holocen muộn - hiện đại (3000 năm cách nay)

Đới ven biển hiện đại có đầy đủ các kiểu trầm tích tuổi Holocen muộn:

Vùng biển Bình Thuận:
- Các cồn cát ven biển màu xám, giàu khoáng vật nặng.

- Cát, sạn cửa sông ven biển.

- Cát bãi biển.

- Cát, bùn sét biển nông.

Trầm tích Holocen thượng gặp ở độ sâu 0-18 m nước, với thành phần chủ yếu là cát, cát bùn, cát lẫn sạn màu xám, xám xanh.

Trong lỗ khoan LK80 ở độ sâu 0 - 4,5 m (tính từ đáy biển) vùng biển Bình Thuận, từ dưới lên gồm các lớp:

+ 4,5 - 3,0 m: Cát-sạn-bùn chứa cuội ryolit màu xám xanh.

+ 3,0 - 1,5 m: cát vụn sinh vật giàu mảnh đá silic màu đen, độ chọn lọc và mài tròn trung bình.

+ 1,5 - 0 m: Sét cát màu xám xanh lẫn ít vụn sinh vật và sạn mảnh đá phun trào.

Trong trầm tích kể trên gặp phong phú các dạng cổ sinh. Bề dày của mặt cắt là 4,5 m.

Vùng biển Ninh Thuận - Khánh Hòa có trầm tích vũng vịnh khá phát triển, các cồn cát kém phát triển.

Trầm tích cát bãi biển phổ biến, một số nơi còn có rừng ngập mặn; trầm tích bùn- sét biển nông.

Kiểu trầm tích vũng vịnh kín (vịnh Văn Phong, Bến Gội, Cam Ranh) có thành phần gồm cát nhỏ, cát bùn màu xám xanh, xám sáng, giàu vụn sinh vật, san hô. Phần trên là bùn sét, bùn cát, màu xám đến xám tối. Dày 2-30 m.

Thềm biển Holocen muộn có độ cao 1,5-2 m.

Tóm lại, có thể khái quát lịch sử thay đổi mực nước biển cuối Pleistocen muộn và trong Holocen vùng nghiên cứu như sau:

1. Mực nước biển ở độ sâu -140 m: Dải cát - sạn ở độ sâu -120 ¸ -140 m là dấu ấn đường bờ cổ của pha biển lùi cực đại tương ứng với băng hà Wurm cuối Pleistocen muộn - đầu Holocen sớm. Giai đoạn biển lùi lâu dài tạo điều kiện cho lãnh thổ Việt Nam và Sundaland mở rộng, các sông trên đất liền vươn dài ra biển, tạo nên một phức hệ aluvi và aluvi - biển hỗn hợp. Vật liệu trầm tích của đới ven bờ này hoàn toàn do sông mang ra và được biển tái tạo lại thành các doi cát đầm phá và cuội - sạn ven biển cổ. Ở phần đáy của hàng loạt các ống phóng lấy mẫu gặp sét loang lổ là dấu hiệu của bề mặt phong hoá trong giai đoạn biển lùi này.

2. Mực nước biển ở độ sâu -90 ¸ -80 m là thời gian dừng đầu tiên của biển tiến Flanđri, để lại dấu vết mặt bào mòn biển và về sau tích tụ trầm tích Holocen sớm.

3. Mực nước biển ở độ sâu 55-60 m: Biển tiến Flanđri dâng lên đến độ sâu -55 ¸ -60 m, ngưng nghỉ một thời gian. Thành tạo các tướng cát-bùn-sét biển nông, doi cát và đầm phá nhỏ đánh dấu quá trình biển lấn dần vào đất liền và miền cung cấp vật liệu chủ yếu gần như tại chỗ nhờ sự phá hủy các lớp trầm tích Pleistocen thượng do sóng và dòng triều. Các quần thể san hô, sò, ốc phát triển. Hàng loạt các hệ thống sông bị biển thôn tính và trầm tích sông bị xói mòn do sóng biển hoặc bị phủ.

4. Mực nước ở độ sâu -25 ¸ -30 m. Tiếp tục biển tiến Flanđri và sau đó dừng lại ở độ sâu -25 ¸ -30 m, tạo nên các doi cát, cồn ngầm, cát bãi biển, vũng vịnh và các cồn cát ven biển, còn ghi lại dấu ấn trên địa hình đáy hiện nay. Nguồn vật liệu tại chỗ như ở thời gian trước đó.

