DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng


Thiên tai và biến đổi khí hậu tác động mạnh nhất đến các cộng đồng dân cư nằm trong vùng nguy cơ cao, các hộ dân nghèo và người nông dân. Việc thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai phải được thực hiện từ cộng đồng, dựa vào cộng đồng và làm lợi cho cộng đồng.
http://vngo-cc.vn/sites/default/files/hoi_thao_tham_van_bdkh_3.jpg

2% GDP bị cuốn theo thiên tai
Tại Hội nghị quốc tế về thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng lần thứ 6 vừa diễn ra tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết, tác động của biến đổi khí hậu trong 10 năm trở lại đây ngày càng tăng và ước tính thiệt hại tài sản chiếm khoảng 2% GDP. Trong tương lai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng còn ảnh hưởng nghiêm trọng hơn.
Tổ chức CARE đã đánh giá mức độ dễ tổn thương cho tỉnh Thanh Hóa cho thấy, những năm gần đây, hạn hán bắt đầu sớm hơn và khắc nghiệt hơn; ngập lụt thường xuyên và cực đoan hơn; mùa đông có dấu hiệu ngắn hơn và mùa hè dài ra. Các điều kiện nóng lạnh cực đoan, nhiệt ẩm thay đổi bất thương đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Còn tại hai tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, một vài con số đưa ra cho thấy thiên tai có thể đẩy lùi tốc độ phát triển của tỉnh. Năm 2007, Quảng Bình bị thiệt tại 1.340 tỷ đồng do thiên tai còn Hà Tĩnh mất đi gần 1.000 tỷ đồng do hai cơn bão. Trong khi đó GDP hàng năm của các tỉnh này chỉ đạt khoảng 550 tỷ đồng.
Chưa có số liệu đầy đủ để có thể thấy được thiệt hại do thiên tai gây ra đã tác động như thế nào đến 2 tỉnh, nhưng thực tế cho thấy, có một bộ phận đáng kể, khoảng gần 40% dân số đang nghèo đói thì nghèo đói hơn, số hộ cận nghèo thì rơi xuống diện nghèo đói. Thiên tai đã làm giảm sút tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế vốn dĩ đã rất yếu ướt, tăng thêm tình trạng dễ bị tổn thương, làm giảm khả năng chống chọi với thiên tai của cả cộng đồng.
Xây dựng cộng đồng hiểu về  biến đổi khí hậu
http://www.cbcc.org.vn/du-an-chuong-trinh-lien-quan/hoi-thao-quoc-te-ve-thich-ung-voi-bien-111oi-khi-hau-dua-vao-cong-111ong-cba-lan-thu-6/image
Nhận thấy cộng đồng dân cư là phần quan trọng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, Thứ trưởng Trần Hồng Hà cho biết, Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu đã xác định một mục tiêu quan trọng là xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an ninh xã hội, sức khỏe, nâng cao đời sống bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nâng cao năng lực ứng phó của các bên liên quan.
“Dựa trên mục tiêu đó, Chiến lược tập trung  xây dựng cộng đồng ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Đó là cộng đồng có nhận thức về biến đổi khí hậu, có kiến thức bản địa ứng phó với biến đổi khí hậu, có hành vi thân thiện môi trường và khí hậu, nâng cấp hệ thống chăm sóc sức khỏe, đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt là áp dụng các biện pháp tại chỗ nhằm đảm bảo quyền lợi của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương”, Thứ trưởng Trần Hồng Hà nói. Bên cạnh đó là các giải pháp giám sát biến đổi khí hậu, tăng cường dự  báo, cảnh báo thiên tai…
Xây dựng một cộng đồng thích ứng được với biến đổi khí hậu đã được thực hiện thí điểm tại một số địa phương.
Có thể kể đến mô hình chuyển đổi sinh kế ở Xã Cẩm Thanh (TP.Hội An) và Duy Vinh (Duy Xuyên – Quảng Nam) thực hiện hơn 10 năm nay.  Các tổ cộng đồng quản lý khai thác thủy sản nội địa ở các dần nâng ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường sinh thái của các hộ dân khu vực ven sông. Các hộ dân khai thác thủy sản bằng các nghề trũ điện, xung điện… đã tự nguyện chuyển sang các nghề mới phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Đồng thời, qua việc điều tra nguồn lợi trứng cá, tôm con và xác định mùa vụ sinh sản của các đối tượng thủy sản khác, người dân đã khoanh được nhiều khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đưa ra các quy định về khai thác, bảo vệ thủy sản được cộng đồng hưởng ứng.
Hay ở xã Hương Phong, huyện Hương Trà và Quảng Thành, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên - Huế) đã triển khai thành công mô hình nuôi trồng thủy sản quảng canh cải tiến ven phá Tam Giang và mô hình trồng rau “vườn treo” thích ứng với biến đổi khí hậu.
Để các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng thành công, phải hài hòa giữa việc bảo vệ môi trường, gìn giữ sinh thái với sinh kế người dân. Cách làm phải thật cụ thể, thiết thực, giúp người dân tìm thấy lợi ích từ các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bảo Châu - Bộ TNMT

