DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Ghi nhận về Hà Lan đối mặt với Biến đổi khí hậu và nước biển dâng

Dự án đê biển Gò Công - Vũng Tàu là một dự án lớn nhằm chủ động thích ứng Biến đổi khí hậu và chống nước biển dâng của nước ta. Chúng tôi xin giới thiệu đến bạn đọc những ghi nhận của GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân về những vấn đề phải đối mặt với sự biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Hà Lan, từ đó có thể học hỏi những kinh nghiệm của nước này trong việc xây dựng và thực hiện dự án đê biển Gò Công  - Vũng Tàu của Việt Nam.

Hà Lan là một lãnh thổ mà phần lớn là vùng đất thấp, được hình hành từ bốn châu thổ của các sông Rhine (Rhin), Maas (Meuse), Schelde và IJssel (Hình 1). Lịch sử Hà Lan là lịch sử chiến đấu không ngừng và kiên cường với biển và ngập nước để tồn tại từ trên 2000 năm nay.

Hình 1. Địa hình Hà Lan
Hà lan được thế giới biết đến như là đất nước của các polder (pôn-đơ) và hiện có trên 3000 polder ở các quy mô khác nhau (Hình 2).
Polder là một vùng đất thấp được đê bao bọc, là một thực thể thủy văn theo nghĩa là nó không có trao đổi nước bên ngoài ngoại trừ những công trình do con người xây nên và vận hành. Cối xay gió, biểu tượng của Hà Lan, là một công trình sử dụng năng lượng gió để bơm và tháo nước cho các polder, kết hợp làm cối xay.

Hình 2. Sơ đồ phổ biến của các polder
1. Đê Afsluitdijk và hệ thống công trình Delta Works
Nói đến polder là nói đến khả năng đê bị vỡ. Từ 1700 đến năm 1926 đã có 490 lần vỡ đê. Hình 3 chỉ ra vị trí và thời gian xảy ra các vụ vỡ đê này.

Hình 3. Vị trí và thời gian các lần vỡ đê ở Hà lan từ 1700 đến 1950
Những trận vỡ đê xảy ra vào các năm 1134, 1287, 1375, 1404, 1421, 1530, 1570, 1717, 1916 và 1953 thuộc loại thiệt hại nặng nề nhất . Sau thiên tai năm 1916, đê Afsluitdijk được xây dựng, ngăn IJselmeer với Biển Bắc. Polder Weringmeer được cải tạo và ba polder mới rộng lớn Noordoost, Oostelijk Fleveland và Zuidelijk Flevoland được hình thành (Hình 4).

Hình 4. Đê Afsluitdijk và các polder mới Hình 5, Vỡ đê năm 1953. Màu xanh là vùng bị ngập
Đê Afsluitdijk dài 32 km, bề mặt rộng 90 mét, chiều cao thiết kế ban đầu 7,25 mét trên mực nước biển. Ở đầu tây nam, Den Oever, có âu thuyền Stevin và ba dãy mỗi dãy năm cửa cống. Ở đầu đông bắc Kornwerderzand có âu thuyền Lorentz và hai dãy mỗi dãy năm cửa cống. Do nước từ các sông liên tục đổ vào và nước từ các polder mới được hình thành tháo ra, nên định kỳ IJsselmeer được thay nước.
Sau trận vỡ đê ngày 01.02.1953, đề án Delta Plan đề xuất một hệ thống công trình (Delta Works) rất quy mô cho vùng Zeeland và Nam Holland.

(Hình 6a).Đen: nước mặn; Xanh: nước lợ; Xanh lạt: nước ngọt (a) Đề án Delta Plan ban đầu (b) Đề án Delta Plan cuối cùng
Hình 6. Đề án Delta Plan sau trận vỡ đê năm 1953
Đề án ban đầu (Hình 6a) đã được tranh luận rất nhiều vì các tác động to lớn của các công trình đến môi trường. Nếu các cửa sông bị bịt kín lại, chế độ triều trong vùng này sẽ bị thay đổi căn bản. Đặc biệt nghề nuôi trai, ngành công nghiệp chủ lực của vùng sẽ bị mai một. Đề án cuối cùng được thỏa hiệp và được Nghị viện thông qua là đề án thể hiện trong Hình 6b. Delta Works được hoàn tất và đi vào hoạt động từ năm 1978.
2. Những thay đổi về môi trường nhận thấy được
Như dự kiến, chế độ thủy văn trong các thủy vực sau đê đã thay đổi đáng kể. Tất cả các cửa sông trong Delta Plan đều được đóng kín trừ Oosterschelde và Westerschelde. Mặc dù đê mở, ở Oosterschelde, chế độ triều đã giảm đi khoảng 25%. Ở những nơi khác, chuyển động triều bị chặn đứng, và nước mặn trở thành lợ hoặc ngọt. Vận tốc dòng chảy có nơi giảm đến 80 - 100% (Hình 7).

H.7 Giảm tốc độ dòng chảy tại Eastern Scheldt H.8. Thay đổi địa mạo tại Oosterschelde sau khi có các công trình. Nguồn: Rijkwaterstaaat.
Địa mạo lòng sông và nhiều khu vực sau các công trình cũng biến đổi nhiều (Hình 8). Các thay đổi về chế độ thủy văn, về chất lượng nước, và về địa mạo dẫn đến những biến đổi sâu sắc về sinh vật. Các loại cá biển không còn, các loại chim biển không đến nữa. Dần dần các loài thủy sinh vật khác phát triển và thay thế.
Theo các chuyên gia tình hình này không thể đảo ngược được.
Ở Zuiderzee, được gọi là IJsselmeer sau khi đê Afsluitdijk hoàn tất, cũng tương tự. Các loại cá như hareng, anchois, tôm và các loài thủy sản khác trước đây rất nhiều, đã dần dần biến mất. Theo ngư dân đây là một hậu quả của con đê. Các công trình Delta Works và đê Afsluitdijk đã giải quyết được vấn đề an toàn cho người dân, tạo thêm những polder mới, và về phương diện này là những thành công lớn.
Thế nhưng đồng thời, các công trình đó đã tạo ra những vấn đề mới và bài toán mới. Rõ ràng nhiệm vụ quản lý nước bao quát hơn việc xây dựng và bảo trì ngày càng nhiều các đê và cống đập. Việc đất ở các châu thổ bị sụt lún là một hiện tượng tự nhiên do các chất liệu trầm tích ngậm nước ít hay nhiều, và nền đất yếu.
Tuy chưa có số liệu đo đạc và được theo dõi tại các châu thổ, nhưng có thể ước tính, độ lún tỉ lệ thuận với mức độ thâm canh tăng vụ, với mật độ dân số và khối lượng các công trình được xây dựng bên trên, với mức độ khai thác nước ngầm, dầu mỏ. Mức độ sụt lún có thể từ 1÷10 mm/năm thậm chí đến 300 mm/năm. Nhiều công trình khoa học đã quan sát, theo dõi quá trình đất lún trong các polder. Độ sụt lún cao ở những địa bàn có than bùn. Hình 9 diễn đạt quá trình này.

H.9.Quá trình sụt lún đất trong polder. Đất canh tác ban đầu trở thành đất trồng cỏ cho chăn nuôi, và cần xây thêm đê thứ hai. Nguồn: Van de Ven, 1993.
3. Đánh giá mức độ an toàn của hệ thống đê
Có ba nguyên nhân được đưa ra để giải thích trận vỡ đê ngày 01.02.1953:
(a) Đê thấp và mái đê rất dốc;
(b) Cơn bảo phát sinh từ hai áp thấp đến từ Scotland hội tụ lại làm cho nước biển dâng cao, tràn qua đê và xói móc thân đê từ bên trong, làm cho đê yếu và vỡ;
(c) Cơn bão trùng với lúc có triều xuân phân.
Đó là chưa kể đến tình trạng sụt lún đất trước đó làm tăng khả năng đê bị vỡ. Cũng may là vào ngày vỡ đê không có lũ đổ về từ thượng nguồn các sông. Nếu không thì thảm họa sẽ còn lớn hơn nhiều.
Chính vì lẽ đó, sau khi các công trình Delta Works đi vào hoạt động năm 1978, Luật về an toàn đê đã được Nghị viện Hà Lan ban hành. Trước những thách thức của biến đổi khí hậu, năm 1996 một Luật mới về an toàn đê (New Dike Safety Act) đã được Nghị viện ban hành.
Theo luật này, mỗi con đê và giồng cát, đặc biệt ở ven biển, phải được khảo sát một lần mỗi năm năm theo các tiêu chuẩn được Chính phủ ban hành để đánh giá khả năng xảy ra các tình huống:
• chảy tràn và/hoặc mực nước cao hơn đỉnh đê;
• trượt đất ở mái trong và mái ngoài của đê;
• xói mòn của lớp phủ thân đê (cỏ, asphalt hoặc khối basalt) có thể dẫn đến đê bị vỡ;
• có mạch rò rỉ nước dưới chân đê và xói mòn thân đê từ bên trong.
Đợt khảo sát thứ nhất, chỉ thực hiện được về chiều cao đê và lớp phủ đê, đã được báo cáo với Nghị viện Hà Lan năm 2002: 50% trong tổng số 3550 km đê và giồng cát đáp ứng các tiêu chí; 35% không đủ thông tin để kết luận; 15% không đáp ứng yêu cầu về an toàn.
Báo cáo ước tính cần 2,55 tỉ euros cho việc tăng cường an toàn đê.
Theo kết quả của đợt khảo sát thứ hai chi tiết hơn, báo cáo với Nghị viện cuối năm 2006, tỉ lệ chiều dài đê và giồng cát không đáp ứng các tiêu chí mới về an toàn đê cao hơn. Tổng chi phí cho việc kiện toàn đê theo tiêu chí mới vượt quá ngân sách dành cho công tác này trong năm năm.
Kế hoạch High Water Protection Plan thể hiện sự lựa chọn ưu tiên của Chính phủ, được thực hiện thông qua đề án FLORIS (Flood Risks and Safety in Netherlands). Kết quả khảo sát tình trạng đê và giồng cát tại Hollandse Delta được thể hiện trong Hình 10a.
Chỉ trong vùng này, một số không ít polder không đáp ứng các yêu cầu của NBW (National Water Management Agreement) nhằm ứng phó với các thách thức của biến đổi khí hậu (Hình 10b).

Hình 10(a). Tình trạng đê tại Hollandse Delta Hình 10(b) Tình trạng polder tại Hollandse Delta
4.Hà lan trước thách thức của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
4.1. Theo các số liệu được công bố, nhiệt độ ở Hà Lan từ năm 1900 đến nay đã tăng +1,7°C, gần gấp đôi mức tăng trung bình trên thế giới (+0.8 °C).
Nước biển dâng ở Hà Lan bình quân trong thời gian qua là 24cm/100 năm, lớn hơn trung bình của thế giới (khoảng 20cm/100 năm).
Trong 10 năm gần đây mực nước dâng bình quân nhanh hơn 30cm/100 năm. Lưu lượng max của sông Rhine tăng 12%, và của sông Maas tăng 24%.
Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển sẽ dâng lên từ 0.65 ÷1.3 mét và từ 2 ÷ 4 m cho đến cuối thế kỷ XXII.
Tuy nhiên, trước tốc độ tan băng nhanh chóng ở Bắc Cực mà Hà lan ở cách đó không xa và nằm đúng ở eo nối liền Biển Bắc với Đại Tây Dương qua Biển Manche, phương án mực nước biển dâng đến 5 mét vào một thời điểm sớm hơn cũng đã được xem xét.
4.2. Ở Hà Lan các ủy ban về nước (water board) đã có từ 700 năm nay. Đây là một thể chế bao gồm chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn và các tổ chức đại diện cho người dân trên địa bàn cả về quyền lợi và nghĩa vụ.
Năm 1955, có tất cả khoảng 2500 ủy ban. Năm 1969, số ủy ban còn 1000 và hiện nay còn 27.
Trong phạm vi lãnh thổ của mình, ủy ban về nước có các trách nhiệm:
(a) quản lý và bảo trì các công trình có tác động đối với dòng chảy của nước như đê, giồng, bến cảng;
(b) quản lý và bảo trì các thủy lộ; bảo trì một mực nước thích hợp trong các polder và các thủy lộ;
(c) bảo trì chất lượng nước mặt thông qua việc xử lý nước thải.
Tuy nhiên, ủy ban về nước không phụ trách việc cung cấp nước sạch và cũng không phải là cơ quan dịch vụ công ích.

