DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Việt Nam chịu ảnh hưởng ra sao bởi biến đổi khí hậu?

Các nhà khoa học Việt Nam đang lúng túng trong việc lựa chọn kịch bản biến đổi khí hậu nhằm xây dựng kế hoạch ứng phó với vấn đề này ở Việt Nam…

Nhằm ứng phó với vấn đề biến đổi khí hậu, Bộ (Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã nhanh chóng thành lập ban chỉ đạo "Chương trình hành động thích ứng với biến đổi khí hậu" và lập đề cương xin ý kiến các nhà khoa học xây dựng chương trình hành động.
Tuy nhiên, Tại Hội thảo "Hướng tới Chương trình Hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với Biến đổi khí hậu" do Bộ NN&PTNT tổ chức tại Hà Nội vào ngày 11/1. các nhà khoa học đã rất lúng túng và có nhiều ý kiến khác nhau giữa hai kịch bản dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB) mực nước biển dâng là 1m và của Ủy ban liên chính phủ về Thay đổi khí hậu (IPCC) là... 69cm!
 vfg n
10 tỉnh bị ngập nước nặng nhất theo kịch bản nước biển dâng 1m - Đánh giá của Jeremy Carew-Reid - Giám đốcTrung tâm Quốc tế về Quản lý Môi trường (ICEM). Ảnh: Jeremy Carew-Reid
Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất đối với biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển tăng 1 mét ở VN sẽ sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội GDP. Nếu mực nước biển dâng lên là 3-5m thì điều này đồng nghĩa với "có thể xảy ra thảm họa" ở Việt Nam.

Cần xây dựng một kịch bản cho Việt Nam
Để xây dựng được một chương trình hành động chuẩn xác, tạo nền tảng đi đúng hướng, ông Hoàng Mạnh Hòa, điều phối viên biến đổi khí hậu (Vụ Hợp tác quốc tế) - Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cho rằng: "Chúng ta cần phải xây dựng một kịch bản cho Việt Nam".
Ông tỏ ra băn khoăn với các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới hiện nay. Theo kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, mực nước biển dâng là 1m, nhưng kết quả nghiên cứu của IPCC mực nước biển dâng là... 69cm kèm theo trong điều kiện băng tan không đột biến (!).
Vậy câu hỏi đặt ra là nếu băng tan ở các vùng cực Nam hay cực Bắc của Trái đất, mực nước biển dâng cao có nơi lên tới 5-10m, Việt Nam sẽ ra sao? Trong bối cảnh nào thì băng tan đột biến và con số là bao nhiêu thì chúng ta phải trả lời và chúng ta phải xây dựng kịch bản cho Việt Nam.
Bởi vì, theo ông Hòa, vấn đề khí hậu và biến đổi khí hậu ở mỗi quốc gia lại có diễn biến khác nhau. Hơn nữa, vấn đề biến đổi khí hậu không chỉ đơn giản là của ngành nông nghiệp mà nó còn liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác nữa.
Do vậy, Việt Nam phải xây dựng kịch bản chi tiết cho từng thập niên: năm 2020, 2030, 2050, 2070... và đến năm 2100. Từ đó, các nhà hoạch định chính sách, các bộ, ngành mới có thể xây dựng chương trình hành động đúng.
Tuy nhiên, TS. Hoàng Minh Hiền - Phó Giám đốc Trung tâm Quản lý, Phòng, Chống và Giảm nhẹ Thiên tai - Bộ NN&PTNT cho rằng chúng ta cần phải tham khảo các kịch bản khác nhau, đặc biệt là kịch bản của Ngân hàng Thế giới.
TS. Hiền lý giải, có thể các nhà khoa học trên thế giới đưa ra các con số khác nhau, họ có những hướng giải quyết khác nhau. Kịch bản chuẩn hiện nay mà chúng ta có thể theo là kịch bản của IPCC. Tuy nhiên, các nhà khoa học VN của chúng ta phải vào cuộc bởi vì nếu mực nước biển dâng 1m hay 5m thì VN vẫn là một trong những nước bị ảnh hưởng nặng nhất.
Theo TS. Hiền, khi trái đất nóng lên, băng ở đỉnh núi Himalaya tan và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ là nơi hứng chịu mực nước ấy, hay Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) sẽ hứng chịu mực nước của dãy núi Vân Nam (Trung Quốc). Khi đó, nếu chúng ta theo kịch bản của IPCC thì ĐBSH và ĐBSCL sẽ phải hứng chịu thiên tai rất nhiều.
Do vậy, chúng ta phải chỉ rõ vùng nào của VN sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của băng tan, phân tích cụ thể diện tích vùng bị ngập, vùng phải di chuyển và ảnh hưởng đến các vùng khác chưa được đề cập tới.