Nhiều giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu

Hậu quả của biến đổi khí hậu (BĐKH) để lại cho hạ tầng GTVT rất nghiêm trọng. Bộ GTVT đã đưa ra các giải pháp thích ứng với BĐKH phù hợp cho các công trình giao thông nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại.
BĐKH tác động nghiêm trọng đến GTVT
Việt Nam là 1 trong 5 nước đặc biệt dễ bị tổn thương trước các tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH). Các ảnh hưởng của BĐKH là thời tiết cực đoan, ngập lụt, sụt trượt, sạt lở, tác động của thời tiết đến các nguồn lực và cộng đồng, ở thành thị và nông thôn.
Đường Hồ Chí Minh bị sạt lở do bão lụt
Đường Hồ Chí Minh bị sạt lở do bão lụt
Trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình hàng năm ở nước ta đã tăng khoảng 0,5oC. Số ngày nắng nóng tăng mạnh trong giai đoạn từ 1991-2000, đặc biệt là ở khu vực Trung bộ và Nam bộ. Số đợt không khí lạnh giảm rõ rệt trong 2 thập kỷ qua. Nhiều biểu hiện thời tiết dị thường đã xảy ra.
Biểu hiện dị thường có thể đơn cử như đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày trong tháng 1-2/2008 tại Bắc bộ. Số ngày mưa phùn đã giảm đáng kể, mưa trái mùa và mưa lớn bất thường xảy ra thường xuyên; Bão có cường độ mạnh cũng xuất hiện nhiều hơn; Mực nước biển dâng trung bình khoảng 3mm/năm.
Nước biển dâng, mưa lớn có thể nhấn chìm hạ tầng giao thông (HTGT) ven biển. HTGT được thiết kế theo các điều kiện môi trường bình thường sẽ không đủ an toàn và khả năng đáp ứng trong tương lai. Lũ quét, sạt lở, sụt trượt sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc phá hủy HTGT, làm tăng khối lượng và chi phí cho công tác bảo trì...
Các giải pháp
Nhằm ứng phó với BĐKH, trong thời gian qua Bộ GTVT đã đánh giá tác động của BĐKH bằng cách rà soát, nghiên cứu, phân loại lĩnh vực, hoạt động GTVT chịu ảnh hưởng của BĐKH; Thống kê, điều tra, dự báo, đánh giá mức độ gây ngập lụt, sạt lở, sụt trượt (đặc biệt tại các vùng ven biển, miền núi và Đồng bằng sông Cửu Long).
Bên cạnh đó, Bộ GTVT cũng xây dựng, đề xuất các giải pháp thích ứng, giảm nhẹ phát thải GHG; Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS tích hợp ứng phó với BĐKH cho các kết cấu hạ tầng (KCHT) GTVT dễ bị tổn thương; Tích hợp, lồng ghép BĐKH vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển KCHT GTVT; Bổ sung hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật liên quan; Kiểm tra, kiểm soát khí thải PT CTCG; Phát triển vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn; Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Thí điểm các giải pháp thích ứng, giảm nhẹ GHG trên cơ sở hỗ trợ tài chính, kỹ thuật, công nghệ của quốc tế.
Không chỉ có vậy, Bộ GTVT còn đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, đào tạo nguồn nhân lực, năng lực quản lý Nhà nước về BĐKH trong GTVT. Bộ GTVT cũng đã và đang thực hiện 06 dự án ưu tiên về đánh giá tác động và xây dựng giải pháp ứng phó (hoàn thành năm 2013); Vận động tài trợ quốc tế để thực hiện 12 dự án theo 3 nhóm là: Thí điểm giải pháp thích ứng về công trình cho KCHT GTVT (06 dự án); Ứng dụng công nghệ/giải pháp giảm nhẹ GHG (03 dự án); Nâng cao năng lực (03 dự án).

Mục tiêu cụ thể của Bộ GTVT ứng phó với BĐKH
Đánh giá được mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không kể cả về kết cấu hạ tầng và hoạt động vận tải.
Xác định giải pháp thích ứng với BĐKH phù hợp cho các công trình giao thông nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại, góp phần đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn.
Vận động nguồn lực quốc tế hỗ trợ ứng dụng giải pháp thích ứng với BĐKH, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và nâng cao nhận thức, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, tổ chức, triển khai ứng phó với BĐKH.
Bộ GTVT

ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO BIỂN Ở KHU VỰC TÂY NAM BIỂN ĐÔNG

Tóm tắt: áp dụng phương pháp phân tích ảnh viễn thám có độ phân giải khác nhau kết hợp với bản đồ đẳng sâu và sự phân bố trầm tích cho phép nghiên cứu địa mạo đáy biển ở khu vực tây nam biển Đông từ mức độ khu vực đến chi tiết.
Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải thấp kết hợp với tài liệu đo sâu trong nghiên cứu địa mạo đáy biển cho phép phân chia địa hình đáy biển thành 4 vùng địa mạo như thềm, sườn, chân lục địa và đáy biển sâu.
Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải trung bình (100 đến 200 m) trong nghiên cứu địa mạo đáy biển có thể xác định sự phân bố các kiểu địa hình và kết quả này góp phần hiệu chỉnh các bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 200.000 và 1: 500.000.
Sử dụng ảnh viễn thám có độ phân giải từ 2 đến 5 m trong nghiên cứu địa mạo đáy biển ở mức độ chi tiết giúp chỉ rõ hình thái thành phần địa hình và dự báo các tiềm ẩn tai biến địa chất liên quan.

 I. MỞ ĐẦU
Trước đây, phương pháp phân tích ảnh viễn thám trong nghiên cứu đáy biển đã được áp dụng ở nhiều nước, nhưng cho tới nay phương pháp này vẫn chưa được sử dụng trong các công trình nghiên cứu địa hình, địa mạo và địa chất biển Việt Nam do chưa có ảnh vệ tinh đáy biển. Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã sử dụng các ảnh viễn thám có độ phân giải khác nhau để nghiên cứu đặc điểm địa mạo đáy biển ở khu vực tây nam biển Đông và xác định khả năng ứng dụng của phương pháp này ở Việt Nam.
Vùng nghiên cứu là phần đáy biển Đông từ Nam Trung Bộ đến Đông Nam Bộ, được khống chế trong ô tọa độ địa lý từ 9,57o đến 13o vĩ độ Bắc và từ 105,36o đến 113o kinh độ Đông (Hình 1).
Khi chưa áp dụng ảnh viễn thám trong nghiên cứu, thềm lục địa ở khu vực này được phân chia với ranh giới thềm - sườn ở độ sâu -200 m [10], -200 đến -300 m [1-9, 11, 12]. Các bản đồ địa hình đo trong vùng nghiên cứu được vẽ trên cơ sở nội suy các điểm đo sâu rời rạc và kết hợp các tuyến đo sâu hồi âm. Vì vậy, hình thái địa hình có chỗ sai khác với thực tế và nhiều hình thái địa hình chi tiết vẫn chưa được chỉ ra. Việc áp dụng phương pháp viễn thám kết hợp với kết quả của những phương pháp khác ở những mức độ khu vực, trung bình, chi tiết phần nào giải quyết được những nhược điểm này.
II. NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO KHU VỰC
Ảnh viễn thám mầu image@2005. EarthSat và số liệu đo sâu đáy biển là tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu địa mạo khu vực (Hình 1).