5. Mực nước biển cao nhất của biển tiến Franđri -4 ¸ -5 m: Trầm tích biển nông tiếp tục được thành tạo và còn giữ lại ở nhiều nơi. Sau đó là quá trình biển lùi khoảng 3000 n.tr.đ. Thấy rõ cấu tạo lấn biển của tổ hợp trầm tích biển lùi Holocen muộn (Hình 8). Vào kỳ biển thoái, vật liệu từ lục địa mang ra là chủ yếu.
http://www.idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/2006/A292/a10_files/image011.jpg
Hình 8. Mặt cắt Holocen vùng biển Nha Trang. Dưới -131 m là các cồn cát ven biển
tuổi Pleistocen muộn. Khoảng -60÷-56 m là dấu ấn đới bờ cổ tạo trong kỳ biển tiến Flanđri dừng lần thứ nhất
 http://www.idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/2006/A292/a10_files/image013.jpg
A- Granit phức hệ Đèo Cả; B- Trầm tích Pleistocen thượng; C1- Trầm tích biển tiến;
C2- Biển dừng Holocen sớm tạo thấu kính chiều dày 10-60 m
và D- Trầm tích Holocen thượng (Nguyễn Biểu, 2005)

6. Mực nước biển 0 ¸ -2 m: Trầm tích hiện đại (Q23) phân bố ở ven bờ bị chi phối bởi các quá trình tương tác sông-biển khác nhau. Do bị ảnh hưởng của quá trình biển tiến hiện đại nên bờ biển hay bị biến đổi.

Trầm tích tầng mặt thay đổi tướng theo mực nước biển dâng, có thành phần phức tạp và có thể chia làm 2 nhóm:

a. Nhóm thứ nhất thành tạo trong kỳ biển tiến Franđri lộ ở độ sâu -20 ¸ -140 m, có độ hạt thay đổi từ sạn tới sét, song cát ít khoáng chiếm ưu thế; vài nơi có sạn. Trong sạn nhiều kết vón laterit, vỏ sinh vật, kết hạch sét vôi, silic và tro bụi núi lửa. Cát hạt nhỏ thường tạo thành trường lớn theo hướng bắc nam. Tại độ sâu này phát triển các rạn san hô Pleistocen muộn và hiện nay đang bị dòng chảy đáy phân dị.

b. Nhóm thứ hai thành tạo trong kỳ biển lùi và hiện đại chiếm độ sâu 0 ¸ -20 m nước, chủ yếu là loại hạt nhỏ (trừ những nơi gần đá gốc, ven đảo, độ phân dị từ bờ ra khơi từ hạt lớn đến nhỏ), thành phần đa khoáng, nhiều nơi tích tụ khoáng vật nặng khá cao, phát triển bùn sét giàu mùn thực vật.

Các nhóm tướng trầm tích đặc trưng cho đới ven biển (+5 ¸ -30 m) từ lục địa ra biển khơi gồm các cồn cát ven biển - châu thổ - bãi triều - sườn bờ ngầm - biển nông ở 4 thời gian khác nhau: cuối Pleistocen muộn, Holocen sớm, Holocen giữa và Holocen muộn. Trên băng địa chấn nông phân giải cao đã xác lập được tướng bãi triều ở độ sâu -120 ¸ -140 m, -55 ¸ -60 m và -25 ¸ -30 m. Bãi triều ven biển hiện nay cũng như các bãi biển cổ này là nơi có điều kiện tích tụ sa khoáng biển titan - zircon. Một số tích tụ sa khoáng ở Bình Thuận ở độ cao trên 4 m có thể là trầm tích bãi biển khi mực nước biển đạt đỉnh cao về sau bị gió làm biến đổi.

KẾT LUẬN

1. Trong Holocen, thềm lục địa Nam Trung Bộ từ ngoài khơi -140 m vào bờ trải qua 5 thời gian ngừng nghỉ của biển tiến Franđri sau đây:

- Đầu Holocen sớm, thể hiện ở độ sâu -90 ¸ -80 m (đới bờ -90 ¸ -130 m), tương ứng với khoảng 10.000 n.tr.đ. Đây là đợt dừng đầu tiên của biển tiến Flanđri.

- Cuối Holocen sớm, thể hiện ở độ sâu -60 ¸ -50 m (đới bờ -50 ¸ -90 m), tương ứng với khoảng 8000 n.tr.đ.

- Cuối Holocen giữa, phần sớm thể hiện ở độ sâu -25 ¸ -30 m (đới bờ -20 ¸ -40 m), tương ứng với khoảng 6000 n.tr.đ;

- Cuối Holocen giữa, phần muộn ở độ cao +4 ¸ -5 m (đới bờ -5 ¸ -20 m), tương ứng với khoảng 4000 n.tr.đ.

- Cuối Holocen muộn, 0 ¸ -3m, thể hiện ở độ sâu (đới bờ hiện đại -3 ¸ -20 m), tương ứng với khoảng 1000 năm lại nay.

2. Trầm tích Holocen vùng biển Bình Thuận có độ dày không lớn do được rải đều trên diện rộng, khó có nơi tập trung để có thể phân chia rạch ròi các tổ hợp miền hệ thống biển tiến và biển lùi.