Từ đó, chúng ta mới có thể xây dựng được kế hoạch hành động và khai thác nguồn vốn cũng như sự hỗ trợ trong và ngoài nước.
Bản đồ các vùng chịu ảnh hưởng nước biển dâng ở Đồng bằng sông Hồng:
Viet Nam chiu anh huong ra sao boi bien doi khi hau
Theo dự báo, nhiều vùng thuộc ĐBSH như Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình sẽ ngập chìm từ 2-4m trong vòng 100 năm tới (Nguồn: ICEM)
Bản đồ các vùng chịu ảnh hưởng nước biển dâng ở ĐBSCL:
Viet Nam chiu anh huong ra sao boi bien doi khi hau
Theo dự báo, nhiều vùng thuộc ĐBSCL như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cà Mau... sẽ ngập chìm từ 2-4m trong vòng 100 năm tới (Nguồn: ICEM)
Trong khi đó, KS. Nguyễn Ty Niên - Nguyên Cục trưởng Cục Đê điều Phòng chống lụt bão - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: "Còn quá sớm để chúng ta xây dựng tầm nhìn đối với ngành nông nghiệp".
Theo ông, biến đổi khí hậu là vấn đề gặm nhấm, mỗi năm, nhiệt độ và mực nước biển tăng dần lên. Do vậy, cách tiếp cận của chúng ta là tiệm cận dần với những biến đổi. Chúng ta không thể hành động sớm cũng như quá muộn mà chúng ta phải hành động đúng lúc, hành động phù hợp và thích ứng với nó.