Hình1. Image@2005.EarthSat và vị trí đo sâu vùng nghiên cứu
Ảnh chụp vào mùa khô năm 2005, dạng lập thể bao phủ toàn vùng nghiên cứu. Tỷ lệ phẳng của ảnh tương ứng 1: 500.000 và có tọa độ được cung cấp bởi Google. Số liệu đo sâu được lấy từ chương trình Cmap 93 của CHLB Đức với mật độ điểm tương ứng với tỷ lệ 1: 300.000.
Hình 2. Sơ đồ phân chia vị trí các khu vực địa hình vùng nghiên cứu theo ảnh và độ sâu


Việc thành lập đường đồng mức độ sâu địa hình đáy biển được thực hiện nhờ phần mềm Vertical dùng thuật toán Kriging trên số liệu đo sâu của Cmap 93. Kết quả vẽ đường đồng mức đẳng sâu nội suy theo thuật toán Kriging được thể hiện trên hình (Hình 2).
Việc phân chia các đơn vị địa hình trong vùng nghiên cứu tiến hành dựa vào các cơ sở sau:
Về địa hình: ảnh được chọn là image@2005.EarthSat chụp khu vực nghiên cứu vào buổi chiều. Điều đó giúp dễ dàng nhận thấy rõ vị trí bóng râm của các bậc địa hình và tính chất phân dị của địa hình. Căn cứ vào các yếu tố này kết hợp với tài liệu đo sâu của Cmap 93 và sự thay đổi độ dốc địa hình một cách tương đối có thể phân chia và gọi tên tương ứng là vùng thềm lục địa, vùng sườn lục địa, vùng chân lục địa và vùng đáy biển sâu. Như vậy, từ ảnh viễn thám và tài liệu đo sâu có thể nhận ra được 4 vùng địa hình.
Vùng thềm lục địa với đặc điểm địa hình trên ảnh không thể hiện sự phân dị và độ dốc địa hình thay đổi không đột ngột. Ranh giới thềm - sườn là nơi địa hình có độ dốc thay đổi đột ngột và tính phân bậc rõ ràng thể hiện bóng râm trên ảnh và sự kiểm tra tương đối bằng đường đồng mức và mặt cắt địa chất T65. Độ sâu của ranh giới thềm - sườn phân bố từ -200 m ở khu vực phía bắc từ 13o đến 12o vĩ tuyến Bắc, từ -200 đến -500 m ở 12o đến 10o30’ vĩ tuyến Bắc và từ -500 đến -200 m ở 10o30’ vĩ độ Bắc tới nam vùng nghiên cứu được ghi nhận theo tài liệu đo sâu của Cmap 93. Theo cách phân chia này, thềm lục địa trong khu vực hẹp nhất ở 13o vĩ độ Bắc, mở rộng về phía biển tới 110,2o kinh độ Đông ở 10o30’ vĩ độ Bắc. Từ 10o30’ vĩ độ Bắc tới phía nam, ranh giới thềm - sườn có xu hướng dịch về phía đất liền tới toạ độ 109o kinh độ Đông ở 8o vĩ độ Bắc. Về tổng thể, thềm lục địa Nam Trung Bộ có xu hướng mở rộng từ phía bắc xuống phía nam.
Vùng sườn lục địa và quần đảo được nhận biết trên ảnh viễn thám bằng sự phân dị địa hình đáy biển và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Về ranh giới của nó với vùng chân lục địa không phân định được trên ảnh mà phân định một cách tương đối dựa vào độ dốc địa hình, mà cơ sở là tài liệu đo sâu của Cmap 93 và đường đồng mức. Kết quả cho thấy vùng sườn lục địa và quần đảo có ranh giới trong là thềm lục địa và ranh giới ngoài nằm ở độ sâu khoảng -2000 m. Ranh giới ngoài được lấy ở độ sâu -2000 m do đây là nơi đường đồng mức thay đổi từ mau sang thưa, hay độ dốc địa hình từ dốc sang thoải rất phổ biến ở khu vực phía bắc và phía nam. Sự hạn chế khi xác định ranh giới theo tiêu chí này là độ dốc địa hình khu vực từ 10o đến 11o vĩ độ Bắc không tuân theo quy luật từ dốc sang thoải, nhưng ở đây có tính phân bậc địa hình rất rõ ràng. Kết quả phân định cho thấy vùng sườn lục địa và quần đảo có xu thế mở rộng từ bắc tới nam vùng nghiên cứu với đặc điểm địa hình phân dị thể hiện ở dạng đồi ngầm và các đảo phát triển trên địa hình nghiêng. Khu vực phía bắc của sườn hẹp và có đặc điểm độ dốc rất lớn và mang tính liên tục; khu vực từ 10o đến 11o vĩ độ Bắc thể hiện độ dốc địa hình thay đổi không liên tục: dốc đột ngột ở ranh giới phía lục địa, nhưng lại rất thoải về phía biển trước khi dốc đột ngột ở ranh giới giữa nó với chân lục địa. Khu vực phía nam của vùng có độ dốc tương đối ổn định, đặc điểm địa hình phân dị thể hiện ở những hình dạng kiểu đồi, núi ngầm và các đường phân cắt. Tây nam vùng là khu vực quần đảo Trường Sa, địa hình có tính chất phân dị rất mạnh thể hiện ở những đồi và núi ngầm bên cạnh những rãnh nước sâu, cục bộ sâu tới -4000 m. Nơi nhô cao nhất là khu vực đảo Trường Sa với xu thế địa hình thoải về hai phía tây bắc và đông nam.
Vùng chân lục địa được xác định bằng ảnh viễn thám và tài liệu đo sâu. Việc xác định ranh giới chân và sườn lục địa như đã trình bầy ở trên. Ranh giới giữa chân lục địa và biển sâu được xác định bằng ảnh viễn thám dựa trên sự khác biệt của địa hình và dấu hiệu bóng râm do hiện tượng bóng đổ. Tài liệu đo sâu cho thấy địa hình của chân lục địa nằm ở độ sâu từ -2000 đến -3500 m với đặc điểm địa hình phân dị mạnh, thể hiện ở dạng núi ngầm với độ chênh cao phần lớn trên 500 m và sự phân cắt địa hình.
Vùng biển sâu được xác định hầu hết bằng ảnh viễn thám và độ sâu cung cấp bởi Google. Vùng này phân bố ở độ sâu trên -3000 m, phổ biến trên -3500 m. Trên ảnh, đáy vùng biển sâu thể hiện dạng bề mặt địa hình khá bằng phẳng và ít bị phân cắt.
Về cấu trúc, trên ảnh image@2005 EarthSat (Hình 3) tương ứng với tầm nhìn từ độ cao 710,9 km xuống Biển Đông, dựa vào các yếu tố dạng đường và kiểm nghiệm bằng mặt cắt địa vật lý VOR-93-105 (Hình 4) có thể vạch được vị trí đứt gãy dọc kinh tuyến 110o dài 110, 5 km (Hình 3).