Theo các mặt cắt vuông góc với bờ, trầm tích Holocen ở vùng biển Nha Trang tạo nên thấu kính, cấu tạo chủ yếu từ bùn-sét, dễ phân chia các tổ hợp miền hệ thống biển tiến và biển thoái và có chiều dày 1-2 m ở mép ngoài cũng như phía bờ, còn phần giữa đạt -40¸-50 m. Các đường bờ cổ ở đây phát triển trong khoảng hẹp do bờ nền dốc.

3. Hoạt động núi lửa bazan và đứt gãy Pleistocen muộn ít có ảnh hưởng đến việc khôi phục sự dao động của mực nước biển trong Holocen theo đẳng sâu hiện nay.

VĂN LIỆU

1. Đào Mạnh Tiến, Dương Văn Hải và nnk, 2004. Sa khoáng biển ven bờ Bình Thuận. Tuyển tập báo cáo Hội nghị lần 16 trường ĐH Mỏ - Địa chất, 2 : 141-146. Hà Nội.

2. Mai Thanh Tân (Chủ biên), 2003. Biển Đông. T. III. Địa chất - Địa vật lý. Nxb ĐHQG Hà Nội, 547 tr. Hà Nội.

3. Nguyễn Biểu, Hoàng Văn Thức, Trịnh Thanh Minh và n.n.k., 1999. Trầm tích Holocen hạ ở vùng biển ven bờ Việt Nam (0 ¸ -30 m nước). Tuyển tập báo cáo khoa học – Hội nghị khoa học biển toàn quốc lần thứ IV, tr. 748-754.

4. Nguyễn Biểu (Chủ biên), 2001. Kết quả điều tra địa chất và khoáng sản biển nông ven bờ 0 ¸ -30 m nước Việt Nam tỷ lệ 1/500 000 (1991-2001). Lưu trữ Địa chất. Cục ĐC & KS VN. Hà Nội.

5. Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, Trịnh Thế Hiếu, 2005. Các thành tạo Đệ tứ vùng thềm lục địa Đông Nam Việt Nam và ý nghĩa nghiên cứu địa chất công trình. Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học Công trình và Địa chất biển. Đà Lạt.

6. Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, 2005. Địa tầng trầm tích Pliocen - Đệ tứ và bản đồ địa chất tầng nông Đông Nam thềm lục địa Việt Nam. Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học 60 năm Địa chất Việt Nam. tr. 7-16. Hà Nội.

7. Nguyễn Địch Dỹ (Chủ biên), 1996. Địa chất Đệ tứ và tài nguyên khoáng sản đi kèm. Đề tài KT 01 07. Lưu trữ Viện thông tin, Bộ Khoa học và Công nghệ. Hà Nội.

8. Nguyễn Thế Tiệp, Lê Đức An và nk, 2000. Bản đồ địa mạo vùng biển Việt nam và kế cận. Trong Biển Đông I. Khái quát về Biển Đông. Nxb Đại học QG Hà Nội. Tr. 33-62. Hà Nội.

9. Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Huy Phúc, Nguyễn Trung Thành, 2005. Trầm tích bề mặt đáy biển Nam Trung Bộ và sự tiến hóa của chúng. “Địa chất và địa vật lý biển”, VIII : 166-178. Hà Nội.

10. Nguyễn Văn Tạc, Trịnh Phùng, 1992. Một vài kết quả nghiên cứu địa mạo phần phía Nam thềm lục địa Việt Nam. Tuyển tập nghiên cứu biển, IV. : 100-114. Nha Trang.

11. Nguyễn Văn Tạc, 1996, Đặc điểm trầm tích Đệ tứ thềm lục địa Nam Việt Nam. Các công trình nghiên cứu địa chất - địa vật lý biển, 2 : 200- 217. Hà Nội.

12. Phạm Văn Thơm, 1992. Một số vấn đề địa chất vùng thềm lục địa phía Nam. Tuyển tập nghiên cứu biển, IV : 73-88. Nha Trang.

13. Schimansky A., 2002. Holocene sedimentation on the Vietnam shelf: From source to sink. Kiev (Tóm tắt luận án Tiến sỹ ).

14. Trần Nghi và nnk, 2003. Sự thay đổi mực nước biển trên cơ sở nghiên cứu trầm tích vùng ven biển và biển nông ven bờ từ Nha Trang đến Bạc Liêu. Tuyển tập báo cáo HNKH Công trình và Địa chất biển, tr.181-189. Đà Lạt.

15. Trần Nghi và nnk, 2005. Đặc điểm tướng đá, cổ địa lý và lịch sử phát triển địa chất Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Đông Nam Việt Nam. Tuyển tập báo cáo HNKH 60 năm địa chất Việt nam. Hà Nội, tr 140 -154.

16. Trịnh Thế Hiếu, 2003. Trầm tích Đệ tứ thềm lục địa Nam Việt Nam. Tuyển tập báo cáo HNKH Công trình và Địa chất biển, tr. 265-276. Đà Lạt.