Hình 11. Địa bàn 27 UB về nước hiện nay

Hình 12. Tiêu chí an toàn cho mỗi vành đai đê
Số lượng các ủy ban về nước ít đi là để được tăng cường về nguồn lực và sự phối hợp được nhanh chóng và tập trung hơn.
Mặt khác, tháng 12/2007 Chính phủ Hà Lan thành lập Uỷ ban Châu thổ (Delta Commissie) với chức năng tư vấn, trên phạm vi cả nước, với tầm nhìn dài hạn, cho Chính phủ trong việc bảo vệ và phát triển bền vững vùng ven biển và các vùng đất thấp.
Tháng 9/2008, Ủy Ban Châu thổ đã đề xuất kế hoạch tổng hợp cho đến năm 2100 với 12 kiến nghị dưới đây:
1. Nâng cấp độ phòng chống lũ gấp 10 lần hiện nay;
2. Phát triển đô thị mới phải tính đến những chi phí hiện tại và tương lai đối với tất cả các ngành và các bên có liên quan;
3. Việc phát triển mới những vùng nằm ngoài phạm vi bảo vệ của đê phải đảm bảo không gây cản trở cho dòng chảy của sông hoặc ảnh hưởng tới mực nước trong đê trong tương lai;
4. Công tác phòng chống lũ cho các vùng bờ biển của Zeeland, Holland và các đảo ở biển Wadden sẽ được tiếp tục thực hiện bằng biện pháp phun cát nuôi dưỡng đê biển để các vùng bờ biển có thể phát triển ra hướng biển trong thế kỷ tới;
5. Để bảo vệ những vùng trũng và vùng bờ biển bắc Holland, và vùng bờ biển Wadden, cần phun lên vùng bãi đê này 12 triệu m3 cát mỗi năm;
6. Công trình ngăn triều ở Eastern Scheldt đã làm giảm lượng nước vào - ra khi triều cường và triều thấp. Tuổi thọ của các công trình ngăn triều ở Eastern Scheldt sẽ được kéo dài bằng các biện pháp kỹ thuật. Điều này có thể được thực hiện cho đến khi mực nước biển dâng lên khoảng 1 mét (dự kiến sẽ xảy ra sớm nhất là vào năm 2075). Khi không còn phù hợp nữa, sẽ tìm giải pháp cho vấn đề này bằng cách lưu trữ phần lớn nước triều tại những vùng cửa sông tự nhiên và đồng thời duy trì mức độ phòng chống lũ phù hợp.
7. Ở Western Scheldt phải duy trì một hệ thống triều mở để đảm bảo giao thông thủy đến cảng Anvers (Bỉ) và duy trì giá trị vùng cửa sông. Công tác phòng chống lũ được đảm bảo bằng cách gia cố thêm hệ thống đê sông.
8. Cho phép nước mặn vào hồ Krammer-Volkerak Zoommeer và đưa ra các giải pháp lấy nước ngọt từ vùng khác về để thay thế cho nguồn nước ngọt lấy từ hồ. Đến 2050 Vùng Krammer – Volkerak Zoommeer, Grevelingen và có thể cả vùng Eastern Scheldt phải được bố trí lại để có khu vực chứa nước tạm thời cho sông Rhine và sông Maas khi dòng chảy ra biển bị ngăn lại vì các cửa cống của công trình ngăn triều đóng lại.
9. Đối với các sông chính, đến 2050 và sau 2050 nhằm nâng cao khả năng chống lũ của các sông không phải bằng biện pháp nâng cao đê, mà cho phép sông tràn vào các không gian dự phòng, gọi là “Room for the River”.
10. Đối với vùng cửa sông Rhine đến năm 2050 chọn giải pháp hệ thống mở, có thể đóng lại khi cần thiết, kết hợp các công tác phòng chống lũ, cung cấp nước sạch, phát triển đô thị, phát triển tự nhiên trong vùng này. Các lưu lượng cực đại của sông Rhine và sông Maas sẽ được chuyển hướng qua vùng đồng bằng tây nam. Nước ngọt cung cấp cho vùng phía tây Hà Lan sẽ lấy từ hồ IJsselmeer.
11. Biến IJsselmeer thành hồ chứa nước ngọt có dung tích lớn nhất vào khoảng 2050 và sau 2050. Sẽ tăng tối đa mực nước hồ 1,5 mét để dòng chảy tự nhiên có thể từ hồ vào biển Wadden sau năm 2100. Mực nước hồ Markermeer sẽ không tăng. Các giải pháp làm tăng mực nước hồ có thể được thực hiện từng bước.
12. Các kiến nghị về chính trị, pháp lý, hành chính và tài chính.
4.3. Nghiên cứu kỹ các kiến nghị này cho thấy có một sự chuyển biến quan trọng: từ chinh phục thiên nhiên chuyển sang thích nghi với thiên nhiên để tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Chuyển hướng này không chỉ có ở Hà Lan mà cũng đang diễn ra tại Anh, Pháp, Đức, Bỉ, ...
Khởi đầu là ngưng phát triển các polder mới vào cuối thế kỷ XX. Kế đó là tình trạng chểnh mảng tu bổ các đê hiện có như đáng lý phải làm trong thập kỷ 1990. Và từ vài năm gần đây là thực tế “tháo polder” (depolderisation) dưới các hình thức khác nhau. Tuy diện tích chưa nhiều (có ước tính cho là khoảng 1% tổng diện tích các polder ở các nước Tây Bắc Âu đã được xây dựng cho đến nay) nhưng đây là một chuyển hướng manh nha rất quan trọng cần được phân tích và theo dõi. (Hình 13).

Hình 13. Sơ đồ “tháo polder” tại Anh, Pháp, Bỉ, Đức và vùng Zeeland Hà Lan (bên phải)
Nguyên nhân gì đã dẫn đến sự chuyển hướng này? Để trả lời, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách ở Tây Âu cần giải đáp bốn câu hỏi cụ thể :
+ Có lợi ích gì về sinh thái khi làm ngập các polder?
+ Có lợi ích gì về kinh tế khi trả đất lại cho biển?
+ Có lợi ích gì về cảnh quan và văn hóa – xã hội khi phá đi sức lao động của con người từ cả ngàn năm qua?
+ Có ích gì khi phá bỏ các đê, làm suy yếu khả năng bảo vệ bờ biển trong một vùng thường có bão và sắp tới nước sẽ dâng?
Trong một bài sau, chúng tôi sẽ đề cập đến các vấn đề này và các nguyên nhân, đồng thời thử liên hệ từ những ghi nhận trong bài này đến đất nước ta.
GS. TSKH NGUYỄN NGỌC TRÂN

Ứng phó với ngập lụt và biến đổi khí hậu: “Cần sự chung tay của các nhà quy hoạch”

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trên một nền đất thấp trong lưu vực sông Đồng Nai và gần biển, do đó dễ dàng bị ngập do mưa lớn, nước lũ thượng nguồn hay triều cường. Trong tương lai, rủi ro của thành phố có thể còn trầm trọng hơn khi hệ quả của Biến đổi khí hậu (BĐKH): nước biến dâng cao và lượng mưa gia tăng bất thường, tác động vào vùng đất này. Ngân hàng Thế giới xếp TP HCM vào danh sách 10 thành phố rủi ro nhất thế giới về quy mô dân số chịu ảnh hưởng BĐKH(1). Đánh giá lại quá trình 10 năm thành phố “tuyên chiến” với tình trạng ngập lụt, Tạp chí Quy hoạch Đô thị đã có cuộc trao đổi với ông Hồ Long Phi, giám đốc Trung tâm Quản lý nước và Biến đổi Khí hậu - Đại học Quốc gia TPHCM về ngập lụt trong đô thị, biến đổi khí hậu và vai trò của quy hoạch (QH).

Sau một thập niên chống ngập và bắt đầu ứng phó với BĐKH tại TP HCM, là người vừa trực tiếp tham gia triển khai nhiều dự án, vừa làm nghiên cứu, ông đánh giá như thế nào về chặng đường vừa qua?