Hình 3. Ảnh image@2006 Europa Technologies
Hình 4. Mặt cắt địa vật lý VOR-93-105


III. NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO Ở MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH
Mục tiêu nghiên cứu địa mạo ở mức độ này nhằm chính xác hoá hình dạng các yếu tố địa hình đáy biển như các trũng, các bãi và các đảo phân bố ở độ sâu từ 0 đến -30 m nước. Để phục vụ mục tiêu này, chúng tôi sử dụng ảnh image@2005.EarthSat chụp vào tháng 11/2005 (Hình 5) (khi đó là mùa khô), tài liệu đo sâu Cmap 93, tài liệu đo sâu của Google, bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 200.000 và bản đồ địa hình tỉ lệ 1: 500.000.
Trước đây, việc thành lập đường đồng mức địa hình tỷ lệ 1: 200.000 ở độ sâu 0 đến -30 m nước được dựa trên cơ sở các tuyến đo sâu hồi âm cách nhau 5 km, gần bờ là 2,5 km và phương pháp nội suy tuyến tính giữa các điểm đo sâu 5x5 km. Với phương pháp đó, hình dạng địa hình giữa các điểm nội suy có khi chưa phản ánh đúng hình dạng địa hình thật của đáy biển.
Việc phân tích hình thái địa hình đáy biển được dựa trên ảnh vệ tinh kết hợp với các điểm đo sâu của chính các bản đồ đó và bổ sung tài liệu đo sâu của Cmap 93 cùng với tài liệu đo sâu cung cấp bởi Google. Kết quả phân tích cho thấy các hình thái địa hình đáy biển ven bờ 0 đến -30 m nước ở khu vực từ Vũng Tàu đến Mũi Né (Hình 6) về cơ bản là trùng khớp với tài liệu bản đồ độ sâu thành lập năm 1991 và 2001 của Trung tâm Địa chất Khoáng sản biển, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam [4]. Điều này khẳng định có thể dùng ảnh vệ tinh để nghiên cứu địa hình, địa mạo đáy biển vùng nước nông.


Hình 5. Kết quả phân tích địa hình trên ảnh image@2005.EarthSat


Tuy nhiên, giữa các tài liệu trên cũng có sự khác biệt vì lý do kỹ thuật nội suy đã nêu. Sự khác biệt đó được nhận biết qua việc tiến hành chập các bản đồ ở những tỷ lệ khác nhau lên trên nền ảnh viễn thám. Tất cả các điểm chập tọa độ trên bản đồ cũng như trên ảnh đều được chuyển đồng nhất về một hệ tọa độ.
Việc chập bản đồ và biên tập được thực hiện nhờ phần mềm Mapinfor. Kết quả chồng bản đồ (Hình 6) đã cho thấy mặc dù đúng về vị trí nhưng có sự sai khác khá nhiều về hình thái bề mặt địa hình đáy biển như khu vực Hòn Lao, vịnh Phan Thiết, mũi Kê Gà, bãi cạn Britô, vịnh Ba Kiềm cổ, bãi cạn Ba Kiềm, vịnh Vũng Tàu cổ và bãi cạn Vũng Tàu.
Trên cơ sở các tài liệu đã nêu, kết hợp với phương pháp phân tích xu thế địa hình và kiểm tra bằng độ sâu do Google cung cấp, các tác giả đã hiệu chỉnh lại bản đồ địa hình 1:200.000 và 1: 500.000 đã vẽ trước đây tại khu vực từ Hòn Lao tới Vũng Tàu. Kết quả được thể hiện trên Hình 6. Trên hình này ta nhận thấy địa hình khu vực Hòn Lao, hai bên vịnh Phan Thiết, mũi Kê Gà và bãi cạn Hàm Tân có dạng các lưỡi cát nhô ra biển tới độ sâu -20 m thậm chí -25 m có xu hướng vát nhọn và uốn cong về hướng đông bắc. Tây nam vịnh Ba Kiềm cổ là nơi địa hình lượn sóng có trục phát triển song song với đường bờ. Những vị trí nêu trên là nơi địa hình không thể hiện rõ trên bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:200.000 và 1: 500.000 đã đo vẽ trước đây [4].


Hình 6. Hình thái địa hình đáy biển từ Hòn Lao tới Vũng Tàu
được xác lập từ kết quả chập và hiệu chỉnh bản đồ địa hình


Như vậy, phân tích ảnh vệ tinh đáy biển giúp ích cho công tác đo vẽ và hiệu chỉnh bản đồ đẳng sâu đáy biển trong thời gian tới.
IV. NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO Ở MỨC ĐỘ CHI TIẾT
Để nghiên cứu địa mạo thềm lục địa Nam Trung Bộ chi tiết hơn, trong phương pháp này sử dụng ảnh viễn thám có độ phân giải cao từ 2 đến 5 m do Google cung cấp bao gồm image@2006.DigitalGloble image @2006.NASA (từ Hình 7 đến Hình 11). Các ảnh được chụp vào mùa khô ở vị trí tương ứng với độ cao từ 5 đến 12 km xuống mặt nước biển. Kết quả phân tích cho thấy rõ các sóng cát (Hình 7) các dấu hiệu trượt với quy mô chiều ngang khối trượt lên tới trên 2 km xuất hiện phía bắc cảng Cam Ranh (Hình 8); những vết nứt phương tây bắc - đông nam thể hiện trên địa hình tại cửa sông Cái (Hình 9) nơi đới trượt Tuy Hòa đi qua và các sóng cát trong vịnh Nha Trang (Hình 10).
Đặc biệt, bề mặt địa hình khu vực mỏ Rubi cũng được thể hiện các sóng cát ngầm phân bố dọc theo phương có trục đông bắc - tây nam. Điều đáng chú ý là vị trí mỏ này có độ sâu tới -40 m. Ở độ sâu này, các công trình trước đây nghiên cứu hình thái địa hình ở những độ sâu như vậy chỉ được thu thập tài liệu bằng quay camera hoặc đo sâu quét sườn rất tốn kém và thậm chí rất nguy hiểm.