NGUYỄN BIỂU1, NGUYỄN TIẾN HẢI2, NGUYỄN HUY PHÚC2, NGUYỄN QUỐC HƯNG3
1Hội Địa chất biển, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội
2Viện Địa chất và Địa vật lý biển, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội,
3Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Quản lý tổng hợp đới bờ: Kinh nghiệm từ đất nước hoa tuy – lip


Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)
Quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB) - một phương thức quản lý hiệu quả tài nguyên và môi trường biển, hướng tới sự phát triển bền vững, đang được đánh giá cao và áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam. Kết quả từ PEMSEA (Dự án Việt Nam - Hà Lan về quản lý tổng hợp dải ven biển) thực hiện thí điểm tại một số tỉnh ven biển của Việt Nam đã trở thành tiền đề của Chương trình Quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Từ đây, nhiều bài học quý từ sự thành công của phương thức quản lý mới đến từ đất nước hoa tuy - lip xinh đẹp này đã được chuyên gia của hai nước đúc kết và đang dần được áp dụng tại Việt Nam.
Sự gắn kết chặt chẽ giữa các Bộ liên quan
Trong nhiều năm qua, sáng kiến về chính sách QLTHĐB đã được xây dựng ở Hà Lan bởi các Bộ liên quan đến đới bờ. Các Bộ liên quan có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong việc xây dựng tầm nhìn chung và thảo luận các vấn đề đới bờ bằng nhiều hành động thiết thực.
Ví như, văn bản "Tương lai đới bờ" được xây dựng năm 1999 có những cam kết và chương trình hành động cụ thể, giúp hài hòa lợi ích nhờ sự hợp tác, tham gia góp ý giữa các Bộ: Xây dựng Nhà ở (quy hoạch không gian và môi trường, cấp nước), Giao thông, Công chính và Quản lý nước (bảo vệ bờ biển, chất và lượng nước, giao thông đường thủy và đường bộ, cơ sở hạ tầng), Nông Nghiệp, Quản lý Thiên nhiên và Thủy sản (đánh bắt ven bờ, bảo tồn thiên nhiên, nghỉ dưỡng, cảnh quan), Bộ Kinh tế (du lịch ven biển, cảng, công nghiệp, thăm dò và khai thác khoáng sản, khí đốt, dầu). Các Bộ đã rất nỗ lực hợp tác, nêu bật các đặc điểm của đới bờ như khả năng phục hồi, tính liên kết và độ thoáng của biển, sự an toàn của vùng nội địa, sự có mặt của vùng nền cát ven biển, để việc xây dựng và thực hiện chính sách quản lý có hiệu quả.
Tìm giải pháp đồng bộ
Vùng bờ của Hà Lan cũng phải hứng chịu áp lực về suy thoái môi trường biển ngày càng gia tăng từ hai phía biển và đất liền. Áp lực từ biển sẽ tăng lên do khả năng dâng cao của mực nước biển gây xói lở, mất môi trường sinh thái ven bờ. Áp lực từ phía đất liền cũng tăng lên do gia tăng dân số, sử dụng tăng cường các vùng đất và phát triển kinh tế. Điều này đã gây ra những mối đe dọa nghiêm trọng đến phát triển bền vững các nguồn tài nguyên trong vùng đất thấp của Hà Lan hiện nay và cả trong tương lai.
Sau một quá trình chuẩn bị, Bộ Quy hoạch Nhà ở, Sức khỏe và Môi trường bắt đầu triển khai Chương trình ROM - Rijnmond (vùng Rotterdam mở rộng) dài hạn và toàn diện, như là một trong mười Chương trình đồng bộ về nâng cao sức khỏe và môi trường dành cho các khu vực có hoạt động sử dụng tài nguyên môi trường biển phức tạp ở Hà Lan.
Mục tiêu chính của thỏa ước "ROM - Rijnmond - Rotterdam mở rộng" là không ngừng nâng cao hiệu quả năng suất cảng Rotterdam một cách bền vững, kết hợp các nỗ lực nhằm tăng giá trị lợi nhuận và giảm sử dụng nguyên liệu thô và năng lượng, giảm thiểu tải lượng ô nhiễm vào không khí, nước, đất và cơ thể các loài sinh vật. Hướng tới cung cấp không gian làm việc, giải trí và bảo tồn thiên nhiên vùng ven biển.
Tỉnh trưởng tỉnh Nam Hà Lan, Chủ tịch Phòng Thương mại Rotterdam, các thị trưởng của 17 thị trấn xung quanh và đại diện của 600 công ty khu cảng biển Rotterdam đã ký thỏa ước sử dụng nguồn ngân sách 7 tỷ Euro để thực hiện 28 dự án trong 17 năm của Chương trình ROM - Rijnmond (1993-2010). Kết quả đạt được mang tính tổng hợp của ba lĩnh vực quan tâm rất khả quan, đó là: Mô hình Nuôi bờ/bãi bằng cát (bảo vệ bờ biển) đã đem lại lợi ích cả về mặt sinh thái và kinh tế cho quốc gia, giải quyết vấn đề xói lở đê chắn sóng phía Bắc cảng Rotterdam; Nâng cao chất lượng môi trường bằng cách thực hiện tốt các dự án làm sạch vùng ô nhiễm ở khu vực hạ lưu (giảm phát thải) và mở rộng cảng, khôi phục và cải tạo đất nhằm giải quyết vấn đề thiếu không gian làm việc, sinh sống và xây dựng vành đai xanh ven biển.
Tận dụng "sức mạnh" của cam kết quốc tế
Hà Lan, nơi phải hứng chịu khá nhiều các chất gây ô nhiễm đổ dồn từ các sông của châu Âu do vùng đất trũng. Do đó, chính quyền địa phương đã triển khai đồng thời hai mặt trận. Làm sạch các vùng ô nhiễm ở khu vực hạ lưu trong phạm vi lãnh thổ đồng thời cố gắng giảm thải lượng thượng lưu thông qua các cuộc đàm phán về lưu vực ở sông Rhine + Meuse + Scheldt ở cấp quốc tế, Bộ/ngành mang tính lâu dài.
Một chính sách giảm phát thải hợp tác song phương giữa Hà Lan và các nước trong khu vực ra đời, ngay lập tức đã giảm được 70% Cd (Cadmi chất cực độc đối với cơ thể con người) và 50% PCBs (chất hữu cơ khó phân hủy) trong tải lượng rắn lơ lửng đưa vào đới bờ biển Hà Lan nhờ việc giảm chúng ngay tại các nguồn phát thải, điều này đã được khẳng định qua điều tra quan trắc môi trường trong không khí; nơi đổ vật liệu nạo vét; trong tải lượng vào các con sông Hà Lan và trong tải lượng qua kênh English.
Cách tiếp cận tổng hợp với sự tham gia của các cơ quan có thẩm quyển cấp thành phố, tỉnh, quốc gia và quốc tế đã chứng tỏ tính hiệu quả trong việc giảm thiểu các mối đe dọa đối với bờ biển. Nhờ việc xác định chiến lược tổng thể cấp vĩ mô, xây dựng kế hoạch làm việc cho các bên tham gia và cung cấp nguồn vốn để triển khai thực hiện các hoạt động tại đới bờ đã đưa Hà Lan trở thành điểm trình diễn mô hình này hiệu quả nhất hiện nay.
Theo monre.gov.vn