Ông Hồ Long Phi (ảnh bên): - Các dự án chống ngập cho TPHCM đã khởi đầu từ bản QH tổng thể thoát nước do JICA tài trợ và được thực hiện bởi công ty tư vấn PCI (Nhật Bản). Nhìn chung, đây là một QH khá tốt, tạo điều kiện cho các dự án ODA triển khai từ 2003 đến nay. Tiến độ của các dự án kéo dài đến 10 năm và thực sự chưa có dựán nào hoàn tất. Tuy nhiên kết quả quan trắc cho thấy rằng các dự án này và nhiều dựán nhỏ kháccũng đã dần phát huy tác dụng từ 2008 trở lại đây. Các khu vực ngập triều cục bộ cũng đang dần được kiểm soát bằng giải pháp tại chỗ với hơn 600 van một chiều và máy bơm đã được lắp đặt.Có thể nói rằng đỉnh điểm của tình trạng ngập ở TPHCM là năm 2007 với trên 100 vị trí. Con số này chỉ còn 31 trong năm 2011. Năm 2011 cũng là năm mà lần đầu tiên không thấy chất vấn của HĐND TP về tình trạng ngập.
Những thành công bước đầu minh chứng cho luận điểm chưa cần thiết triển khai dự án kiểm soát triều trên diện rộng mà kinh phí ước tính hiện tại sẽ không dưới 3 tỉ USD. Thay vào đó nên can thiệp từng bước và có trọng điểm như đã được triển khai trong thời gian qua trong khi chờ đợi những giải pháp can thiệp dài hạn.
Còn những mục tiêu nào chúng ta chưa hoàn thành?
- Điều chưa làm được hoặc sẽ phải làm vẫn còn là thách thức lớn trước mắt.
Thứ nhất, các dự án chống ngập trong hiện tại chỉ mới triển khai cho khu vực trung tâm với tổng diện tích phụ trách chừng 100 km2. (Trong khi đó) Phần diện tích đang chuẩn bị đô thị hoá càng lúc càng tăng dần và có thể đạt đến 850km2 vào năm 2025. Nếu ước tính theo kinh phí đã bỏ ra cho khu vực trung tâm, thì cần đầu tư khoảng 7 tỉ USD cho các khu vực còn lại trong hai thập niên tới, kể cả phần thoát và xử lý nước thải. Với khả năng giải ngân chưa đầy 100 triệu USD/năm như hiện nay thì tình trạng ngập sẽ dần xuất hiện ở khu vực ngoại thành trong những năm tới nếu chúng ta không có giải pháp để khắc phục.
Thứ hai, tình trạng BĐKH (BĐKH), có nguyên nhân cục bộ và toàn cầu, đã làm cho hệ thống kiểm soát ngập không làm việc đúng như mong đợi. Thay vì chu kỳ tràn cống thiết kế dự kiến là 2-3 năm, những hệ thống này hiện nay chỉ có thể đáp ứng chống ngập với tần suất không quá 1 lần/năm. Con số này sẽ tiếp tục tăng dần đi theo thời gian.Điều này đòi hỏi những cách tiếp cận mềm để bổ sung cho giải pháp công trình. Giải pháp thì đã có, tính toán cũng đã xong. Tuy nhiên vấn đề này chỉ có thể được giải quyết nếu có sự chung tay của các nhà QH đô thị và sự đồng thuận của cộng đồng.
Thứ ba, vấn đề cảnh báo lũ từ thượng nguồn và kế hoạch ứng phó để giảm thiểu thiệt hại cần được đặt lên ưu tiên hàng đầu.Các hiểm họa do thiên tai luôn chực chờ bất chấp tất cả những nỗ lực của con người.Không thể có giải pháp đảm bảo chống ngập 100%. Quan điểm kiểm soát ngập hiện đại cho rằng thay vì chỉ tập trung tìm cách giảm tần suất xuất hiện ngập như cách chúng ta đang làm hiện nay (flood protection), thì giải pháp thông minh hơn là: tìm cách để sao cho xảy ra thiệt hại ít nhất khi bị ngập (flood resilience). Đây là một vấn đề có tính liên ngành, trong đó QH đô thị đóng vai trò trung tâm.
Thứ tư, các hồ chứa ở thượng nguồn vẫn được hoạt động theo chế độ tối ưu hóa lợi nhuận ngành. Do đó, vào cuối mùa mưa, các hồ này đều tích đầy nước để chuẩn bị cho mùa khô năm tới. Chỉ cần một trận bão lịch sử xảy ra vào cuối mùa mưa là một Bangkok thứ hai sẽ có thể tái diễn tại TPHCM. Do đó việc phối hợp liên ngành và trên toàn lưu vực trên quan điểm lợi ích tổng thể là đều cực kỳ quan trọng. Quản lý nước lưu vực vẫn còn là một vấn đề vượt ngoài khả năng giải quyết của các nhà kỹ thuật.
Thứ năm, nhiều dự án có quy mô lớn và cực lớn đang tìm cách viện cớ chống ngập để can thiệp thô bạo vào tự nhiên.Những dựán này thường dựa vào các kịch bản dài hạn mang tính hù dọa để tác động vào chính sách theo hướng có lợi cho họ. Đặc điểm chung của các dự án này là cách tiếp cận "dự báo và hành động". Phương pháp này nguy hiểm ở chỗ các dự báo dài hạn thường không chính xác, đặc biệt là trong điều kiện rất không chắc chắn của BĐKH. Do đó các tác động kiểu "can thiệp một lần" hàm chứa khá nhiều rủi ro cả về kinh tế lẫn kỹ thuật. Phương pháp tiếp cận hợp lý là phải dựa vào tự nhiên để hành động và chỉ can thiệp từng bước để có thể thích nghi tốt nhất với các diễn biến không chắc chắn trong tương lai xa.
Cuối cùng, một vấnđề nan giải khác là tình trạng lún trên diện rộng do khai thác nước ngầm và tải trọng nhà cao tầngtrên đất yếu. Đây là tình trạng phổ biến có tính quy luật và đã xảy ra ở nhiều thành phố khác như Thượng Hải, bangkok, Jakarta... Quan trắc ở TPHCM cho thấy tốc độ lún trung bình ở TPHCM torng thời gian 1995-2010 cao gần gấp 5 lần so với tốc độ dâng của mực nước biển cùng thời kỳ.






Bản đồ so sánh vị trí ngập năm 2007 và năm 2011 sau khi nhiều dự án thoát nước được thực hiện.
Một lần nữa ông cho rằng chưa cần thiết phải triển khai các dự án kiểm soát triều tốn kém. Trước đó ông cũng đưa ra những nghiên cứu thực nghiệm về nguyên nhân gây ngập lụt tại TP HCM và kết luận rằng chính là việc phát triển đô thị đã là nguyên nhân chính(2). Những kết luận này đã thuyết phục được chính quyền thành phố và có tác động đến chính sách phát triển đô thị hay chưa?
- Tác động của những hoạt động của con người đối với ngập lụt đô thị làđều có thể khẳngđịnh cả về khoa học lẫn thực tiễn. Tôi cũngđã chứng minhđược rằng việc theo đuổi những giải pháp quy mô lớn vào thời điểm hiện nay sẽ sai lầm cả về kinh tế lẫn kỹ thuật. Bài học ỷ lại vào hệ thống chống ngập quy mô lớn của Bangkok vào cuối năm 2011 đã chứng minh cho luận điểm này.
Những giải pháp quy mô lớn sẽ không đủ tính mềm dẻo cần thiết cho việc thích nghi với những yếu tố không chắc chắn, nhưng lại đòi hỏi tập trung nguồn lực quá sớm và quá nhiều trongđiều kiện kinh tế vĩ mô còn rấtkhó khăn. Một yếu tố nữa cũng cần chúý làviệc vận hànhvà duy tu những hệ thống quy mô lớn như vậy là không đơn giản và hàm chứa nhiều rủi ro.
Trong bối cảnh vẫn còn tồn tại những đối lập về quan điểm như thế, TPHCM đã chọn cách làm song song. Một mặt vẫn triển khai các bước chuẩn bị kỹ thuật cho dự án kiểm soát triều trên diện rộng theo đề xuất của Bộ NN-PTNT vì đây là bản QH đã được phê duyệt bởi Thủ tướng và trở thành pháp lệnh đối với các cơ quan nhà nước. Mặt khác thành phố vẫn tiến hành song song dự án QH kiểm soát ngập theo quan điểm tích hợp do chính phủ Hà Lan tài trợ(3). Bản thân Trung tâm Chống ngập TP HCM (TTCN) đã triển khai khá nhiều những dự án cục bộ, quy mô nhỏ nhằm giải quyết trực tiếp và tức thời vấn đề ngập lụt chứ không trông chờ vào dựán quy mô lớnvà đã có những thành công rõ nét.
Đối với vấn đề quản lý xây dựng đô thị, một số sự kiện gần đây được đăng tải trên báo chí liên quan đến việc khôi phục dung tích điều tiết nội thị (chẳng hạn như vụ lấp rạch Tân Cảng(4)) cũng có thể cho thấy phần nào sự thay đổi về quan điểm của TP. Tuy nhiên để tạo ra một chuyển biến rõ rệt trên diện rộng còn cần nhiều hơn thế.