Hình 7. Địa hình gợn sóng và vết nứt
ở đáy biển Bắc Cam Ranh
Hình 8. Nứt trượt trầm tích đáy biển Bắc Cam Ranh
Hình 9. Vết nứt tại cửa sông Cái, Nha Trang
Hình 10. Vết nứt và địa hình gợn sóng trong vịnh Nha Trang
Hình 11. Địa hình gợn sóng khu mỏ Rubi


V. KẾT LUẬN
Áp dụng phương pháp phân tích ảnh viễn thám có độ phân giải khác nhau kết hợp với bản đồ đẳng sâu và sự phân bố trầm tích cho phép nghiên cứu địa mạo đáy biển ở khu vực Tây Nam Biển Đông từ mức độ khu vực đến chi tiết.
- Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải thấp kết hợp với tài liệu đo sâu trong nghiên cứu địa mạo đáy biển cho phép phân chia địa hình đáy biển thành 4 vùng địa mạo như thềm, sườn, chân lục địa và đáy biển sâu.
- Sử dụng ảnh viễn thám độ phân giải trung bình (100 đến 200m) trong nghiên cứu địa mạo đáy biển có thể xác định sự phân bố các kiểu địa hình và kết quả này góp phần hiệu chỉnh các bản đồ địa hình tỉ lệ 1: 200.000 và 1: 500.000.
- Sử dụng ảnh viễn thám có độ phân giải từ 2 đến 5 m trong nghiên cứu địa mạo ở mức độ chi tiết cho phép chỉ rõ hình thái thành phần địa hình và dự báo các tiềm ẩn tai biến địa chất liên quan.
Kết quả nghiên cứu cho phép khẳng định phương pháp viễn thám hoàn toàn có thể sử dụng có hiệu quả trong nghiên cứu địa mạo biển Việt Nam
VĂN LIỆU
1. Mai Thanh Tân, Phạm Văn Tỵ, 2002. Đặc điểm địa chất công trình thềm lục địa Việt Nam. TC Khoa học và Công nghệ biển, 2: 1-12, Hà Nội.
2. Mai Thanh Tân và nnk, 2003. Biển Đông. Phần III. Địa chất - Địa vật lý biển. Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
3. Mai Thanh Tân và nnk, 2004. Nghiên cứu đặc điểm địa chất - địa chất công trình vùng đông nam thềm lục địa Việt Nam phục vụ chiến lược phát triển kinh tế và xây dựng công trình biển. Đề tài Mã số KC 09.09, Bộ Khoa học & Công nghệ và Trường đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội.
4. Nguyễn Biểu (Chủ biên), 2001. Kết quả điều tra địa chất và khoáng sản biển nông ven bờ 0-30 m nước Việt Nam tỷ lệ 1/500.000 (1991-2001). Lưu trữ Địa chất, Cục ĐC&KSVN, Hà Nội.
5. Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, Trịnh Thế Hiếu, 2003. Các thành tạo Đệ tứ vùng thềm lục địa đông nam Việt Nam và ý nghĩa nghiên cứu địa chất công trình. TTBC HNKH Công trình và Địa chất biển, Đà Lạt, tr. 16-30.
6. Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, 2005. Địa tầng trầm tích Pliocen - Đệ tứ và bản đồ địa chất tầng nông đông nam thềm lục địa Việt Nam. TTBC HNKH 60 năm Địa chất Việt Nam, tr. 7-16, Cục ĐC&KSVN, Hà Nội.
7. Nguyễn Thế Tiệp, Lê Đức An và nnk, 2000. Bản đồ địa mạo vùng biển Việt Nam và kề cận. Trong Biển Đông I. Khái quát về biển Đông. Tr.33-62. Nxb Đại học QG Hà Nội, Hà Nội
8. Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Huy Phúc, Nguyễn Trung Thành, 2005. Trầm tích bề mặt đáy biển Nam Trung Bộ và sự tiến hóa của chúng. Địa chất và địa vật lý biển, VIII: 166-178, Hà Nội.
9. Nguyễn Văn Tạc, Trịnh Phùng, 1992. Một vài kết quả nghiên cứu địa mạo phần phía Nam thềm lục địa Việt Nam. Tuyển tập Nghiên cứu biển, IV: 100-114. Nha Trang.
10. Schimanski A., 2002. Holocene Sedimentation on the Vietnamese Shelf: From Source To Sink. Tóm tắt luận án Tiến sĩ. Christian Universitat zu Kiel (Germany)
11. Trần Nghi và nnk, 2003. Sự thay đổi mực nước biển trên cơ sở nghiên cứu trầm tích vùng ven biển và biển nông ven bờ từ Nha Trang đến Bạc Liêu. TTBC HNKH Công trình và Địa chất biển, Đà Lạt, tr.181-189.
12. Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Đinh Xuân Thành, Nguyễn Thanh Lân, Trần Thị Thanh Nhàn, 2005. Đặc điểm tướng đá, cổ địa lý và lịch sử phát triển địa chất Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Đông Nam Việt Nam. TTBCHNKH 60 năm Địa chất Việt Nam, tr.140-154. Cục ĐC&KSVN, Hà Nội. 

NGUYỄN BIỂU1, NGUYỄN QUỐC HƯNG2, NGÔ THỊ KIM CHI2,
VŨ ANH THƯ2, PHÙNG NGỌC MẠNH2, BÙI THU HIỀN2, LÊ ĐÌNH NAM3
1 Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội;
 2 Trường Đại học Mỏ - Địa chất,Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội;
3 Viện Địa chất - Địa vật lý Biển,Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Biến đổi khí hậu tác động đến cháy rừng thất thường và khốc liệt hơn (cháy rừng dữ dội trên đèo Hải Vân)