Loay hoay xử lý sỉ thép

Trong quá trình luyện phôi thép, lượng sỉ thép phát sinh chiếm khoảng 3%/tổng sản lượng phôi thành phẩm. Các loại bụi thép và vảy thép chiếm khoảng 1%. Đây là con số đã không được ngành chức năng lưu ý để tiên lượng đúng mức cho công tác chuẩn bị xử lý các chất thải của ngành luyện phôi thép.
Khu đất Thép Miền Nam giành đổ sỉ thép
Chính vì vậy, đến nay, sau một thời gian đi vào hoạt động, chất thải từ các nhà luyện phôi thực sự là nỗi lo của DN và chính quyền địa phương.
Phải dành quỹ đất” để lưu giữ sỉ thép

Ông Lê Minh Châu, Trưởng Ban quản ý các KCN tỉnh BR-VT đã khẳng định: Sỉ thép không ô nhiễm, chỉ phải chôn lấp thôi. Chôn lấp thì trên đó chúng ta vẫn có thể xây dựng các công trình được. Sỉ cũng không bao nhiêu, 1 năm 3 triệu tấn phôi thì chưa đến 100 ngàn tấn sỉ. 100 ha Tóc Tiên thì cả đời chúng ta chôn cũng không hết. Khu Tóc Tiên dư sức cho chúng ta chôn lấp trong nhiều năm”.
Theo ông Trần Thanh Toàn - Phó giám đốc Cty Thép Miền Nam, mỗi tháng nhà máy thải 2.300 tấn sỉ, 600 tấn bụi lò, 400 tấn vảy thép. Ngoài bụi lò và vảy thép là những phế phẩm lâu nay được xem là đầu vào của một số ngành sản xuất hoặc được tái chế lấy thép, còn lại sỉ thép thì tại VN chưa có công nghệ nào xử lý nên khi đầu tư dự án luyện phôi, các DN đều tính đến phương án chôn lấp. Thực tế, khi thỏa thuận đầu tư dự án luyện phôi thép tại KCN Phú Mỹ, đơn vị có đặt vấn đề tìm nơi xử lý chất thải và tỉnh thống nhất sẽ xử lý chất thải ngành thép theo phương thức chôn lấp và cũng đã dành hẳn 100 ha khu Tóc Tiên để làm nơi xử lý chất thải và chôn lấp sỉ thép. Đến nay, khu vực chôn lấp chất thải của ngành thép trong khu 100 ha này vẫn chưa được nhà đầu tư triển khai. Trước đây, khi chưa có sự kiểm soát, quản lý chặt chẽ các nguồn thải công nghiệp, các nhà máy thép thường bán cho những đơn vị có nhu cầu vận chuyển. Nhưng từ năm 2009 đến nay, khi việc vận chuyển chất thải bị kiểm soát chặt, các DN đã phải lưu giữ chất thải tại nhà máy. Riêng Thép miền Nam tuy đã phải dành hẳn 1 khu đất rộng cả 1.000 m2 để lưu giữ nhưng với lượng sỉ thải ra mỗi tháng hơn 2.300 tấn thì chẳng bao lâu nhà máy không còn đất để lưu giữ. DN cũng đã đề nghị xin tỉnh hỗ trợ nhưng như ông Toàn nói thì đến giờ này DN chưa nhận được sự hỗ trợ gì.
Cũng trong tình trạng tương tự, anh Nguyễn Xuân Thiện - phụ trách môi trường của Cty cổ phần Thép Việt cho biết: Với công suất lò luyện 500.000 tấn/năm, Thép Việt đã phải dành 5 ha đất trong khuôn viên nhà máy để lưu giữ sỉ thép. Từ đầu năm 2009 đến hết tháng 6/2010 lượng xả thải của nhà máy đang được tạm lưu giữ khoảng 19.800 tấn và không biết tình trạng “tạm lưu giữ” này đến khi nào mới chấm dứt.
Cả địa phương và DN đều lúng túng