Bản đồ thể hiện hệ thống đê bao khổng lồ bao quanh TP HCM do Bộ NNPTNT đề xuất. 
Ông đã nhắc đến giải pháp mềm và nhấn mạnh vai trò của các nhà QH đô thị. Vậy đó là những giải pháp gì và vai trò của QH đô thị như thế nào để thực hiện chúng?
- Giải pháp thứ nhất: hoàn trả và mở rộng từng bước không gian dành cho nước. Quy luật phân bố của nước rất dễ hiểu: Nó chỉchiếm ngụởnhững nơi thấp nhất. Bất cứ QH không gian nào dành chỗ của nước, trước sau gì cũng sẽ phải trả giá. Một đề án QH đô thị nhất thiết phải tích hợp một không gian tối thiểu dành cho nước, cũng tương tự như không gian dành cho giao thông, công nghiệp, dân cư, cây xanh... thay vì tìm cách đẩy nước đi chỗ khác. Trong điều kiện bất định của BĐKH, giải pháp không gian dành cho nước sẽ phải đủ mềm dẻo để có thể thích nghi theo thời gian.
Vai trò của nhà QH đô thị là phải tôn trọng quy luật này và phát huy các sáng kiến có thể để giúp không gian dành cho nước có thể thích nghi được với BĐKH, đồng thời đủ tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật và dân trí. Các kỹ sư thoát nước chỉ có thể cung cấp số liệu đầu vào về dung tích cần thiết và vị trí của các khu vực điều tiết chính, nhưng thể hiện chúng ra thành giải pháp đô thị sẽ cần sự đóng góp của các nhà QH.
Còn trong thực tế hiện nay, cách làm thông thường vẫn là: Các bản QH được vạch ra trước, thể hiện mong muốn của nhà chuyên môn hoặc thật ra là của người đặt hàng và không loại trừ là dưới tác động của các nhóm lợi ích. Sau đó, nhiệm vụ của các kỹ sư thoát nước là phải giải quyết ngập lụt dựa theo đồ án QH không gian đã được duyệt.
Một quy trình như vậy thường làm hạn chế chọn lựa về phạm vi và giải pháp của các kỹ sư thoát nước. Ví dụ điển hình là bản QH không gian của TPHCM đến 2025 đã đề xuất phát triển bốn khu vực vệ tinh chung quanh khu đô thị hiện hữu. Ba trong bốn khu vực này nằm ở vùng trũng, thấp và dễ thương tổn do ngập lụt. Từ cách tiếp cận này mà Bộ NN-PTNT đã có lý do để đề ra những bản QH chống ngập trị giá nhiều tỉ USD theo kiểu bao đê quanh thành phố hay thậm chí xây dựng hẳn một tuyến đê biển nối từ Vũng Tàu qua Gò Công. Những tác giả của bản QH này có được trong tay một lý lẽ biện minh rất thuận lợi chính là đề án QH chung TPHCM đến 2025 do Thủ Tướng phê duyệt. Tuy nhiên không nên quên rằng: không giống như Bangkok hay Hà Lan, nơi mà các đô thị đã "lỡ" phát triển từ lâu trên những vùng đất thấp;TPHCM vẫn còn có những lựa chọn khác để phát triển.
Cách là hợp lý hơn là: Các nhà QH đô thị nên ngồi cùng bàn với các kỹ sư thoát nước ngay từ đầu để cùng nhau vạch ra những giải pháp QH tốt nhất có thể, trong đó các yếu tố thích nghi và giảm nhẹ thiệt hại phải được quan tâm ngay từ đầu chứ không nên chỉ trông chờ vào các công trình chống ngập.
Có thể nói rằng: tất cả những giải pháp chống ngập mà không có yếu tố bảo toàn hay hoàn trả không gian cho nước đều ít nhiều mang tính di chuyển rủi ro từ nơi này qua nơi khác, hay tích lũy nguy cơ từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Nếu ý thức điều này, các nhà QH cần phải giải quyết vấn đề không gian cho nước một cách rốt ráo ngay từ bây giờ.
Giải pháp thứ hai: Giảm nhẹ thiệt hại thay vì chỉ giảm nhẹ nguy cơ. Đặc điểm chung của giải pháp cứng là giới hạn thiết kế. Tất cả các công trình chống ngập đều có năng lực thiết kế của nó, do đó không-bao-giờ-xảy-ra-ngập-lụt là điều hoang tưởng. Dự án kiểm soát triều khu vực TPHCM dự kiến có mức đảm bảo là 95%, có nghĩa là cứ trung bình 20 năm khu vực được bảo vệ có thể bị ngập một lần. Một biến cố vượt qua năng lực thiết kế của công trình sẽ mang lại thiệt hại cho tất cả khối tài sản tích lũy trong thời gian trước đó.Một ví dụ gần đây: Bangkok được bảo vệ ở mức 97%, tương ứng với chu kỳ lập lại là 30 năm đã không thể chiụ đựng nổi biến cố tương ứng với chu kỳ lặp lại là 50 năm, dẫn đến hàng chục tỉ USD thiệt hại.
Như vậy quan trọng là làm sao cho tổnthất khi xảy ra ngập lụt là nhỏ nhất. QH không gian đóng vai trò quan trọng vì nó hướng dẫn và nhắc nhở cộng đồng về nguy cơ ngập lụt. Việc tiếp tục phát triển đô thị trên những vùng trũng thấp cần được hạn chế và trong trường hợp phải chấp nhận thì các giải pháp giảm nhẹ thiệt hại cần phải được nghiên cứu thực hiện.
Tóm lại, một bản QH đô thị nên chú ý đến ba nguyên tắc sau: Thứ nhất, trong mọi trường hợp, không được phép gây ra dòng chảy tràn phát sinh thêm bởi dự án. Điều này được thực hiện thông qua các không gian điều tiết phân bố. Thứ hai, không gian QH dành cho nước phải cho phép mở rộng nếu cần thiết để thích nghi với tính bất định của BĐKH. Thứ ba, việc xảy ra ngập lụt ở các khu vực dễ thương tổn cần được kết hợp giải quyết bằng các giải pháp mềm để giảm nhẹ thiệt hại trong trường hợp xảy ra các biến cố cực lớn, chứ không chỉ trông chờ vào các công trình chống ngập.
Việc nghiên cứu các giải pháp chống ngập dài hạn không chỉ dựa chủ yếu vào thủy học (hydrology) mà tốt nhất phải là thủy học sinh thái (eco-hydrology), trong đó bao hàm cả yếu tố con người. Công tác chống ngập trong điều kiện BĐKH đã không còn là lĩnh vực độc quyền của các nhà kỹ thuật thuỷ lợi.
Bản đồ dự báo vùng ngập lụt vào năm 2050 của ICEM thực hiện cho UBND TP HCM (tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB) trong kịnh bản có hệ thống đê bao bảo vệ như quy hoạch cho thấy hiệu quả của hệ thống này còn hạn chế và nguy cơ ngập lụt sẽ bị đẩy sang các địa phương khác.
Đối với TPHCM, để nhìn lại và tổng kết một bài học về QH, ông đánh giá như thế nào về chiến lược phát triển đô thị về phía Nam, với trung tâm là đô thị Nam Sài Gòn (NSG), liệu đây có phải là một sai lầm về quy hoạch như nhiều học giả gần đây lên tiếng phê phán?
- Công bằng mà nói thì vào thập niên trước, khi thực hiện dự án này, các nhà QH Việt Nam (và cả trên thế giới) vẫn còn bám theo tư duy truyền thống: Cứ phát triển trước và sẽ được bảo vệ bởi các công trình chống ngập. Tuy nhiên, quan điểm phổ biến hiện nay về BĐKH là bất chấp mọi nỗ lực, con người sẽ không bao giờ thể kiểm soát được ngập lụt 100%. Xét trên quan điểm này thì việc phát triển khu đô thị NSG có thể ví như "nhúng một chân xuống nước".
Khu đô thị NSG và cả những dự án phát triển trên vùng đất ngập triều chung quanh TPHCM đều còn có thể điều chỉnh được và cần phải được điều chỉnh theo hướng thích nghi; không đặt cược sự an toàn của mình hoàn toàn dựa vào hệ thống chống ngập, dù với quy mô nào đi nữa. Một sự điều chỉnh như vậy phải được cân nhắc trên tầm chiến lược ứng phó chứ không thể chỉ đưa ra khuyến cáo và để mặc cho các nhà đầu tư và dân cư tự xoay sở một cách cục bộ.
Tôn trọng không gian dành cho nước là nguyên tắc số 1. Tuy nhiên nếu hiểu là cần phải tuyệt đối không phát triển ở vùng thấp thì lại đi vào cực đoan và phi thực tế. Mọi vấn đề kỹ thuật và duy lý luôn cần phải đối chiếu với hành vi con người để tránh sa vào những quyết định: đúng về lý thuyết nhưng sai khi đưa vào áp dụng trên thực tiễn. Quy luật của nước là chiếm những chỗ thấp trũng. Nhưng tại sao con người lại luôn thích sống gần nước? Có cách nào để thỏa mãn tâm lý ấy mà không làm tăng rủi ro? Có cách nào sống chung với nước nhưng không chiếm chỗ của nước? Nhưng nếu để mặc cho sự phát triển đô thị và khu công nghiệp trên vùng đất thấp ngoại thành diễn ra như thời gian vừa qua mà thiếu sự điều chỉnh về yếu tố thích nghi và không tôn trọng không gian dành cho nước; chỉ dựa vào ảo tưởng là sẽ được bảo vệ bởi các công trình kiểm soát ngập hàng tỉ USD thì lại là một cực đoan nguy hiểm như trường hợp Bangkok.
Thay vì tiếp tục tranh luận Đúng-Sai, Nên-Không-Nên trong trường hợp này thì điều cần làm là tìm cách phát triển những giải pháp “lưỡng toàn”. Tôi cho rằng luôn luôn nên cố gắng tìm kiếm Lời giải thứ ba trong mọi trường hợp.
Và ông đã thấy những dự án đã và đang tìm kiếm Lời giải thứ ba đó?
Mục đích của Lời giải thứ ba là hòa giải giữa các xu hướng cực đoan: Kỹ thuật thì xem các hiểm họa do nước như làyếu tố có thể kiểm soát được bằng các giải pháp công trình; Sinh thái và Môi trường thì xem không gian dành cho nước là bất khả xâm phạm và phải bảo tồn thiên nhiên bằng mọi giá; còn Kinh tế thì muốn lạm dụng nước để sinh lợi tối đa.
Chung sống với nước một cách bền vững và ít rủi ro là mục tiêu của lời giải thứ ba. Để làm được điều này cần phải vượt qua khá nhiều trở ngại, trong đó chủ yếu là sự thông hiểu, đồng thuận và cộng tác giữa các bên có liên quan. Các yếu tố kỹ thuật dù phức tạp nhưng sẽ không phải là trở ngại chính.
Đối với TPHCM, những khởi đầu của sự phối hợp đó đã được thể hiện qua một số đề án, trong đó đặc biệt quan trọng là đề án về QH không gian điều tiết nước và đề án QH kiểm soát ngập theo hướng tích hợp cho TPHCM. Đề án đầu tiên hy vọng sẽ được bắtđầu thực hiện vào khoảng giữa năm 2012 và kết thúc vào giữa năm 2013. Đề án thứ hai đang được thực hiện và sẽ kết thúc vào cuối năm 2012. Ngoài ra, một số dự án công trình cụ thể cũng đang trong quá trình chuẩn bị để tìm kiếm sự đồng thuận.
Tuy nhiên từ QH đến thực tế là một khoảng cách khá xa và trong nhiều trường hợp một lời giải hay chưa chắc đã vượt qua nổi những thách thức dọc đường. Một lần nữa, quá trình Thông hiểu – Đồng thuận – Cộng tác lại phải được lập đi lập lại cho từng dự án cụ thể. Cần phải có những đơn vị hay tổ chức đứng trên quan điểmkhoa học và khách quan để làm tác nhân nối kết về mặt kỹ thuật (liên ngành và đa ngành) và về mặt quan hệ (giữa cộng đồng, nhà nước và các nhóm lợi ích). Như vậy, Lời giải thứ ba sẽ luôn là lời giải Tích hợpĐa mục tiêu.
QH dường như là vấn đề vĩ mô quá lớn để mỗi cá nhân có thể nhận thức trọn vẹn và tham gia tích cực. Xin được hỏi ông mỗi công dân, mỗi cộng đồng có thể làm gì để giúp thành phố mình giảm bớt nguy cơ ngập lụt?
- Trong trường hợp TPHCM thì điều đáng chú ý là việc chấp nhận và khởi xướng các giải pháp mềm lại xuất phát từ các cơ quan Nhà nước thay vì từ cộng đồng.Việc thực hiện chiến lược Thích nghi và Giảm thiểu thiệt hại có thể sẽ dẫn đến một xáo trộn đáng kể cho cư dân vùng ngập lụt, do đó cần phải có một lộ trình phù hợp, phối hợp đa ngànhvà hợp tác giữa chính quyền và cộng đồng để thực hiện việc này. Gần đây, chúng tôi có tiến hành khảo sát về khía cạnh Kinh tế - Xã hội của ngập lụt đô thị. Kết quả sơ bộ cho thấy đa số người được phỏng vấn đồng ý đóng góp trực tiếp cho công tác chống ngập với các mức độ khác nhau chứ không chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước.
Tôi luôn cho rằng nếu thiếu sự Thông hiểu – Đồng thuận – Cộng tác thì không thể thực hiện đưọc những ước mong về giảm thiểu nguy cơ và thiệt hại cho ngập lụt. Xuất phát từ hai nguyên tắc: tôn trọng không gian giành cho nước và giảm thiểu thiệt hại một cách chủ động, mỗi người tuỳ theo năng lực, vị trí, nghề nghiệp, gia cảnh của mình sẽ có thể đưa ra được những hoạt động phù hợp nhất. Về phía chính quyền, sẽ phải thể hiện hai nguyên tắc này dưới dạng luật. Về phía cộng đồng, đừng trông chờ là sẽ được tuyệt đối an toàn bằng các công trình chống ngập mà hãy chủ động tìm cách giảm nhẹ thiệt hại cho chính mình với sự giúp đỡ hỗ trợ của chính quyền. Về phía các nhà kỹ thuật, hãy ưu tiên cho những ý tưởng, đề án, giải pháp có tính liên ngành thay vì đơn ngành như hiện nay. Một khi chúng ta xuất phát với cùng những nguyên tắc định hướng, sự đồng thuận và cộng tác sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Nguyễn Đỗ Dũng (thực hiện) - Tạp chí Quy hoạch Đô thị số 09 - 2012

ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO BIỂN Ở KHU VỰC TÂY NAM BIỂN ĐÔNG

______________________________________________________________________________
Tóm tắt:
- Áp dụng phương pháp phân tích ảnh viễn thám có độ phân giải khác nhau kết hợp với bản đồ đẳng sâu và sự phân bố trầm tích cho phép nghiên cứu địa mạo đáy biển ở khu vực tây nam biển Đông từ mức độ khu vực đến chi tiết.
- Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải thấp kết hợp với tài liệu đo sâu trong nghiên cứu địa mạo đáy biển cho phép phân chia địa hình đáy biển thành 4 vùng địa mạo như thềm, sườn, chân lục địa và đáy biển sâu.
- Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải trung bình (100 đến 200 m) trong nghiên cứu địa mạo đáy biển có thể xác định sự phân bố các kiểu địa hình và kết quả này góp phần hiệu chỉnh các bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 200.000 và 1: 500.000.
 - Sử dụng ảnh viễn thám có độ phân giải từ 2 đến 5 m trong nghiên cứu địa mạo đáy biển ở mức độ chi tiết giúp chỉ rõ hình thái thành phần địa hình và dự báo các tiềm ẩn tai biến địa chất liên quan.

 I. MỞ ĐẦU
Trước đây, phương pháp phân tích ảnh viễn thám trong nghiên cứu đáy biển đã được áp dụng ở nhiều nước, nhưng cho tới nay phương pháp này vẫn chưa được sử dụng trong các công trình nghiên cứu địa hình, địa mạo và địa chất biển Việt Nam do chưa có ảnh vệ tinh đáy biển. Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã sử dụng các ảnh viễn thám có độ phân giải khác nhau để nghiên cứu đặc điểm địa mạo đáy biển ở khu vực tây nam biển Đông và xác định khả năng ứng dụng của phương pháp này ở Việt Nam.
Vùng nghiên cứu là phần đáy biển Đông từ Nam Trung Bộ đến Đông Nam Bộ, được khống chế trong ô tọa độ địa lý từ 9,57o đến 13o vĩ độ Bắc và từ 105,36o đến 113o kinh độ Đông (Hình 1).
Khi chưa áp dụng ảnh viễn thám trong nghiên cứu, thềm lục địa ở khu vực này được phân chia với ranh giới thềm - sườn ở độ sâu -200 m [10], -200 đến -300 m [1-9, 11, 12]. Các bản đồ địa hình đo trong vùng nghiên cứu được vẽ trên cơ sở nội suy các điểm đo sâu rời rạc và kết hợp các tuyến đo sâu hồi âm. Vì vậy, hình thái địa hình có chỗ sai khác với thực tế và nhiều hình thái địa hình chi tiết vẫn chưa được chỉ ra. Việc áp dụng phương pháp viễn thám kết hợp với kết quả của những phương pháp khác ở những mức độ khu vực, trung bình, chi tiết phần nào giải quyết được những nhược điểm này.
II. NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO KHU VỰC
Ảnh viễn thám mầu image@2005. EarthSat và số liệu đo sâu đáy biển là tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu địa mạo khu vực (Hình 1).