Biến đổi khí hậu làm gia tăng nguy cơ cháy rừng đã được nhiều tổ chức khoa học quốc tế cảnh báo từ hơn 3 năm trước. Ở Việt Nam, hai nhà khoa học Nguyễn Đăng Quế (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường) và Đặng Văn Thắng (Đại học Lâm nghiệp) đã có những nghiên cứu bước đầu cho thấy, sự thay đổi nhiệt độ, lượng mưa làm gia tăng mức độ nghiêm trọng của cháy rừng.
Các nhà khoa học dựa trên các số liệu khí tượng từ thập kỷ 60, 70 của thế kỷ 20 và kịch bản biến đổi khí hậu - nước biển dâng để nghiên cứu những thay đổi dịch chuyển về nguy cơ cháy rừng ở bốn vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên.
Theo các nhà khoa học, các yếu tố chính ảnh hưởng đến nguy cơ cháy rừng là nhiệt độ và độ ẩm. Với tác động của biến đổi khí hậu, trong mùa cháy rừng (mùa khô), nhiệt độ không khí tăng lên, lượng mưa giảm làm độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng giảm rõ rệt nên nguy cơ cháy rừng tăng lên.
Tại khu vực Tây Bắc, cháy rừng sẽ mở rộng vào cuối mùa (mùa cháy rừng tính từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) và sẽ nghiêm trọng hơn. Vùng Tây Bắc vốn đã khô hạn theo kịch bản biến đổi khí hậu, tương lai  lại càng khô hạn hơn. Nhiệt độ trong các tháng cuối mùa khô càng tăng cao. Nhiệt độ các tháng 3, 4 tăng cao nhất trong khi lượng mưa lại giảm nhanh vào 2 tháng này. Còn ở Bắc Trung Bộ, mùa cháy rừng sẽ đến sớm và kết thúc muộn hơn thường lệ.
Bởi các nghiên cứu trên mô hình và các kịch bản biến đổi khí hậu cho thấy, nền nhiệt độ khu vực này có xu hướng tăng cao trong khi lượng mưa lại giảm.
Vùng rừng đại ngàn Tây Nguyên, tình hình cũng trở nên nghiêm trọng khi nguy cơ tăng cao cả đầu mùa và cuối mùa. "Số ngày có nguy cơ cháy rừng cấp nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm có thể lên tới 29-31 ngày trong những tháng cao điểm", nhà khoa học Nguyễn Đăng Quế nói.
Tình hình có vẻ khả quan hơn duy chỉ ở khu vực Đông Bắc. Nhiệt độ tăng cao song lượng mưa cũng tăng cao, nên độ ẩm được cải thiện. Số ngày có nguy cơ cháy cao có xu hướng giảm mạnh và mùa cháy rừng dự báo sẽ được thu hẹp.
Tác động của biến đổi khí hậu làm gia tăng cháy rừng đã xuất hiện. Song nhìn ở khía cạnh khác, các nhà khoa học còn cảnh báo cháy rừng sẽ làm đẩy nhanh tốc độ biến đổi khí hậu. Theo Giám đốc Trung tâm theo dõi cháy rừng toàn cầu thuộc Đại học Freiburg (Đức) Johann Goldammer, các khu rừng ở Bắc bán cầu có chứa than bùn chiếm khoảng 1/3 lượng carbon tích trữ trong Trái đất. Các đám cháy rừng và than bùn giải phóng CO2 vào khí quyển, thúc đẩy quá trình ấm lên của khí hậu và khi đó sẽ gia tăng các vụ cháy rừng.
Tiếp tục cải thiện tình trạng thiếu tốn phương tiện, nhân lực ảnh hưởng đến hiệu quả công tác phòng cháy chữa cháy cũng như kiên trì phương châm "4 tại chỗ" là những kiến nghị của các nhà khoa học để nâng hiệu quả công tác này trong bối cảnh ngày càng khốc liệt hơn. "Càn nghiên cứu cải tiến phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo hướng chi tiết hóa sát với điều kiện địa lý khí hậu và đặc trưng tính chất rừng", ông Quế nói. Bởi điều kiện thời tiết khí hậu ảnh hưởng đến độ ẩm vật liệu cháy rừng.
Nghiên cứu phân vùng cháy rừng ở Đắk Lắk cho thấy, rừng khộp, rừng tre nứa hỗn giao cây gỗ có nguy cơ cháy cao nhất. Các nhà khoa học cũng đã phân vùng trọng điểm cháy rừng của tỉnh này và các huyện EA Súp, Buôn Đôn, một phần các huyện Cư Jút, Cư M'Gar, Ưa H;Leo, Đắk Mil… có nguy cơ cao nhất. Việc có được bản đồ phân vùng cháy rừng sẽ giúp công tác phòng chống chủ động hơn với các giải pháp có tính chủ động, tích cực hướng vào các vùng báo động đỏ. 
  
Cháy dữ dội trên đèo Hải Vân

Đêm 2/5, từ 19h đến 22h, đám cháy bao trùm làm sáng rực, đứng xa hàng chục kilômet vẫn trông thấy, trong đám cháy có kèm tiếng nổ lớn phát ra.
Quận Liên Chiểu đã huy động toàn bộ lực lượng để khống chế đám cháy. Nhưng do địa hình hiểm trở, các phương tiện chữa cháy hiện đại không vào được nên việc dập tắt đám cháy gặp rất nhiều khó khăn.

Đám cháy được xác định bùng phát tại tiểu khu 11 rừng đặc dụng Nam Hải Vân, Q.Liên Chiểu, TP.Đà Nẵng vào khoảng 14 giờ chiều hôm qua (2-5).


Tính đến sáng hôm nay (3/5), ngọn lửa đã được khống chế. Nhưng đã thiêu rụi hơn 30 ha rừng. Chủ yếu là lau lách, bụi rậm và cỏ tranh.
Đây là vụ cháy rừng thứ 4 từ đầu năm đến nay xảy ra trên địa bàn Q.Liên Chiểu, trong đó có 2 vụ cháy rừng trồng keo lá tràm tại khu vực Đà Sơn, P.Hòa Khánh Nam cùng trong tháng 4.
Vụ còn lại xảy ra tại rừng trồng keo lá tràm cũng thuộc rừng Nam Hải Vân gần khu vực Suối Lương, P.Hòa Hiệp Bắc, Q.Liên Chiểu.

Một số hình ảnh hiện trường vụ cháy rừng lớn nhất từ trước đến nay ở Đà Nẵng:
Ảnh: tổng hợp
 Nguồn: Climate GIS tổng hợp từ nhiều nguồn trên Internet 

Cơ chế phá hoại đê biển do sóng trong trường hợp có bão lớn

1. Giới thiệu

Hệ thống đê biển hiện nay đã được nâng cấp đáng kể, đây là cơ sở quan trọng cho việc phát triển kinh tế các vùng ven biển. Tuy nhiên, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống đê biển lên một tầm mới vì:
- Việc nâng tầm đê biển lên một bước mới sẽ là tiền đề thúc đẩy phát triển tổng hợp kinh tế, xã hội và du lịch tại các vùng ven biển. Đồng thời, đê biển sẽ góp phần tạo ra một phòng tuyến vững chắc bảo vệ an ninh, quốc phòng vùng ven biển như định hướng phát triển các vùng của Đảng “kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh, quốc phòng”.
- Đê biển chưa là một chỉnh thể đồng bộ, bền vững: nhiều vị trí chưa có kè bảo vệ nên nguy cơ sạt lở mái phía biển là rất lớn; một số vùng biển tiến mặc dù đã có kè mái đê phía biển nhưng chưa có giải pháp bảo vệ bãi nên khả năng mất ổn định chân kè khi bãi bị bào mòn, hạ thấp; mặt đê dễ xói lở, sình lầy khi mưa bão hoặc sóng to nên không thể ứng cứu được khi xảy ra sự cố; thân đê đắp bằng đất cát pha (có nơi bằng cát) nên rất dễ bị xói mòn, rửa trôi; cống dưới đê đã xây dựng từ lâu chưa được tu sửa, không đảm bảo an toàn cho đê, chưa đủ số lượng để kiểm soát mặn phục vụ phát triển kinh tế.
- Do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, sự gia tăng về tần số và cường độ của thiên tai (bão) đe doạ đến an toàn của đê biển (theo thống kê sơ bộ, trong những năm gần đây số cơn bão xuất hiện ở Biển Đông có ảnh hưởng đến nước ta nhiều hơn, đặc biệt số cơn bão có sức gió mạnh cấp 10, cấp 12, giật trên cấp 12 chiếm tỷ lệ lớn hơn so với các thập kỷ trước).
- Công nghệ mới phát triển: Hệ thống kè mỏ hàn ngang bảo vệ bãi biển Hải Hậu trước đây đã thi công bằng đá đổ bị hư hỏng, mất dần tác dụng theo thời gian. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học, công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế có thể áp dụng nhiều loại kết cấu mới bền vững hơn và đã thử nghiệm thành công ở chính vị trí này.
- Nếu không tiếp tục nâng cấp, củng cố thì hàng loạt đoạn đê biển có nguy cơ sạt lở, mất đi những thành quả đã đạt được của các dự án đã đầu tư.
Khối lượng cần tu bổ, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống đê biển, đê cửa sông các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam là rất lớn, do đó việc xác định điều tra độ ổn định của đê biển đoạn từ Quảng Ninh đến Quảng Nam là cần thiết để từ đó có cơ sở khoa học cho việc xác định nâng cấp đê biển hiện có.