 rước những ý kiến tranh luận khác nhau về kịch bản cũng như đưa ra các giải pháp xây dựng chương trình hành động, thứ trưởng Bộ NN&PTNT Đào Xuân Học cho biết: "Trong chỉ đạo của Bộ NN&PTNT đã xây dựng chương trình hành động với cả hai kịch bản dự báo của Ngân hàng Thế giới với mực nước biển dâng là 1m và của IPCC là 69 cm. Mặc dù, còn rất nhiều ý kiến tranh cãi, nhưng chúng ta phải tiến hành hành động đúng như các khuyến cáo của Liên Hợp Quốc tại Hội nghị Bali".
Thứ trưởng cho biết thêm: "Trong thời gian sắp tới, Ban chỉ đạo sẽ đưa ra định hướng cụ thể".
Theo thứ trưởng Học, cho dù là kịch bản nào thì vấn đề biến đổi khí hậu đã xảy ra và tác động mạnh mẽ đến đất nước chúng ta ở tất cả các ngành, đặc biệt là ngành sản xuất nông nghiệp. Bởi vì, chúng ta đang quản lý 74% diện tích đất nông nghiệp, gần 80% người nông dân đang sinh sống ở vùng nông thôn và sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp.
Do vậy, song song với việc nghiên cứu, xây dựng chương trình hành động, chúng ta vẫn tiếp tục tiến hành những việc liên quan đến giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu như: trồng rừng, sử dụng công nghệ sạch, vấn đề giảm khí thải vào không khí...
Đồng thời, thứ trưởng Học cũng yêu cầu các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu đưa ra các giải pháp cụ thể ví dụ như: đối với ngành thủy lợi, chúng ta phải xây dựng lại tất cả những quy trình, quy chuẩn, quy phạm về thiết kế.., đối với ngành nông nghiệp, chúng ta phải nghiên cứu giống cây có thể thích ứng với vùng ngập mặn và cho năng suất cao...
Liên quan đến kế hoạch thực hiện sắp tới, Chị Nguyễn Phước Bình Thanh - Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan đưa ra ý kiến: "Chúng ta phải làm rõ tầm nhìn trong từng giai đoạn: 10 năm, 20 năm... Làm rõ hơn về cách tiếp cận, tiếp cận trong khu vực, quốc gia không chỉ làm giảm thiểu mà cả vấn đề thích ứng, ngăn chặn... Cần có sự tham gia của nhà nước và nhân dân cùng làm".
Còn theo ông Rolf Samuelsson - Đại sứ quán Thụy Điển "Chúng ta cần quán triệt và kết hợp với nhau hơn nữa để giải quyết vấn đề này. Chính phủ phải là người đứng đầu trong việc phối hợp vấn đề này và đặt ra mục tiêu hành động cụ thể. Một vấn đề quan trọng nữa là chúng ta phải nâng cao nhận thức của các nhà lãnh đạo và người dân. Chúng ta giáo dục cho con cháu chúng ta lãnh trách nhiệm này trong tương lai và không làm cho con cháu chúng ta hoảng sợ".
Liên quan đến lộ trình thực hiện và kinh phí, thứ trưởng Học cho biết: "Dự kiến, đến tháng 6 tới, Ban Chỉ đạo sẽ hoàn thành báo cáo trình lên Bộ và Thủ tướng Chính phủ cùng với các vấn đề biến đổi khí hậu chung của cả nước. Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ hình thành kinh phí và lộ trình thực hiện, trở thành chương trình hành động chung của cả nước".
Nội dung, nhiệm vụ đề cương chương trình hành động giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu ngành NN&PTNT:
Thiết lập hệ thống thông tin, website về biến đổi khí hậu (BĐKH).
Tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề, các lớp đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, thu thập, xử lý thông tin.
Xây dựng Trung tâm lưu trữ BĐKH, triển khai thực hiện chương trình nghiên cứu về tác động của BĐKH, đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH.
Ứng dụng các công nghệ hiện đại trong sử dụng, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên như rừng, đất, nước.
Tiếp tục tiến hành rà soát, đối chiếu có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách của ngành.
Xây dựng mới quy trình, quy phạm quản lý chuyên ngành, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng các hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nông thôn.
Xây dựng cơ chế phối kết hợp giữa các bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương và cơ chế quản lý các chương trình, dự án.
Rà soát việc quy hoạch các hệ thống hạ tầng cơ sở nông nghiệp, nông thôn, các hệ thống canh tác sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hệ thống phòng chống giảm nhẹ thiên tai...
Tổ chức các hoạt động kinh tế, chuyển giao công nghệ để bảo vệ, quản lý, phát triển và sử dụng tổng hợp các loại tài nguyên đất, nước, rừng. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giảm nhẹ tác động và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ngọc Huyền