Hình1. Image@2005.EarthSat và vị trí đo sâu vùng nghiên cứu
Ảnh chụp vào mùa khô năm 2005, dạng lập thể bao phủ toàn vùng nghiên cứu. Tỷ lệ phẳng của ảnh tương ứng 1: 500.000 và có tọa độ được cung cấp bởi Google. Số liệu đo sâu được lấy từ chương trình Cmap 93 của CHLB Đức với mật độ điểm tương ứng với tỷ lệ 1: 300.000.
Hình 2. Sơ đồ phân chia vị trí các khu vực địa hình vùng nghiên cứu theo ảnh và độ sâu


Việc thành lập đường đồng mức độ sâu địa hình đáy biển được thực hiện nhờ phần mềm Vertical dùng thuật toán Kriging trên số liệu đo sâu của Cmap 93. Kết quả vẽ đường đồng mức đẳng sâu nội suy theo thuật toán Kriging được thể hiện trên hình (Hình 2).
Việc phân chia các đơn vị địa hình trong vùng nghiên cứu tiến hành dựa vào các cơ sở sau:
Về địa hình: ảnh được chọn là image@2005.EarthSat chụp khu vực nghiên cứu vào buổi chiều. Điều đó giúp dễ dàng nhận thấy rõ vị trí bóng râm của các bậc địa hình và tính chất phân dị của địa hình. Căn cứ vào các yếu tố này kết hợp với tài liệu đo sâu của Cmap 93 và sự thay đổi độ dốc địa hình một cách tương đối có thể phân chia và gọi tên tương ứng là vùng thềm lục địa, vùng sườn lục địa, vùng chân lục địa và vùng đáy biển sâu. Như vậy, từ ảnh viễn thám và tài liệu đo sâu có thể nhận ra được 4 vùng địa hình.
Vùng thềm lục địa với đặc điểm địa hình trên ảnh không thể hiện sự phân dị và độ dốc địa hình thay đổi không đột ngột. Ranh giới thềm - sườn là nơi địa hình có độ dốc thay đổi đột ngột và tính phân bậc rõ ràng thể hiện bóng râm trên ảnh và sự kiểm tra tương đối bằng đường đồng mức và mặt cắt địa chất T65. Độ sâu của ranh giới thềm - sườn phân bố từ -200 m ở khu vực phía bắc từ 13o đến 12o vĩ tuyến Bắc, từ -200 đến -500 m ở 12o đến 10o30’ vĩ tuyến Bắc và từ -500 đến -200 m ở 10o30’ vĩ độ Bắc tới nam vùng nghiên cứu được ghi nhận theo tài liệu đo sâu của Cmap 93. Theo cách phân chia này, thềm lục địa trong khu vực hẹp nhất ở 13o vĩ độ Bắc, mở rộng về phía biển tới 110,2o kinh độ Đông ở 10o30’ vĩ độ Bắc. Từ 10o30’ vĩ độ Bắc tới phía nam, ranh giới thềm - sườn có xu hướng dịch về phía đất liền tới toạ độ 109o kinh độ Đông ở 8o vĩ độ Bắc. Về tổng thể, thềm lục địa Nam Trung Bộ có xu hướng mở rộng từ phía bắc xuống phía nam.
Vùng sườn lục địa và quần đảo được nhận biết trên ảnh viễn thám bằng sự phân dị địa hình đáy biển và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Về ranh giới của nó với vùng chân lục địa không phân định được trên ảnh mà phân định một cách tương đối dựa vào độ dốc địa hình, mà cơ sở là tài liệu đo sâu của Cmap 93 và đường đồng mức. Kết quả cho thấy vùng sườn lục địa và quần đảo có ranh giới trong là thềm lục địa và ranh giới ngoài nằm ở độ sâu khoảng -2000 m. Ranh giới ngoài được lấy ở độ sâu -2000 m do đây là nơi đường đồng mức thay đổi từ mau sang thưa, hay độ dốc địa hình từ dốc sang thoải rất phổ biến ở khu vực phía bắc và phía nam. Sự hạn chế khi xác định ranh giới theo tiêu chí này là độ dốc địa hình khu vực từ 10o đến 11o vĩ độ Bắc không tuân theo quy luật từ dốc sang thoải, nhưng ở đây có tính phân bậc địa hình rất rõ ràng. Kết quả phân định cho thấy vùng sườn lục địa và quần đảo có xu thế mở rộng từ bắc tới nam vùng nghiên cứu với đặc điểm địa hình phân dị thể hiện ở dạng đồi ngầm và các đảo phát triển trên địa hình nghiêng. Khu vực phía bắc của sườn hẹp và có đặc điểm độ dốc rất lớn và mang tính liên tục; khu vực từ 10o đến 11o vĩ độ Bắc thể hiện độ dốc địa hình thay đổi không liên tục: dốc đột ngột ở ranh giới phía lục địa, nhưng lại rất thoải về phía biển trước khi dốc đột ngột ở ranh giới giữa nó với chân lục địa. Khu vực phía nam của vùng có độ dốc tương đối ổn định, đặc điểm địa hình phân dị thể hiện ở những hình dạng kiểu đồi, núi ngầm và các đường phân cắt. Tây nam vùng là khu vực quần đảo Trường Sa, địa hình có tính chất phân dị rất mạnh thể hiện ở những đồi và núi ngầm bên cạnh những rãnh nước sâu, cục bộ sâu tới -4000 m. Nơi nhô cao nhất là khu vực đảo Trường Sa với xu thế địa hình thoải về hai phía tây bắc và đông nam.
Vùng chân lục địa được xác định bằng ảnh viễn thám và tài liệu đo sâu. Việc xác định ranh giới chân và sườn lục địa như đã trình bầy ở trên. Ranh giới giữa chân lục địa và biển sâu được xác định bằng ảnh viễn thám dựa trên sự khác biệt của địa hình và dấu hiệu bóng râm do hiện tượng bóng đổ. Tài liệu đo sâu cho thấy địa hình của chân lục địa nằm ở độ sâu từ -2000 đến -3500 m với đặc điểm địa hình phân dị mạnh, thể hiện ở dạng núi ngầm với độ chênh cao phần lớn trên 500 m và sự phân cắt địa hình.
Vùng biển sâu được xác định hầu hết bằng ảnh viễn thám và độ sâu cung cấp bởi Google. Vùng này phân bố ở độ sâu trên -3000 m, phổ biến trên -3500 m. Trên ảnh, đáy vùng biển sâu thể hiện dạng bề mặt địa hình khá bằng phẳng và ít bị phân cắt.
Về cấu trúc, trên ảnh image@2005 EarthSat (Hình 3) tương ứng với tầm nhìn từ độ cao 710,9 km xuống Biển Đông, dựa vào các yếu tố dạng đường và kiểm nghiệm bằng mặt cắt địa vật lý VOR-93-105 (Hình 4) có thể vạch được vị trí đứt gãy dọc kinh tuyến 110o dài 110, 5 km (Hình 3).
Hình 3. Ảnh image@2006 Europa Technologies
Hình 4. Mặt cắt địa vật lý VOR-93-105
III. NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO Ở MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH
Mục tiêu nghiên cứu địa mạo ở mức độ này nhằm chính xác hoá hình dạng các yếu tố địa hình đáy biển như các trũng, các bãi và các đảo phân bố ở độ sâu từ 0 đến -30 m nước. Để phục vụ mục tiêu này, chúng tôi sử dụng ảnh image@2005.EarthSat chụp vào tháng 11/2005 (Hình 5) (khi đó là mùa khô), tài liệu đo sâu Cmap 93, tài liệu đo sâu của Google, bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 200.000 và bản đồ địa hình tỉ lệ 1: 500.000.
Trước đây, việc thành lập đường đồng mức địa hình tỷ lệ 1: 200.000 ở độ sâu 0 đến -30 m nước được dựa trên cơ sở các tuyến đo sâu hồi âm cách nhau 5 km, gần bờ là 2,5 km và phương pháp nội suy tuyến tính giữa các điểm đo sâu 5x5 km. Với phương pháp đó, hình dạng địa hình giữa các điểm nội suy có khi chưa phản ánh đúng hình dạng địa hình thật của đáy biển.
Việc phân tích hình thái địa hình đáy biển được dựa trên ảnh vệ tinh kết hợp với các điểm đo sâu của chính các bản đồ đó và bổ sung tài liệu đo sâu của Cmap 93 cùng với tài liệu đo sâu cung cấp bởi Google. Kết quả phân tích cho thấy các hình thái địa hình đáy biển ven bờ 0 đến -30 m nước ở khu vực từ Vũng Tàu đến Mũi Né (Hình 6) về cơ bản là trùng khớp với tài liệu bản đồ độ sâu thành lập năm 1991 và 2001 của Trung tâm Địa chất Khoáng sản biển, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam [4]. Điều này khẳng định có thể dùng ảnh vệ tinh để nghiên cứu địa hình, địa mạo đáy biển vùng nước nông.
Hình 5. Kết quả phân tích địa hình trên ảnh image@2005.EarthSat
Tuy nhiên, giữa các tài liệu trên cũng có sự khác biệt vì lý do kỹ thuật nội suy đã nêu. Sự khác biệt đó được nhận biết qua việc tiến hành chập các bản đồ ở những tỷ lệ khác nhau lên trên nền ảnh viễn thám. Tất cả các điểm chập tọa độ trên bản đồ cũng như trên ảnh đều được chuyển đồng nhất về một hệ tọa độ.
Việc chập bản đồ và biên tập được thực hiện nhờ phần mềm Mapinfor. Kết quả chồng bản đồ (Hình 6) đã cho thấy mặc dù đúng về vị trí nhưng có sự sai khác khá nhiều về hình thái bề mặt địa hình đáy biển như khu vực Hòn Lao, vịnh Phan Thiết, mũi Kê Gà, bãi cạn Britô, vịnh Ba Kiềm cổ, bãi cạn Ba Kiềm, vịnh Vũng Tàu cổ và bãi cạn Vũng Tàu.
Trên cơ sở các tài liệu đã nêu, kết hợp với phương pháp phân tích xu thế địa hình và kiểm tra bằng độ sâu do Google cung cấp, các tác giả đã hiệu chỉnh lại bản đồ địa hình 1:200.000 và 1: 500.000 đã vẽ trước đây tại khu vực từ Hòn Lao tới Vũng Tàu. Kết quả được thể hiện trên Hình 6. Trên hình này ta nhận thấy địa hình khu vực Hòn Lao, hai bên vịnh Phan Thiết, mũi Kê Gà và bãi cạn Hàm Tân có dạng các lưỡi cát nhô ra biển tới độ sâu -20 m thậm chí -25 m có xu hướng vát nhọn và uốn cong về hướng đông bắc. Tây nam vịnh Ba Kiềm cổ là nơi địa hình lượn sóng có trục phát triển song song với đường bờ. Những vị trí nêu trên là nơi địa hình không thể hiện rõ trên bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:200.000 và 1: 500.000 đã đo vẽ trước đây [4].
Hình 6. Hình thái địa hình đáy biển từ Hòn Lao tới Vũng Tàu
được xác lập từ kết quả chập và hiệu chỉnh bản đồ địa hình
Như vậy, phân tích ảnh vệ tinh đáy biển giúp ích cho công tác đo vẽ và hiệu chỉnh bản đồ đẳng sâu đáy biển trong thời gian tới.
IV. NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO Ở MỨC ĐỘ CHI TIẾT
Để nghiên cứu địa mạo thềm lục địa Nam Trung Bộ chi tiết hơn, trong phương pháp này sử dụng ảnh viễn thám có độ phân giải cao từ 2 đến 5 m do Google cung cấp bao gồm image@2006.DigitalGloble image @2006.NASA (từ Hình 7 đến Hình 11). Các ảnh được chụp vào mùa khô ở vị trí tương ứng với độ cao từ 5 đến 12 km xuống mặt nước biển. Kết quả phân tích cho thấy rõ các sóng cát (Hình 7) các dấu hiệu trượt với quy mô chiều ngang khối trượt lên tới trên 2 km xuất hiện phía bắc cảng Cam Ranh (Hình 8); những vết nứt phương tây bắc - đông nam thể hiện trên địa hình tại cửa sông Cái (Hình 9) nơi đới trượt Tuy Hòa đi qua và các sóng cát trong vịnh Nha Trang (Hình 10).
Đặc biệt, bề mặt địa hình khu vực mỏ Rubi cũng được thể hiện các sóng cát ngầm phân bố dọc theo phương có trục đông bắc - tây nam. Điều đáng chú ý là vị trí mỏ này có độ sâu tới -40 m. Ở độ sâu này, các công trình trước đây nghiên cứu hình thái địa hình ở những độ sâu như vậy chỉ được thu thập tài liệu bằng quay camera hoặc đo sâu quét sườn rất tốn kém và thậm chí rất nguy hiểm.
Hình 7. Địa hình gợn sóng và vết nứt
ở đáy biển Bắc Cam Ranh