2. Mô phỏng các hình thức phá hoại đê biển

Một số dạng đê kè bị hư hỏng thượng găp trên tuyến đê biển Việt Nam

Tác động của sóng

Sóng biển gây ra các tác động mạnh có thể gây xói lở bờ, bãi và đáy biển, cũng như có thể làm mất ổn định và phá vỡ các kết cấu công trình bảo vệ bờ, bãi và đáy biển.
Thông thường, có hai trạng thái sóng đặc trưng, đó là sóng bình thường và sóng lớn.
Hình 8 là sơ đồ thể hiện sóng bình thường hàng ngày tác dụng vào bờ và bãi biển. Mái dốc của bờ và bãi biển ở trạng thái cân bằng ổn định trong điều kiện sóng và dòng chảy bình thường.
Hình 9 là sơ đồ thể hiện sóng lớn khi có gió bão tác dụng vào bờ và bãi biển; mái dốc của bờ và bãi biển bị xói lở và lấp xuống chân mái dốc của bãi biển; bờ và bãi biển đang ở trạng thái mất ổn định.

I. Cơ chế phá hoại đê biển trong trường hợp mực nước triều thấp

 Trong trường hợp triều thấp Biểu đồ áp lực được tính như sau:

Các thông số để tính sóng tràn:

Bảng 5: Các thông số để tính sóng tràn qua đê
 
TT
 
trị số
Giá trị
Cấp 9
Cấp 10
Cấp 11
Cấp 12
 
U( m/s)
24
27
30
35
 
D (km)
208
192
167
143
 
 
H (m)
2
3
4.5
2
3
4.5
2
3
4.5
2
3
4.5
1
 
Hs (m)
0.7
0.95
1.28
0.74
1.00
1.33
0.78
1.06
1.43
0.84
1.14
1.55
2
 
Tp
4.2
4.8
5.4
4.3
5
5.6
4.5
5.1
5.8
4.6
5.3
6.1
3
 
Beta
0
30
45
0
30
45
0
30
45
0
30
45
4
Freeboard
3.3
3.3
3.3
3.3
5
n1
4
4
4
4
6
n2
4
4
4
4
7
b
0
0
0
0
8
D
0
0
0
0
9
nb
0
0
0
0
10
 
Gamma
0.7
0.8
0.9
0.7
0.8
0.9
0.7
0.8
0.9
0.7
0.8
0.9
11
crestprm
1
1
1
1
12
dh
3.2
3.2
3.2
3.2
13
p
50%
50%
50%
50%
Hình 12. Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa lưu lượng tràn và chiều cao sóng trong trường hợp MN trước công trình xấp xỉ +2.0 m với vật liệu khác nhau
Hình 13. Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa lưu lượng tràn và chiều cao sóng trong trường hợp MNtrước công trình xấp xỉ +4.0 m với hướng gió khác nhau
Hình 14. Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa lưu lượng tràn và chiều cao sóng trong trường hợp MN trước công trình xấp xỉ +4.0 m với độ sâu bãi khác nhau

Nhận xét

Trong trường hợp mức nước triều thấp với các loại vật liệu khác nhau, hướng gió khác nhau, độ sâu bãi khác nhau ) Trường hợp xấu nhất hướng gió vuông góc với bờ, cấu kiện bê tông phẳng không có mố giảm sóng và độ sâu bãi < (-1.00) đê kè bị phá hoại ở phía chân kè. Lưu lượng tràn qua đê phá đê từ phía sau không đáng kể. Qua quan sat thực tế cơ chế phá hoại đê kè được thể hiện như sau:
Áp lực sóng tác động vào mái kè một phần sóng cuộn xuống chân kè moi cát và các vật liệu nhẹ ra biển kết quả chân kè bị xói bào mòn các vật liệu nhẹ bị cuốn trôi ra ngoài. các vật liệu này chưa kịp trôi đi đã bị các cơn sóng tiếp theo cuốn đập trở lại và các vật liệu này tác động lên mái kè gây hư hỏng và bào mòn mái kè. Chúng tôi đã quan sát trong thời gian dài nhận thấy các viên đá bị lăn trên mái kè sau một thời gian các viên đá sắc cạnh trở thành các viên cuội tròn. Các viên cuội này bị trôi dạt thành đống tại các khu vực cuối kè hay tại các tường ngăn.
Phần tác động sóng thứ 2 tạo thành sóng leo. Do mái kè dài và không có vật cản các cơn sóng leo rất cao lên mái kè và rút xuống tạo áp lực âm. Các đợt sóng khác nhau đợt trước chưa rút khỏi mái kè thì đợt sau đã ập vào giữa 2 đợt sóng trên có hướng vận chuyển trái ngược khi gặp nhau gây xung đột tạo thành vùng sóng cuộn giữa khu vực mái kè tạo thành vùng xung lực moi các viên vật liệu trong mái kè ra và gây hư hỏng kè. Trong trường hợp mực nước thấp mái đê kè thường bị hư hỏng nặng từ cao trình (+2.00) trở xuống. Bãi bị thoái mạnh chân khay bị hư hỏng.
Hình 17
II. Trường hợp triều trung bình MNTT = 3,0 m (Cao trình bãi -0.0)