Lượng sỉ thép đang tồn giữ tại các nhà máy không đơn thuần là chiếm giữ đất, làm kém hiệu quả sử dụng đất mà còn dễ phát tán trong không trung vào những khi gió lớn, gây bụi và ô nhiễm môi trường xung quanh. đây là vụ việc đã xảy ra tại Cty CP Thép Việt hồi đầu năm nay, gây ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe của người dân xung quanh. Các hộ dân quanh vùng đã gửi đơn kiến nghị chính quyền các cấp. Đến lúc này thì địa phương mới thấy hết bất cập trong việc cấp phép cho các dự án luyện phôi với việc chuẩn bị công tác xử lý chất thải thép. Mới đây nhất, UBND tỉnh thành lập đoàn kiểm tra tình hình cấp phép và hoạt động của các DA thép trên địa bàn để tìm giải pháp hữu hiệu cho sỉ thép. Con số thống kê cho thấy, hiện trên địa bàn toàn tỉnh có 8 dự án thép đang hoạt động với tổng công suất hơn 4.550.000 tấn thép cán và 1 triệu tấn phôi thép/năm. Ngoài ra còn 10 dự án chưa triển khai, trong đó công suất luyện hơn 2,7 triệu tấn/năm. Chủ yếu các dự án luyện đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư đều dùng nguyên liệu đầu vào là thép phế thải - một phương pháp luyện phôi thải ra lượng sỉ lớn. Như vậy với công suất luyện tới 3,7 triệu tấn năm thì hàng năm BR-VT phải đối mặt với thách thức không nhỏ là sỉ thép. Đến hết đời dự án thì đây quả là vấn nạn bởi chắc chắn nếu vẫn chỉ tính đến xử lý xỉ thép bằng phương pháp chôn lấp thì diện tích dành cho công việc này sẽ không nhỏ. 
DN tự lo ?
Theo ông Trịnh Văn Nam - Trưởng ban dự án Cty Thép Việt, Chủ trương của Cty chỉ tập trung cho công việc chính là SX thép và phôi thép nhưng trong tình hình không tìm được nơi nào xử lý sỉ thép, trong khi lượng sỉ phát sinh ngày càng tồn đọng nhiều trong khuôn viên nhà máy, nên buộc đơn vị phải tính đến chuyện tự tìm giải pháp xử lý “thế bí” của đơn vị trong bối cảnh hiện nay. Hơn nữa, đơn vị còn một dự án luyện đã được cáp phép nên không thể không tính. Ông Nam nói: “Chúng tôi thực sự bị động nhưng sẽ có hướng giải quyết. Chúng tôi đã tính  đến hướng liên doanh với một đối tác nước ngoài để xử lý sỉ thải nhằm đạt tiêu chuẩn môi trường, đồng thời nó cũng mang lại hiệu quả kinh tế.”
Đây cũng là việc mà Cty Thép Miền Nam đã và đang tính toán để có thể tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất. Ông Trần Thanh Toàn - Phó giám đốc Cty Thép Miền Nam cho biết : “Chúng tôi cũng đã tích cực tìm không phải một mà ba đối tác. Nhưng vì chúng tôi là doanh nghiệp nhà nước 100% vốn cho nên mỗi lần chọn một đối tác đầu tư dính dáng đến tiền là phải qua rất nhiều cấp, nhiều khâu duyệt, nên quá trình này cũng mất thời gian.” “Tự doanh nghiệp phải xoay xở từ lâu. Nếu ngồi chờ sự hỗ trợ thì chắc chúng tôi phải ngưng SX  từ lâu” - ông Toàn khẳng định...
Về phía cơ quan quản lý chuyên ngành, bà Trần Thị Hường - Giám đốc sở Công thương cũng đề nghị các đơn vị phải chủ động tìm giải pháp căn cơ để phát triển ổn định và lâu dài.
Chuyên mục do Báo DĐDN phối hợp với
Tổng cục Môi trường - Bộ Tài nguyên Môi trường thực hiện