Hình 8. Nứt trượt trầm tích đáy biển Bắc Cam Ranh

Hình 9. Vết nứt tại cửa sông Cái, Nha Trang
Hình 10. Vết nứt và địa hình gợn sóng trong vịnh Nha Trang

Hình 11. Địa hình gợn sóng khu mỏ Rubi
V. KẾT LUẬN
Áp dụng phương pháp phân tích ảnh viễn thám có độ phân giải khác nhau kết hợp với bản đồ đẳng sâu và sự phân bố trầm tích cho phép nghiên cứu địa mạo đáy biển ở khu vực Tây Nam Biển Đông từ mức độ khu vực đến chi tiết.
- Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải thấp kết hợp với tài liệu đo sâu trong nghiên cứu địa mạo đáy biển cho phép phân chia địa hình đáy biển thành 4 vùng địa mạo như thềm, sườn, chân lục địa và đáy biển sâu.
- Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải trung bình (100 đến 200m) trong nghiên cứu địa mạo đáy biển có thể xác định sự phân bố các kiểu địa hình và kết quả này góp phần hiệu chỉnh các bản đồ địa hình tỉ lệ 1: 200.000 và 1: 500.000.
- Sử dụng ảnh viễn thám có độ phân giải từ 2 đến 5 m trong nghiên cứu địa mạo ở mức độ chi tiết cho phép chỉ rõ hình thái thành phần địa hình và dự báo các tiềm ẩn tai biến địa chất liên quan.
Kết quả nghiên cứu cho phép khẳng định phương pháp viễn thám hoàn toàn có thể sử dụng có hiệu quả trong nghiên cứu địa mạo biển Việt Nam
VĂN LIỆU
1. Mai Thanh Tân, Phạm Văn Tỵ, 2002. Đặc điểm địa chất công trình thềm lục địa Việt Nam. TC Khoa học và Công nghệ biển, 2: 1-12, Hà Nội.
2. Mai Thanh Tân và nnk, 2003. Biển Đông. Phần III. Địa chất - Địa vật lý biển. Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
3. Mai Thanh Tân và nnk, 2004. Nghiên cứu đặc điểm địa chất - địa chất công trình vùng đông nam thềm lục địa Việt Nam phục vụ chiến lược phát triển kinh tế và xây dựng công trình biển. Đề tài Mã số KC 09.09, Bộ Khoa học & Công nghệ và Trường đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội.
4. Nguyễn Biểu (Chủ biên), 2001. Kết quả điều tra địa chất và khoáng sản biển nông ven bờ 0-30 m nước Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 (1991-2001). Lưu trữ Địa chất, Cục ĐC&KSVN, Hà Nội.
5. Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, Trịnh Thế Hiếu, 2003. Các thành tạo Đệ tứ vùng thềm lục địa đông nam Việt Nam và ý nghĩa nghiên cứu địa chất công trình. TTBC HNKH Công trình và Địa chất biển, Đà Lạt, tr. 16-30.
6. Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, 2005. Địa tầng trầm tích Pliocen - Đệ tứ và bản đồ địa chất tầng nông đông nam thềm lục địa Việt Nam. TTBC HNKH 60 năm Địa chất Việt Nam, tr. 7-16, Cục ĐC&KSVN, Hà Nội.
7. Nguyễn Thế Tiệp, Lê Đức An và nnk, 2000. Bản đồ địa mạo vùng biển Việt Nam và kề cận. Trong Biển Đông I. Khái quát về biển Đông. Tr.33-62. Nxb Đại học QG Hà Nội, Hà Nội
8. Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Huy Phúc, Nguyễn Trung Thành, 2005. Trầm tích bề mặt đáy biển Nam Trung Bộ và sự tiến hóa của chúng. Địa chất và địa vật lý biển, VIII: 166-178, Hà Nội.
9. Nguyễn Văn Tạc, Trịnh Phùng, 1992. Một vài kết quả nghiên cứu địa mạo phần phía Nam thềm lục địa Việt Nam. Tuyển tập Nghiên cứu biển, IV: 100-114. Nha Trang.
10. Schimanski A., 2002. Holocene Sedimentation on the Vietnamese Shelf: From Source To Sink. Tóm tắt luận án Tiến sĩ. Christian Universitat zu Kiel (Germany)
11. Trần Nghi và nnk, 2003. Sự thay đổi mực nước biển trên cơ sở nghiên cứu trầm tích vùng ven biển và biển nông ven bờ từ Nha Trang đến Bạc Liêu. TTBC HNKH Công trình và Địa chất biển, Đà Lạt, tr.181-189.
12. Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Đinh Xuân Thành, Nguyễn Thanh Lân, Trần Thị Thanh Nhàn, 2005. Đặc điểm tướng đá, cổ địa lý và lịch sử phát triển địa chất Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Đông Nam Việt Nam. TTBCHNKH 60 năm Địa chất Việt Nam, tr.140-154. Cục ĐC&KSVN, Hà Nội.
NGUYỄN BIỂU1, NGUYỄN QUỐC HƯNG2, NGÔ THỊ KIM CHI2,
VŨ ANH THƯ2, PHÙNG NGỌC MẠNH2, BÙI THU HIỀN2, LÊ ĐÌNH NAM3
1 Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội;
 2 Trường Đại học Mỏ - Địa chất,Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội;
3 Viện Địa chất - Địa vật lý Biển,Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

tích hợp phòng hộ bờ biển, quản lý nguồn nước và quy hoạch không gian

______________________________________________________________________

Xem bản gốc tiếng Anh: From West to East: integrating coastal defense, water management, and spatial planning [i]
Maurits de Hoog[ii]
Phan Trần Kiều Trang dịch
Tại một đất nước có mật độ đô thị dày đặc như Hà Lan, ứng phó lũ lụt và quản lý nguồn nước là vấn đề được quan tâm trong giải pháp quy hoạch không gian mới, bao gồm việc kết hợp giữa quy hoạch đô thị, phát triển kinh tế, thiết kế cảnh quan và thích ứng môi trường. Bài viết sẽ tập trung phân tích những nỗ lực trong công tác quy hoạch không gian “ từ Đông sang Tây” tại khu vực trung tâm Hà Lan, từ những vùng đất yếu dọc bờ biển, những nơi có mực nước sông dâng cao ở phía Đông đến những hạn chế phát triển đô thị ở khu vực chính giữa.
Hình 1: "Thành phố Ven biển" - Thiết kế thử nghiệm trong đồ án Randstad 2040 của Bộ Nhà ở, Quy hoạch và Môi trường (VROM).
CỦNG CỐ BỜ BIỂN HÀ LAN
Tháng 9/2009, bộ phim Cơn bão đã được trình chiếu (Hình 6.2). Đây là bộ phim đầu tiên nói về trận lụt lịch sử ở vùng Biển Bắc vào năm 1953. Chỉ trong 4 tuần khởi chiếu, bộ phim đã đạt một doanh số kỷ lục tại Hà Lan và thu hút hơn nửa triệu lượt người xem. Dù nội dung đã được hiệu chỉnh để tăng thêm kịch tính, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng bộ phim đã tái hiện lại chân thực bối cảnh mà thảm họa đã diễn ra.
Ngày nay, tiến trình cải thiện những vùng đất yếu (weak spots) trên các đụn cát trải dài để bảo vệ bờ biển bắt đầu được thực hiện. Ý tưởng phòng hộ bờ biển được nâng lên một tầm cao mới trong những tranh luận mang tính quốc tế về vấn đề biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Những hoạch định cơ bản được chuẩn bị trên cơ sở cân nhắc khả năng mực nước biển dâng cao trong tương lai dài hạn. Tuy nhiên, mức độ quan trọng của những đầu tư khổng lồ cho ý tưởng mới trong tương lai chỉ được sánh như một chiến lược thiết yếu để phát triển khu vực vui chơi giải trí của vùng Randstad và Tây Bắc Châu Âu nói chung.




Hình 2a & 2b: “Cỗ máy cát” vào những ngày đầu và sau đó một vài năm.NHỮNG VÙNG ĐẤT YẾU
Hầu hết vùng đất yếu thuộc bờ biển trải dài nằm giữa vùng tam giác Delta, các con sông lớn phía Tây Nam, vùng biển Wadden và một chuỗi hòn đảo ở phía Bắc. Những đụn cát nối dài liên tục tại vùng bờ biển trung tâm đã bảo vệ phần lõi của các tỉnh thành Hà Lan, nơi hội tụ  nhiều thành phố quan trọng, sân bay Amsterdam Schiphol, các khu công nghiệp trọng điểm, và các vùng đất nông nghiệp mở rộng. Những đụn cát này hoàn toàn tự nhiên và có tính di động. Đường bờ biển đã làm thay đổi khu vực đất liền qua nhiều thế kỉ bất chấp những nỗ lực nhằm cố định các đụn cát bằng cách trồng cỏ và bảo vệ chúng bằng đất đỏ bazan. Kết quả là chính điều này đã tạo nên những vùng đất yếu. Chúng tụ hợp dọc Delflandse Kust – dải bờ biển giữa vùng Hook của Hà Lan và vùng Hague – và bao quanh resort bãi biển của Schevening, Katwijk và Noordwijk. Từ những năm 1980, nguồn nguyên liệu cát được ứng dụng để chống xói lở bờ biển. Tuy nhiên, chỉ trong năm 2009, phải cần đến 11 triệu khối cát mới có thể tái thiết lại vùng biển bị xói lở ở Hà Lan. Yêu cầu thực tế đòi hỏi phải có một giải pháp phù hợp hơn và có tính khả thi cao hơn.
Để củng cố vùng phía nam Delflandse Kust, một đụn cát khổng lồ cao 40 m với tên gọi “cỗ máy cát” án ngữ ở vùng bờ biển. Trong suốt 20 năm, sóng gió và tác động môi trường đã đã phân tán những đụn cát tự nhiên, mở rộng bãi biển và hình thành nhiều đụn cát mới thấp hơn. Cỗ máy cát không những có khả năng đề phòng lũ lụt mà còn tạo ra nhiều không gian cho thiên nhiên và các hoạt động vui chơi giải trí. Tương tự như Du Pilat tại vùng biển Atlantic gần Bordeaux, Pháp, đụn cát khổng  lồ ở Hà Lan trở thành một yếu tố cảnh quan cực kỳ hấp dẫn.
Hình 3: “Hướng về phía biển”, dự án hình thành một chuỗi các hòn đảo làm rào chắn, do Ruimtelijk Planbureau thiết kế, thuộc Viện nghiên cứu quốc gia về Phát triển không gian, năm 2003.