Nhận xét

Trong trường hợp mức nước triều trung bình với các loại vật liệu khác nhau, hướng gió khác nhau, độ sâu bãi khác nhau. Trường hợp xấu nhất hướng gió vuông góc với bờ, cấu kiện bê tông phẳng không có mố giảm sóng và độ sâu bãi < (-1.00) đê kè bị phá hoại mạnh ở phía chân kè và đỉnh kè. Lưu lượng tràn qua đê phá đê từ phía sau vượt chỉ tiêu cho phép 10 lít/s trong trường hợp bão có gió cấp 10 cấp 11 trở lên nếu mặt đê không được gia cố mái phía đồng không được gia cố tốt sẽ bị xói mặt và mái đê phía đồng. Các tác động phá hoại mái kè như trong trường hợp mực nước triều thấp như mức độ phá hoại mạnh hơn các khu vực sập ở cao trình cao hơn xuống tới chân kè

III. Trường hợp triều cao MNTT > 3,7 m (Cao trình bãi -0.80)

Nhận xét

Trong trường hợp mức nước triều trung bình tần suất thiết kế 5% ứng với mực nước tại Văn Lý (+2.29) với các loại vật liệu khác nhau, hướng gió khác nhau, độ sâu bãi khác nhau. Trường hợp xấu nhất hướng gió vuông góc với bờ, cấu kiện bê tông phẳng không có mố giảm sóng và độ sâu bãi < (-1.00) đê kè bị phá hoại mạnh ở phía chân kè và đỉnh kè. Lưu lượng tràn qua đê phá đê từ phía sau rất lớn vượt chỉ tiêu cho phép 10 lít/s trong trường hợp bão có gió cấp 9 cấp 10 trở lên nếu mặt đê không được gia cố mái phía đồng không được gia cố tốt sẽ bị xói mặt và mái đê phía đồng. Trên tất cả tuyến đê Nam Định Gặp trường hợp này nhiều đoạn đê sẽ bị phá hỏng từ phía trong đồng gây sập và vỡ đê. Các khu vực trọng điểm bãi thấp khả năng vỡ đê rất lớn. Ngược lại với các trường hợp trên khu vực chân kè tương đối ổn định. đê kè bị phá hoại ở phần đỉnh đê trở xuống trường hợp này đa xảy ra trong bão số 7 năm 2005 và đã xuất hiện các dạng hư hỏng phổ biến như sau:

Phá vỡ kết cấu mái kè từ cao trình (+2.00) trở lên

Trong dự án PAM 5325 kết cấu công trình bảo vệ được thiết kế như sau:
Chân khay ông buy bê tông dài 1,5 m đặt tại cao trình (0.0)-:- (-0.50)
Lát cấu kiện hình lục lăng trong lương xấp xỉ 100 kg đến cao trình (+3.00)
Từ cao trình (+3.00) đên đỉnh đê (+5.00) dùng đá hộc lát khan
Xây tường đầu kè đến cao trình (+5.50)
Khi gặp mực nước triều cao tác động phần đá lát khan bị hư hỏng toàn bộ. Đoạn đê phía dưới đắp bằng đất thịt sự hư hỏng đỡ hơn những đoạn đê đắp bằng đất cát ngoài bọc đất thịt.

Nước tràn qua đê gây sạt đê từ phía trong đồng dẫn đến vỡ đê

Khi phần lát khan bị hư hổng gặp triều cao, nước tràn qua đê gây xói mòn và hạ thấp cao trình đê Hiện tượng này rất phổ biến và diễn ra trên nhiều đoạn đê:

Phá hoại mái đê phía đồng

Nhiều trường hợp sóng tràn qua mặt đê do chưa kịp phá hoại kè phía trước các cơn sóng phá hoại đê từ phía sau Hiện tượng nay xảy ra hầu hết trên các tuyến đê:
Hình 24. Sóng trùm qua gây sạt lở đê từ trong đồng

Bào mòn hạ thấp cao trình đê

Với các đoạn đê đắp bằng đất thịt có kết cấu tốt thờ gian bão chưa đủ pha vỡ đê chỉ hạ thấp cao trình đê tạo các hố trên tuyến đê:
Hình 25. Cao trình đê bị hà thấp tại những đoạn đê đắp bằng đất thịt

Kết luận

Qua thực tế những lần sạt lở và vỡ đê trong lịch sử, có 3 dạng sạt lở chính sau
Dạng thứ nhất (chiếm đa số): do tác dụng của sóng và các yếu tố động lực khác từ biển xói lở chân đê làm cho mái đê mất ổn định, dẫn đến sạt lở khi gặp các yếu tố thời tiết bất lợi.
Dạng thứ hai (dạng này ít xảy ra hơn): nước bị ứ đọng ở phía đồng không thoát kịp qua các cống, tràn lên mặt đê và mái đê gây ra xói lở cục bộ sạt sập mái đê
Dạng thứ 3 (dạng này xảy ra ngay trong cơn bão số 7 năm 2005): triều cường, nước dâng cao kết hợp với sóng mạnh trong bão tràn đê gây xói mái phía đồng, làm mất ổn định dẫn đến vỡ đê.

Tài liệu tham khảo

1.   Báo cáo hiện trạng và phương hướng bảo vệ, củng cố đê biển tại các tỉnh có đê từ Quảng Ninh đến Quảng Nam “Cục ĐĐ&PCLB_ Bộ NN&PTNT”
2.   Báo cáo tổng hợp thiên tai Tỉnh Nam Định từ năm 1976 đến năm 2005.
3.   Báo cáo tổng hợp thiên tai 3 cơn bão số 2, 6 và 7 đối với đê biển Hải Phòng.
4.   Báo cáo tổng hợp thiên tai trong những năm gần đây đối với đê biển Thanh Hóa.
5.   Hướng dẫn thiết kế đê biển - 14RCN 130-2002.
6.   Coastal Engineering Manual - U.S.Army Corp Engineers, Engineer Manual, Washington D.C.USA.
7.   VanderMeer; Janssen, W., 1995. Ware Run_up and Overtopping at Dikes, Ware Forces on Inclined and Vertical Wall Structures, ed. NewYork, USA.
8.   Mai Van Cong, Van Gelder, P.H.A.J.M & Vrijling, J.K., 2007. Failure Mechanisms of sea dike: inventory an sensitivity analysis. In Proceedings of Coastal Structures 2007 - International Conference.
ThS. Nguyễn Văn Thìn, GS.TS.Ngô Trí Viềng, PGS.TS. Nguyễn Bá Quỳ - Trường Đại học Thủy lợi thực hiện 

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482