Bảy vấn đề ô nhiễm môi trường cần quan tâm

1. Sự tuyệt chủng của động vật có vú.
dong vat co vu
Có đến 25% động vật có vú đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, đây là một con số không hề nhỏ và có thể làm thay đổi một phần hệ sinh thái của trái đất. Hàng ngàn loài đã chết vì mất môi trường sống và tỉ lệ săn bắn tăng lên nhanh chóng ở các khu vực trọng điểm như Đông Nam Á, Trung Phi, Trung và Nam Mỹ, những loải vật này hầu như không còn cơ hội sống sót.
Nếu bạn nghĩ rằng sự tuyệt chủng của một loài động vật như loài linh miêu Iberia xinh đẹp không phải là một vấn đề lớn và cũng chẳng có ảnh hưởng gì nhiều đến hành tinh này cả, bạn nên nghĩ lại. Sự tuyệt chủng hàng loạt như thế này sẽ gây sự mất cân bằng nghiêm trọng trong chuỗi thức ăn của thế giới.
2. Các vùng biển chết
vung bien chet
Trong các đại dương trên thế giới, có những khu vực rất kì lạ và hầu như hoàn toàn không có sự sống. Những vùng biển chết này được đặc trưng bởi tình trạng thiếu oxy, nguyên nhân là do nito dư thừa trong phân bón nông nghiệp, khí thải từ các phương tiện giao thông, cũng như khí thải và nước thải từ các nhà máy, khu công nghiệp. Số lượng vùng biển chết được phát triển nhanh chóng kể từ năm 1960 và tăng gấp đôi theo chu kì 10 năm. Với phạm vi dưới 1,6 km2 đến 72.000 km2. Một trong những vùng biển chết đáng lưu ý nhất là vùng biển ở Vịnh Mexico, hậu quả của bủn thải độc hại từ các trang trại miền Trung Tây chảy xuống dòng sông Mississippi. Những khu vực thiếu Oxy có diện tích gần bằng tiểu bang Oregon.
Một vấn đề nữa đó là sự nóng lên toàn cầu có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của vấn đề này. Sự gia tăng khí CO2 trong khí quyển do hậu quả của nóng lên toàn cầu sẽ làm thay đổi lượng mưa, từ đó làm gia tăng dòng chảy từ các con sông vào các biển ở nhiều khu vực.
3. Đánh bắt nguồn cá dự trữ.
nguon ca du tru
Hàng triệu người người trên toàn thế giới coi cá là một thực phẩm quan trọng trong thực đơn ăn kiêng của họ. Như vậy, các ngư dân đang đánh bắt một số lượng lớn cá từ các đại dương gây nên nguy cơ mất mát lớn toàn cầu đối với tất các loài đang đánh bắt. Giống như sự tuyệt chủng của động vật có vú trên quy mô lớn, sự mất mát lớn của các loài cá sẽ gây ra một tác đông lớn đến hệ sinh thái trên toàn thế giới.
Không phải là quá muộn nếu tình trạng đánh bắt bửa bãi và quá mức hải sản được ngăn chặn kịp thời. Hệ thống sinh vật biển cũng là một hệ thống đa dạng sinh học, nhưng nếu cứ tình trạng này kéo dài thì thảm họa diệt vong của các loài cá là trong tầm tay. 29% các loải đã bị đánh bắt quá mức hoặc bị ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm môi trường biển, làm giảm đến 10% số lượng của chúng so với trước đây. Nếu tình trạng đánh bắt như hiện nay không được ngăn chặn kịp thời, thì sẽ có hoàn toàn 100% các loài cá biến mất trong thời gian không xa.
4. Sự phá hủy các rừng mưa nhiệt đới
mua nhiet doi
Bảo vệ rừng được coi là một trong những mục tiêu đi đầu trong phong trào vì môi trường trong nhiều thập kỷ qua. Bạn có thể nghĩ rằng, với sự quan tâm đó, việc bảo vệ rừng không nhất thiết phải được quan tâm nhiều đến nữa. Nhưng thật không may, sự nóng lên toàn cầu và nạn phá rừng đã phá hủy hoặc làm hư hại nghiêm trọng gần một nửa số rừng hiện nay.
Tỉ lệ rừng giảm đồng nghĩa với việc số lượng các động vật hoang dã cũng bị suy giảm. Rừng bị phá hủy giống như trái đất bị mất đi lá phổi xanh, làm gia tăng tốc độ nóng lên toàn cầu và ảnh hưởng đên lượng mưa trên diện rộng.