BỜ BIỂN VÀO NĂM 2100
Gia cố những vùng đất yếu chỉ là bước đầu tiên trong chương trình tái thiết bờ biển. Trước tình hình thực tế, nhiều nhà thiết kế đã chủ trương ý tưởng kiến tạo bờ biển phải đặt vào bối cảnh biến đổi khí hậu tương lai.
Trong báo cáo năm 2008, Hội đồng Vùng Delta dự định tiếp tục sử dụng nguồn cát trong vòng hơn 100 năm tới để xây thêm một dải đất rộng 1000 đến 1200 m dọc bờ biển, tạo ra một vùng đệm để ứng phó những cơn bão lớn, đồng thời, hiện tượng cát bay sẽ trở thành cảnh quan vô cùng hấp dẫn và đặc trưng cho vùng.
NHỮNG THÁCH THỨC LỚN HƠN
Thực tế cho thấy giải pháp này có thể đe dọa đến chất lượng các khu nghỉ dưỡng tại Katwijk, bởi tầm nhìn hướng ra biển sẽ bị che khuất khi có sự hiện hữu của các đụn cát. Mặc dù những khu nghỉ mát bờ biển hoàn toàn khác biệt về cấu trúc không gian, nhưng tác động lớn là không thể tránh khỏi. Đây cũng là vấn đề được nêu ra trong báo cáo của Hội đồng Delta.
Tuy nhiên, ngoài những đề xuất của Hội đồng vùng Delta, vẫn còn nhiều kỹ thuật khác để phòng hộ bờ biển. Các giải pháp này thay đổi từ “mềm dẻo” đến “cứng rắn”, và có thể được tiến hành trực tiếp trên bờ biển. Giải pháp “mềm” sử dụng bùn lắng như một vật liệu xây dựng cơ bản. Giải pháp “cứng” lại dùng xi măng, đá kết hợp với cát và một số vật liệu khác. Phòng hộ bờ biển, phát triển các khu nghỉ dưỡng và kéo dài đường bờ biển là những chiến lược đầy hứa hẹn. Vì vậy, việc tìm ra một giải pháp kết hợp các yếu tố trên sao cho phù hợp với toàn bộ vùng biển Randstad trở nên cần thiết.
Khi soạn thảo kế hoạch “Chiến lược cho Randstad vào năm 2040”, Bộ quy hoạch Nhà ở, Không gian và Môi trường đã đưa ra một loạt bối cảnh tổ chức không gian, trong đó có chiến lược đưa Randstad trở thành một đại đô thị bờ biển. Kế hoạch đề xuất xây dựng các hòn đảo cách bờ biển khoảng vài cây số và tạo ra các hồ nước lớn giữa đảo và bờ biển. Vùng mở rộng này sẽ phòng hộ bờ biển, tạo không gian mở, không gian giải trí và đất dự trữ phát triển. Các khu resort khác nhau được áp dụng từng giải pháp xử lý khác nhau: Một vài khu vẫn có hướng nhìn ra biển và những khu khác được mở rộng về phía mặt hồ.
Hình 4: Mặt cắt các khu đô thị dọc bờ biển. Dijkzeul và Kwakman thuộc Đại học TU Delft thực hiện năm 2009.
XEM XÉT NHỮNG THAY ĐỔI
Lựa chọn những giải pháp kỹ thuật khác nhau cho từng vùng bờ biển không phải là việc dễ dàng bởi tính chất của chúng có sự khác biệt rất lớn. Hình 6.7 minh họa cách chúng đạt được những tiêu chuẩn linh động, an toàn sinh thái, đa chức năng, tính tiếp cận, và khả năng phát triển khu vực hướng ra phía biển. Sự linh động rất quan trọng trong điều kiện biến đổi khí hậu. Vấn đề về sinh thái cũng được quan tam, không chỉ bảo vệ môi trường tự nhiên mà còn phải đảm bảo môi trường sinh thái và hỗ trợ các loài chim di trú. Đa chức năng và dễ tiếp cận là điều kiện thiết yếu để kết nối bờ biển đến vùng Randstad.
Các giải pháp mềm đã đáp ứng tốt sự linh động và sinh thái, giải pháp cứng lại phát huy ưu thế ở tính đa chức năng và khả năng tiếp cận. Việc sử dụng nguồn nguyên liệu cát thực hiện đươc tất cả các tiêu chí trên, trừ việc phát triển cảnh quan bờ biển.

Hình 5: Hình ảnh các hòn đảo làm rào chắn. Đồ án tốt nghiệp của Dorrith Dijkzeul, ĐH TU Delft, 2009.
RÀO CHẮN BÃI BIỂN
Kỹ thuật được cho phù hợp nhất với yêu cầu phát triển bền vững là tạo ra một cấu trúc mềm với tên gọi Rào chắn bãi biển. Hệ thống phòng hộ này được xây dựng từ cát, vì vậy, nó trở nên cực kỳ linh động. Nó có thể thay đổi nhiều hình dạng, kích thước với các mức độ an toàn khác nhau. Và điều quan trọng nhất, tuy là rào chắn, nhưng phương pháp này không biến khu vực bờ biển  thành một căn cứ quân sự. Nó vẫn giữ nguyên các khu hiện hữu và tạo ra thêm vùng bờ biển mới. Rào chắn bãi biển chỉ được thực hiện ở những nơi cần thiết như khu vực resort ở vùng đất yếu.
Dorrith Dijkzeul đã tiến hành thực nghiệm về kỹ thuật này ở Katwijk trong đồ án tốt nghiệp của cô tại Đại học TU Delft. Cô tạo ra một rào chắn bằng cát cách bờ biển 800 m để chắn sóng. Nó làm giảm chiều cao và chu kỳ sóng để bảo vệ đường bờ biển hiện hữu khỏi nguy cơ bị xói lở cấu trúc một cách đột ngột. Nó cũng bảo vệ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các công trình gần bờ trước các đợt tấn công của sóng và ngăn sóng tràn qua các thiết bị phòng hộ khác.
Rào chắn này có thể bị nhấn chìm tùy thuộc vào yêu cầu thực tế của địa phương. Chúng tạo thêm không gian cho những đụn cát, khu vui chơi giải trí bờ biển và các không gian khác. Rào chắn mới cũng mang đến cơ hội để thay đổi Đại lộ Katwijk aan Zee hiện hữu. Đường bờ biển ở Katwijk sẽ không còn phải hứng chịu những cơn bão lớn, vì thế, các đại lộ có thể được hạ thấp hơn, khu vực đi bộ và các tiện ích bãi biển cũng được di dời gần hơn ra phía biển.
Hình 6: Mô hình phát triển bởi Green/Blue workshop, những khu vực hồ mới.
Hình 7: Bản đồ nền, phía Đông Nam Amsterdam. Đỏ: cao độ trên 3m so với mực nước biển trung bình ở Amsterdam (Normaal Amsterdams Peil - NAP); Vàng: cao độ trên 1m so với NAP; Xanh: cao độ dưới 1m so với NAP. Vùng màu xanh phía trên là Watergraafsmeerpolder