Những lỗ hổng trong kịch bản ứng phó biến đổi khí hậu của Việt Nam

TTCT - Là một trong năm nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng, với vùng hạ lưu sông Mekong - một trong ba vùng châu thổ trên thế giới được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do BĐKH, VN lại đi sau rất nhiều quốc gia trong việc xây dựng kịch bản ứng phó BĐKH.
Mưa lớn, lũ lụt chưa từng có trong hơn 100 năm qua ở miền Trung vào năm 2010 - Ảnh tư liệu TTXVN
Cho đến nay VN vẫn đang hoàn thiện giai đoạn 1 chương trình quốc gia chống BĐKH (chuẩn bị về thể chế, tổ chức, kế hoạch, cơ chế quản lý, các nguồn lực cần thiết...), đi sau một bước so với các quốc gia tiên tiến.
Nước Pháp chẳng hạn, chẳng những đã hoàn thành các mặt về thể chế, kế hoạch hành động mà còn tham gia đầy đủ các tổ chức liên kết khoa học chính trị quốc tế, sẵn sàng với một nguồn lực chuyên gia về chống BĐKH đủ để đáp ứng nhiệm vụ của chương trình.
Cuối tháng 7 vừa qua, khi công bố bản kế hoạch quốc gia với 230 biện pháp ban đầu sẽ được áp dụng đến năm 2015, tiêu tốn 170 triệu euro ngân sách về dự báo và hành động thích ứng với BĐKH, Bộ trưởng Sinh thái Pháp Nathalie Kosciusko-Morizet tuyên bố Pháp là nước đầu tiên ở châu Âu công bố chương trình này và quốc hội sẽ thông qua luật chống BĐKH vào cuối năm nay.   
Những thiếu hụt trong kịch bản ứng phó
Một kịch bản riêng cho VN để từ đó xây dựng một chương trình hành động chuẩn xác và đi đúng hướng là khuyến cáo của nhiều chuyên gia quốc tế, bởi những đặc thù khí hậu và BĐKH của nước ta.
Đã có không ít hội thảo khoa học bàn về BĐKH nhưng các cuộc gặp gỡ này vẫn ở tầm vĩ mô giữa các nhà hoạch định chiến lược, thiếu những dự án hợp tác cụ thể của các nhà khoa học. Trong mỗi dự án quốc gia hay khu vực về chống BĐKH, việc tham gia của các nhà khoa học đến từ nhiều lĩnh vực sẽ giúp đánh giá toàn diện và thống nhất về vấn đề, nhằm tránh những thiếu sót gây ra những thảm họa phái sinh khi triển khai phương án đã đề ra.
Bên cạnh đó, sự thiếu hụt trong trao đổi thông tin giữa giới khoa học và nhà quản lý ở nước ta cũng là một vấn đề cần phải cải thiện. Ở Pháp, công tác hỗ trợ chính sách công của khoa học rất được chú trọng, có thể thấy trong phát biểu của tiến sĩ Philippe Sergent, giám đốc Trung tâm nghiên cứu biển và sông ngòi (Bộ Sinh thái Pháp) trên tờ Figaro:
“Sắp tới, dự án GICC của chúng tôi sẽ giới thiệu một công cụ tự động dự báo hỗ trợ cho lãnh đạo địa phương, tùy theo mức độ nguy hiểm của những hiện tượng BĐKH đo đạc được, có thể đưa ra quyết định nhanh chóng trong việc tổ chức sơ tán dân trong trường hợp cần thiết. Nó cho phép chính quyền tái định cư dân chúng, điều tiết giao thông trong trường hợp đường sá đã bị phá hủy do bão...”.
Trong yếu tố phát triển bền vững, chúng ta đã tính tới tác động của BĐKH đến các mặt từ kinh tế - xã hội đến môi trường - sinh thái ở cả khu vực nông thôn lẫn đô thị, song không thể không tính đến việc bảo tồn di sản. Ở VN, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. Ngay cả trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó BĐKH, việc khoanh vùng di sản cần được bảo vệ vẫn còn khiếm khuyết.
Theo đánh giá của PGS.TS Vũ Văn Tuấn (Viện Khoa học khí tượng thủy văn và môi trường), VN có hơn 4 vạn di tích với mật độ khá dày đặc ở các trung tâm lịch sử - văn hóa. Do tác động của BĐKH, các di sản này có thể bị thay đổi do điều kiện nhiệt độ trong lòng đất thay đổi, do ngập nước. Sự gia tăng mực nước biển và hoạt động của bão ở vùng ven biển cũng gây nguy hiểm cho các di sản nằm dọc bờ biển, ven sông như các di sản ở miền Trung (Sa Huỳnh, Đa Bút, Quỳnh Văn...).