5. Băng tan ờ hai cực
bang tan
Băng ở hai cực đang tan chảy với một tốc độ chưa từng thấy và không có dấu hiệu của sự chậm lại, nó là minh chứng rõ rệt nhất của hậu quả việc nóng lên toàn cầu. Và hậu quả cùa nó là không hề nhỏ, nó làm mực nước biển dâng lên, kéo theo sau đó là cả một hệ lụy nghiêm trọng.
Các nhà khoa học Mỹ đã cảnh báo rằng “ dấu tay con người đã được phát hiện “ trên cả hai khu vực Bắc cực và Nam cực. Điều này có nghĩa rằng con người đã tác động và gây ra sự tan chảy ở cả hai cực của trái đất. Trước đây, Nam cực dường như là lực địa duy nhất hành tinh không chịu tác động thay đổi khí hậu do con người người tạo nên. Tuy nhiên, sự sụp đổ của dải băng Larsen B và Wilkins ở bán đảo Nam Cực cho thấy hậu quả của việc nóng lên toàn cầu là nhanh như thế nào.
6. Mức độ CO2 trong khí quyển
co2 trong khi quyen
Hiện tượng băng tan ở hai cực cũng là một dấu hiệu của việc khí CO2 tăng lên trong bầu khí quyển, tác nhân chính đằng sau hiện tượng nóng lên toàn cầu. Phác thải quá mức khí nhà kính là hậu quả của việc hiện đại hóa cuộc sống, về phương tiện giao thông, các nhà máy, trang trại chăn nuôi lớn. Nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp diễn như hiện nay thì việc biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu sẽ ngày càng nặng nề hơn.
Nhiệt độ trung bình có thể tăng thêm 120F vào cuối thế kỷ này nếu tình hình phá thải vẩn tiếp tục tăng lên, và với nhiệt độ đó con người không thể tồn tại ở thế giới này được nữa. Chỉ cần nhiệt độ toàn cầu tăng lên 7,20C sẽ gây nên hiệu ứng thảm họa Domino, gây nên thời tiết khắc nghiệt, dẫn đến một chuỗi các thiên tai lũ lụt, hạn hạn, thiếu nước, thiếu lương thực trầm trọng.
7. Gia tăng dân số
gia tang dan so
Cho dù chúng ta có muồn thừa nhận hay không thì đây vẫn là một nguyên nhân gây nên vấn đề môi trường lớn nhất, và nó vẫn gia tăng không ngừng theo từng phút. Con người chúng ta tiêu thụ tài nguyên một cách vô tội vạ, gây ô nhiễm không khí và nước ngọt cũng như nước biển, phá hủy hệ sinh thái, đẩy các loài đi đến nguy cơ bị tuyệt chủng.
Từ những ngày đầu tiên khai sinh ra thế giới loài người cho đến những đầu năm 1800 dân số toàn cầu chỉ mới đạt khoàng 1 tỷ người. Chỉ trong 200 năm, con số đã lên tới 6,5 tỷ. mỗi năm hành tinh chúng ta lại dung nạp thêm 74 triệu người, và con số đáng sợ đó sẽ tiếp tục tăng lên. Tất cả những cái miệng vẫn cần phải được cho ăn, vẫn cần phải uống nước và một nơi để ngủ, những công đồng mới được tạo ra và loài người vẫn sẽ tiếp tục xâm phạm vào thế giới tự nhiên.
Tất cả những vấn đề môi trường nêu trên đều rất nghiêm trọng và không phải là chuyện dễ dàng và một sớm một chiều để giải quyết nó. Không phải bây giờ mới phải nghĩ đến việc giải quyết nó khi hậu quả đã nhãn tiền, mà vấn đề này nên được quan tâm từ những thế hệ trước, tuy nhiên chúng ta không thể đi ngược thời gian để làm điều đó, nó cũng có nghĩa là chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa những nỗ lực của bản thân để giải quyết những vấn đề trên.
Nếu chúng ta còn muốn giữ hành tinh chúng ta như một nơi an toàn và lành mạnh cho chính mình và cho cả những thế hệ sau thì nhất thiết phải có những động thái thực sự mạnh mẽ để đảo ngược những thiệt hại mà chính chúng ta đã gây nên. 
http://thietbilocnuoc.com

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482