MỞ RỘNG CÁC HỒ CHỨA NƯỚC Ở VÙNG ĐẤT THẤP
Giữa mùa hè năm 2003, khí hậu đã tác động đến những con đê phụ trợ. Tại đây, vấn đề không phải là có quá nhiều nước như những vùng khác mà là quá ít nước. Ngoài 3200 km đê chính ở Hà Lan, có khoảng 14000 km đê phụ. Những con đê bao quanh các vùng đất trũng và kênh đào sẽ đưa nước từ vùng đất thấp đến sông lớn và đổ ra biển. Từ những năm 90, nhiều con đê trong tình trạng cần sửa chữa, nhưng đê điều tại Wilnis không được ưu tiên trong danh sách bảo trì.
Những con đê phụ – cùng toàn bộ hệ thống nước ở trung tâm Hà Lan và trung tâm Gouda – không nằm trong báo cáo của Hội đồng Delta, mặc dù những ảnh hưởng về mặt cảnh quan đô thị của chúng là cực lớn và việc tìm kiếm nguồn kinh phí cũng như giải pháp thực hiện không phải là việc dễ dàng.
VÙNG ĐẤT CAO
Vùng đất cao được hình thành từ than bùn tích tụ lâu đời ở các tỉnh thành Hà Lan. Tuy nhiên, cái tên này không còn phù hợp bởi đất ở đây đang bị sụt lún trong quá trình oxy hóa than bùn và quá trình định cư. Hậu quả càng trở nên trầm trọng khi mực nước ngầm ngày càng giảm sút rõ rệt. Phần lớn các tỉnh ở Hà Lan được dự đoán sẽ sụt lún từ 40 đến 60 cm trong vòng 50 năm tới.
Tiến trình này xảy ra trong vòng khoảng 1 thiên niên kỷ, và dự đoán trong tương lai, những vùng đất bùn sẽ chuyển thành đầm lầy đầy lau sậy và ngập nước thay vì trở thành đồng cỏ hay đất trồng.
Khả năng chịu đựng của đất suy giảm và sự thay đổi liên tục giữa đất khô và đất ướt đã gây ra nhiều hậu quả cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Gouda, thành phố được xây dựng trên nền đất bùn dày 18 m được xem là một hình ảnh kiên cường trước hiện tượng sụt lún. Thành phố đã đầu tư một số tiền 80 triệu euro vào năm 2000 để tìm ra những vấn đề nghiêm trọng nhất và của hệ thống đường ống và các giải pháp để xử lý chúng. Một cách làm rất thú vị để bảo vệ việc sụt lún đường sá là để chúng “trôi” trên nền xốp Polystyrene.
Bộ giải pháp cho việc tích trữ và giữ nước mưa tại Watergraafsmeer polder, Amsterdam. Nguồn: Sở quy hoạch Amsterdam.
NHỮNG VÙNG ĐẤT TRŨNG
Những khu vực vùng hồ trũng cách từ 3 – 5 m dưới mực nước biển bị tác động bởi biến đổi khí hậu theo nhiều cách khác nhau. Việc rò rỉ (đặc biệt là sự xâm nhập của nước biển là một vấn đề đáng lo ngại, do đó, tháo nước để giữ cho chúng khô ráo là một yêu cầu bức thiết bởi đây không chỉ là nguyên nhân làm sụt lún đất mà còn làm giảm cả mực nước ngầm có trong tầng đất sâu.
Vấn đề này thậm chí còn nghiêm trọng hơn ở những vùng hồ dọc theo bờ biển, nơi có thể bị ảnh hưởng bởi sự xâm thực nước biển. Phương pháp hữu hiệu nhất là cho nước ngọt thấm vào các đụn cả để mở rộng vùng đệm nước ngọt và đẩy nước mặn ngược về phía biển.
Nước mặn xâm nhập sâu hơn vào đất bởi sự gia tăng của mực nước biển và sự lên xuống của thủy triều. Kết quả là độ mặn của vùng cửa sông tăng lên. Điều này đồng nghĩa rằng nước ở vùng cửa sông không thể được sử dụng trong suốt mùa khô ở vùng Tây Nam Hà Lan và nước sạch phải mang từ phía bắc xuống khu vực này.
Hình 8a & 8b: “Mạng lưới mặt nước” quanh công viên mới Frankendaal, Amsterdam. Hình ảnh do Viện Quy hoạch thành phố Amsterdam cung cấp.
ĐÔ THỊ Ở VÙNG ĐẤT TRŨNG
Những khu vực thuộc vùng đất trũng lại có các vấn đề riêng biệt. Lượng mưa trong mùa đông tăng lên đáng kể, khí hậu ngày càng khắc nghiệt hơn với nguy cơ lũ lụt cao hơn. Các nhà khí tượng đã dự đoán rằng đến năm 2050, nhiệt độ ở Hà Lan sẽ tăng lên từ 1 đến 3oC. Mùa hè sẽ khô hạn hơn với một lượng mưa thấp và khả năng bốc hơi cao hơn. Các dòng chảy sẽ suy giảm và nhiều loại tảo độc hại có khả năng sinh sôi trên mặt nước.
Thành phố Amsterdam đã phối hợp với trường đại học TU Delft để tìm ra cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề này, bao gồm cả việc thu lượng nước mưa trên mái, trong vườn, trên các tháp nước, dưới mặt đường, và trên các sân vận động, hạn chế việc lát gạch trongsân vườn, mở rộng kênh mương và các hồ trong công viên. Công viên Frankendaal tọa lạc tại vùng đất trũng Watergraafsmeer ở phía Đông Amsterdam là một thiết kế khéo léo, sử dụng mạng lưới nước mở rộng để tạo đường ranh giới và cảnh quan cho công viên (14a-b).
Một số vấn đề quan trọng cần được thực thi để giải quyết nguy cơ lụt lội. Bên cạnh việc bảo tồn các vùng đất trũng, nên bố trí những con đường khẩn cấp dọc theo các tuyến đường bộ hay xe lửa dẫn ra khỏi các cộng đồng dân cư. Bởi với những nguy cơ này, thật sai lầm khi tiếp tục xây dựng thêm nhiều công trình nhà ở tại một nơi ngày càng bị sụt thấp hơn dưới mực nước biển. Hội đồng Delta đã khuyến cáo hạn chế việc hình thành những đô thị quy mô lớn ở vùng đất trũng sâu.
Giải pháp và vị trí thực hiện chương trình "Thêm không gian cho nước" (Room for the River).
DÀNH NHIỀU KHÔNG GIAN HƠN CHO SÔNG NGÒI
Trong nhiều thế kỉ qua, các con sông vùng Delta ứng phó với những nguy cơ tiềm ẩn bằng việc gia tăng hệ thống đê điều. Nền đất ngày càng yếu đi và lượng nước xả ra sông tăng lên đòi hỏi các con đê phải được nâng cao. Rất nhiều trong số chúng đã cao hơn 5 đến 6 m so với các quốc gia lân cận. Năm 1981, một tranh luận gay gắt đã diễn ra tại các vùng thuộc lưu vực sông bởi nhiều công trình và thảm thực vật đặc trưng địa phương đã hoàn toàn biến mất, chất lượng cảnh quan vì thế giảm đi một cách đáng kể.
Vào những năm 90, khi lượng nước xả ra các con sông cao đến mức kỷ lục, đặc biệt là năm 1993 và 1995, khiến 250000 người ở ven sông phải sơ tán thì hệ thống đê điều không còn là giải pháp tối ưu nhất. Ngày nay, ý tưởng mở rộng không gian cho sông ngòi được quan tâm  nhiều hơn thay vì tiếp tục đầu tư vào các con đê. Đây là một ý tưởng quan trọng được chính phủ quốc gia thực hiện vào năm 2004, gồm 40 dự án nâng cấp các con sông và dự kiến hoàn thành chúng trước năm 2015.
CHƯƠNG TRÌNH “THÊM KHÔNG GIAN CHO CÁC DÒNG SÔNG”
Chương trình “thêm không gian cho các dòng sông”  hạn chế tối đa việc xả nước ra sông. Giải pháp được sử dụng nhiều nhất là đào thêm kênh và dành thêm đất công viên cho vùng đồng bằng ngập nước.
Ý tưởng này được giới thiệu vào năm 1986 trong dự án thắng giải cuộc thi thiết kế Eo Wijers. Dự án Ooievaar tập trung vào các khu vực tự nhiên và đất công viên trong vùng ngập nước để tạo thêm không gian vui chơi giải trí. Bên cạnh đó, dự án đề xuất gữ lại khu vực sau đê và tiếp tục khai thác các khu nông trại hiện hữu.
Những vùng thích hợp được dự kiến để áp dụng chương trình này là Kampen, Zwwolle, Devener, Zutphen, Arnhem, Nijmegen, và Gorinchem. Chương trình cũng kết hợp giải quyết các vấn đề đô thị như nhà ở, hoạt động vui chơi giải trí, phát triển không gian mặt nước, và cải thiện những vùng đất bùn.
Hình 10: Các cách thức can thiệp khác nhau tại từng khu vực sông cụ thể. Từ trên xuống: (1) Di dời các con đê; (2) mở những tuyến đường đâm xuyên chạy phía sau các con sông; (3) Loại bỏ các chướng ngại vật (groin) do con người xây dựng làm cản trở dòng chảy và hạn chế sự di chuyển của phù xa ; (4) hạ thấp lòng sông; (5) loại bỏ các chướng ngại vật trên vùng đất ngập nước; (6) hạ thấp vùng đất ngập nước.
ĐÀO KÊNH MƯƠNG CHO VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC
Thêm kênh mương cho vùng đất ngập nước là ý tưởng được khuyến khích trong dự án “Thêm không gian cho các dòng sông”, làm tăng khả năng trữ nước và tạo ra cảnh quan hoàn toàn khác biệt.
Hình dạng các con kênh thay đổi tùy vào từng vị trí. Tại vị trí sông Ijseel thì chúng uốn mình như những cuộn len dài và hẹp nằm ở hạ nguồn và tạo nên cảnh quan đặc trưng cho vùng Ijssel. Ở vùng thượng nguồn, chúng có thể chảy tràn qua những con đê thấp.
KHU VỰC PHÁT TRIỂN THỐNG NHẤT
Khi chương trình thêm không gian cho các dòng sông được khởi động vào năm 2004, nó được đặt vào khá nhiều kỳ vọng. Những con kênh và các tuyến đường băng qua vùng ngập lụt có thể kết hợp phát triển nhà ở và các tiện ích vui chơi giải trí mới. Chiến lược phối hợp này được quan tâm đặc biệt tại khu vực gần sông Ijssel. Năm 2003, một nghiên cứu tập trung vào tính khả thi của những tuyến đường xuyên qua vùng ngập lụt ở Kampen, Deventer và Zutphen được thực hiện. Kampen và Zutphen đã đào thêm kênh cho vùng đất ngập nước và di dời các con đê. Nhưng liệu có thể tăng tốc độ xả nước và vẫn có thể xây dựng hàng ngàn ngôi nhà mới một cách an toàn?


Hình 11a & 11b: Mở rộng đô thị về phía bắc các con sông kết hợp với những con kênh mới ở sông Waal gần Nijmegen, dự án đang được xây dựng.NIJMEGEN

Veur Lent, khu trung tâm cũ ở gần làng của Lent, tọa lạc ở phía bắc sông Waal, sẽ trở thành một hòn đảo và những ngôi nhà trên đê hiện hữu được bảo tồn. Chính quyền địa phương đã đưa ra quyết định di dời đê để xem xét lại toàn bộ định hướng của dự án mở rộng đô thị Uwaalsprong.  Hòn đảo mới vạch ra những cơ hội rất rõ ràng để tăng cường mối quan hệ giữa thành phố và các dòng sông. Waalsprong trở thành một đô thị cảnh quan ven sông thơ mộng nhờ khung cảnh phía bắc con kênh mới.
Dự án đô thị trong chương trình Thêm không gian cho các dòng sông đã cho thấy mục tiêu kết hợp giữa phòng chống lụt lội cho các con sông và giải quyết vấn đề nhà ở. Nếu có ý kiến cho rằng việc sử dụng nguồn thu từ bán nhà đất để đầu tư phòng chống lũ lụt là quá vội vàng, thì việc bỏ qua ý tưởng một cách hoàn toàn cũng không phải là lựa chọn hợp lý.
Một nguồn lợi lớn hơn là thực tế, những dự án Thêm không gian cho các đô thị ven sông đã làm giàu thêm mối quan hệ giữa thành phố và các con sông. Những dự án này đã đề cao việc tăng khả năng kết nối với mặt nước, khu vực giải trí và tiềm năng phát triển du lịch, chất lượng bờ sông, khu vực bảo tồn và tính truyền thống, cũng như tính đặc trưng của những đô thị này với không gian mặt nước.
SÔNG NGÒI VÀO NĂM 2100
Khi các giải pháp cho chương trình Thêm không gian cho các dòng sông đã sẵn sàng để được thực hiện thì mục tiêu lại có chút thay đổi theo định hướng ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2100. Dự án cho rằng chương trình Thêm không gian cho các dòng sông không đủ khả năng để tăng lượng nước xả lên đến 18000 m3/ giây, do đó, cần đưa ra các giải pháp khác chú trọng đến vấn đề nước biển dâng.
Tại Rotterdam, các con đê cần được nâng cấp thành “siêu đê”, cao hơn và rộng hơn 20 đến 100 m những công trình nhà ở, hạ tầng kỹ thuật và công viên. Để tiếp tục xả nước sông Ijssel ra biển và thậm chí chỉ để giảm mực nước sông, Hội đồng Delta đồng ý tăng mực nước của Hồ Ijsselmeer đến gần 1.5 m.
Nếu những giải pháp này được thực hiện, hạt nhân kinh tế Hà Lan ở Randstad có thể được bảo vệ khỏi những tác động của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc tích hợp giữa những con đê khổng lồ vào các thành phố và đô thị hiện hữu sẽ gây ra những xáo động rất lớn, vì điều đó đồng nghĩa với việc xóa bỏ toàn bộ những giá trị lịch sử và văn hóa của đô thị.
May mắn thay, một số sự lựa chọn thông minh khác, điển hình là rào chắn lụt lội linh động Maeslantkering, có thể bảo vệ Rotterdam vĩ đại. Thêm vào đó, việc xả nước tự do ra biển trong 100 năm tới là hoàn toàn có thể nếu độ lên xuống của thủy triều được tăng cường bằng một tiến trình có tên gọi là cộng hưởng sóng. Quy hoạch đô thị Hà Lan – với những giải pháp công nghệ tối ưu – đang chuyển mình sang một giai đoạn mới.

[i] Bài viết là một chương trong cuốn Delta Urbanism – The Netherlands (Đô thị Châu thổ – Hà Lan) do Hội Quy hoạch Hoa kỳ (APA) đặt hàng ba chuyên gia hàng đầu thế giới về quản lý nước và thiết kế đô thị tại Đại học Kỹ thuật Delft là Han Meyer, Inge Bobbink, và Stenffen Nijhuis thực hiện. Cuốn sách nằm trong nỗ lực của APA nhằm thúc đẩy năng lực quản lý và quy hoạch các thành phố châu thổ trước rủi ro ngập lụt và Biến đổi khí hậu sau sự kiện siêu bão Katrina tàn phá New Orleans năm 2005.
[ii] Maurits de Hoog là giáo sư trong bộ môn Thiết kế Vùng và Đô thị thuộc Đại học Kỹ thuật Delft (Hà Lan). Ông nghiên cứu về thiết kế đô thị và khám phá quá trình chuyển hóa môi trường quy mô lớn trong đô thị.
Nguồn: thông tin đô thị