Thực tế đang cho thấy tác động của BĐKH tới khu di chỉ khảo cổ học Óc Eo (An Giang) rất đáng lo ngại. Do đó, không thể không tăng cường các hoạt động điều tra, giám sát, phân tích mức nhạy cảm... và tạo ra các vùng bảo vệ mới cho khu vực di sản này trong điều kiện BĐKH.
Cần Luật chống BĐKH
Theo quan sát, trong kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên - môi trường, những số liệu đo đạc về mực nước, nhiệt độ, lượng mưa... chúng ta hiện chỉ có từ năm 1960. Trong khi đó trên thế giới, cơ sở dữ liệu đều được đo đạc, tập hợp từ hơn 100 năm, nhờ đó những tính toán mang tính dự báo biến cố thảm họa sẽ có độ tin cậy cao hơn chúng ta rất nhiều.
Ngoài ra, trong các tính toán xây dựng công trình nói riêng và BĐKH nói chung ở nước ta, việc ứng dụng các công cụ tính toán xác suất thống kê hiện đại trong các dự báo khoa học có tầm nhìn quy hoạch 10, 20, 50, 100 năm dựa vào các số liệu đo đạc còn yếu, điều này làm giảm khả năng dự báo thảm họa cũng như đánh giá độ tin cậy của các công trình bảo vệ bờ.
Do đó, công tác điều tra, quan trắc sự biến đổi nhiệt độ, quy luật vận động của khí quyển và thủy quyển hiện tại ở VN cần áp dụng những thiết bị và công nghệ tiên tiến. Nhờ đó, kịch bản thảm họa với những biến cố ngẫu nhiên trong hiện tượng BĐKH sẽ được khống chế tốt, giảm thiểu những lãng phí và rủi ro đáng tiếc trong thiết kế, thi công và sử dụng công trình.
Cuối cùng, khi tiến hành các dự án khoa học, để tránh lãng phí trong đầu tư trùng lặp các nhiệm vụ nghiên cứu, phải chọn ra những khu vực tiêu biểu cho từng vùng miền từ Nam chí Bắc để tính toán, khảo sát kỹ lưỡng. Sau đó cần xuất bản ngay những quy phạm, tiêu chuẩn chống BĐKH và đưa vào Luật chống BĐKH.
Từ đó, những hệ thống công trình có quy mô to lớn, xây dựng bền vững lâu dài như tuyến đê biển Bắc - Nam, hệ thống công trình “sống chung với lũ” ở đồng bằng sông Cửu Long cần được hoạch định có căn cứ khoa học về tuyến, về nền móng để những công việc được thực hiện hiện nay còn được tiếp nối thuận lợi cho nhiều thế hệ mai sau.
Đối với VN - với tư cách là quốc gia đầu tiên đương đầu với tác động của BĐKH, việc học hỏi kinh nghiệm tư duy và cách tổ chức nghiên cứu của các nước tiên tiến về ứng phó BĐKH để áp dụng vào tình hình thực tế của mình đòi hỏi những nỗ lực rất lớn, trên tinh thần phê bình khoa học nghiêm túc.
Dẫu cho “chàng Thủy Tinh” ngày nay có hung hãn hơn xưa nhiều lần, chúng tôi tin rằng với xu thế toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế trong nỗ lực chống BĐKH toàn cầu cùng sự quan tâm của Chính phủ và sự đồng thuận của toàn dân, chúng ta sẽ giảm thiểu những mối lo từ thiên nhiên, biến sức mạnh của biển phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước.
“BĐKH đang từng ngày từng giờ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi người dân VN từ Nam chí Bắc. Nó không chỉ tác động tiêu cực vào quá trình phát triển của đất nước ta trong ngắn hạn, nhất thời mà có thể biến những nỗ lực trong suốt mấy nghìn năm của cha ông ta nhằm tạo ra một mảnh đất mưa gió thuận hòa cho con cháu sinh tồn và phát triển trở thành một khu vực có thể bị nhấn chìm trong thế kỷ tới, nếu không có những giải pháp quyết liệt và kịp thời”.
Thông tin về thực trạng BĐKH quốc gia đến người dân là không thể xem nhẹ và có nhiều hình thức phong phú cho nó. Ví dụ lắp đặt các hệ thống cập nhật tình hình BĐKH toàn quốc (tình hình lũ lụt trên các sông, lượng sóng tràn qua đê biển phòng hộ cũng như mức độ khô hạn của khu vực rừng quốc gia) ở những thành phố lớn, thêm chuyên mục BĐKH vào các chương trình dự báo thời tiết trên các báo, đài...
NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH (*)

Sử dụng phương pháp GIS trong lập Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (DMC)

Hầu hết các bước trong quá trình tiến hành đánh giá ĐMC đều có thể ứng dụng GIS. GIS là phương pháp chồng chập một số lớp thông tin lên bản đồ địa lý khu vực được lập bằng kỹ thuật số để rút ra lớp thông tin tổng hợp có thể định lượng
Hầu hết các bước trong quá trình tiến hành đánh giá ĐMC đều có thể ứng dụng GIS. GIS là phương pháp chồng chập một số lớp thông tin lên bản đồ địa lý khu vực được lập bằng kỹ thuật số để rút ra lớp thông tin tổng hợp có thể định lượng. Hiển thị các vấn đề MT, có thể tính toán định lượng nhiều thông số, có chiều thời gian
Việc áp dụng GIS trong quá trình tiến hành đánh giá ĐMC được xác định với các bước psau là phù hợp nhất, đó là các bước: Xác định phạm vi ĐMC cho CQK; Xác định các vấn đề môi trường cốt lõi và các mục tiêu môi trường có liên quan đến CQK; Phân tích các xu hướng môi trường khi không có CQK; Đánh giá các xu hướng môi trường trong tương lai khi triển khai các hoạt động đề xuất trong CQK. Với mỗi bước, việc ứng dụng GIS sẽ mạng lại những lợi ích riêng của nó. Để đảm bảo rằng các kết quả phân tích được đưa lên bản đồ thông qua kỹ thuật GIS vừa mang tính chính xác, vừa minh tính trực quan, người sử dụng GIS phải thành thạo các kỹ năng lập một bản đồ chuyên đề và kết hợp với các kết quả phân tích về ĐMC.
Với mỗi bước, các kết quả được thể hiện trên bản đồ là khác nhau, chính vì vậy cần phân lớp một các chính xác, dễ nhớ, dễ hiểu đối với mỗi cá nhân. Các lớp bản đồ cần được làm nhanh chóng sau khi kết thúc các bước, việc lưu lại kết quả một cách nhanh chóng, kịp thời và chính xác sẽ giúp cho nhóm đánh giá ĐMC có đầy đủ tư liệu để đưa ra những đánh giá chính xác. Một vấn đề, đó là sự thiếu dữ liệu cần thiết để có thể đưa vào bản đồ một cách chính xác. Để giải quyết việc này, cần có sự tư vấn của các chuyên gia chuyên ngành để có thể đưa ra một sự phỏng đoán tạm thời.
Cụ thể việc ứng dụng GIS trong các bước phân tích ĐMC được trình bày chi tiết dưới đây:
+ Nội dung phương pháp
Chồng chập một số lớp thông tin lên bản đồ địa lý khu vực được lập bằng kỹ thuật số để rút ra lớp thông tin tổng hợp có thể định lượng.
+ Ưu điểm
Hiển thị các vấn đề môi trường, có thể tính toán định lượng nhiều thông số, có chiều thời gian.
+ Nhược điểm
Đòi hỏi kỹ năng GIS của chuyên gia, tốn thời gian và kinh phí, vấn đề “chất lượng thông tin đầu ra phụ thuộc vào chất lượng thông tin đầu vào” nhiều khi bị bỏ qua.
Một số ví dụ:





http://ipsard.gov.vn/dspr/images/2010/01/a1.bmp
Xác định rõ đâu là khu công nghiệp hiện có, các khu dân cư, khu đô thị:
Xác định đâu là vùng mặt nước phục vụ cho sinh hoạt hay tưới tiêu:
Xác định các diện tích có độ dốc lớn, có nguy cơ sảy ra xói mòn, lũ ống, lũ quét:
Việc xác định phạm vi của các vùng trên cần được đưa vào thành những vùng khác biệt về màu sắc và có ghi chú rõ ràng để có thể dễ truy suất dữ liệu khi cần.
Xác định các vấn đề môi trường cốt lõi và các mục tiêu môi trường có liên quan đến CQK
Việc xác định các vấn đề cốt lõi và xem xét xem nó sảy ra tại vùng nào là điều quan trọng. Đây chính là tiền đề để tiến hành cho các bước tiếp theo. Sau khi các vấn đề môi trường và các mục tiêu môi trường đã được xác định, việc cần tiến hành đối với kỹ thuật GIS là thể hiện các vấn đề môi trường đó lên bản đồ một cách trực quan nhất.
Xác định rõ đâu là vùng thường xuyên xảy ra lũ ống, lũ quét...:

Phân tích các xu hướng môi trường khi không có CQK
Việc phân tích xu hướng môi trường khi không thực hiện CQK là một các để so sánh những tác động đến môi trường của các hoạt động được CQK đề xuất. Việc phân tích này thường dựa và dữ liệu nền nhiều năm trước đó đề xây dựng một đường cong. Trong toán học, đường cong này có thể tăng lên như đối với các thông số môi trường tại một dòng sông, tại một khu đất… và cũng có thể giảm xuống như diện tích rừng phòng hộ, số lượng các loài động thực vật…
Nhưng khi ứng dụng GIS, toàn bộ các thông tin đó được thể hiện bằng màu sác và không gian. Việc đưa lên bản đồ này xu hướng các vấn đề cần cập đến các bản đồ có trong bước trước đây, đó là bước xác định các vấn đề môi trường cốt lõi. Nên lấy các thông tin từ bước này làm nền tảng, sau đó tùy theo sự phân tích các xu hướng đó trong tương lai mà ta có thể dùng màu khác đi để phân biệt
Kim Van Chinh

Ô nhiễm môi trường trong các làng nghề: Bức tranh lớn nhiều mảng đen

Kết quả khảo sát 52 làng nghề điển hình trong cả nước cho thấy, có đến 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ. Mức độ ô nhiễm của các làng nghề không những không giảm mà còn có xu hướng gia tăng. Hoạt động làng nghề gây tác động đến cả môi trườngkhông khí, nước, đất và con người.

  Ô nhiễm không khí
 Gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng là các làng nghề tái chế. Không chỉ phát sinh khí ô nhiễm do đốt nhiên liệu như CO, bụi... như các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, quá trình tái chế và gia công kim loại còn làm phát sinh hơi axit, kiềm (từ khâu tẩy rửa, làm sạch bề ngoài trước khi mạ), hơi một số oxit kim loại như PbO, ZnO, Al2O3 và ô nhiễm nhiệt. Các làng nghề tái chế mọc lên ngày càng nhiều, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.
 Tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, hàm lượng chất ô nhiễm thường tăng cao cục bộ xung quanh lò nung, có nơi hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3- 8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt đến 6,5 lần.
 Trong số các làng nghề thủ công mỹ nghệ, môi trường không khí xung quanh khu vực sản xuất của làng nghề chế tác đá bị ô nhiễm nghiêm trọng do bụi đá và tiếng ồn. Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ hoạt động chế tác đá còn chứa một lượng không nhỏ SiO2 rất có hại cho sức khỏe. Trong khi đó, tại làng nghề sản xuất mây tre đan, không khí thường bị ô nhiễm bởi SO2 (phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản phẩm mây tre đan). Tại tỉnh Thái Bình, nơi có 40/210 làng nghề làm mây tre đan, có tới 800 lò sấy lưu huỳnh thải ra lượng khổng lồ khí SO2 từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản phẩm mây tre đan.
 Sản xuất tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ phát sinh ô nhiễm không khí không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do sự phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải, chất thải rắn tạo nên các khí như SO2, NO2, H2S, NH3, CH4 và các khí ô nhiễm gây mùi tanh thối rất khó chịu, nhất là ở các cơ sở chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm.
 Ô nhiễm nước
 Chế biến lương thực, chăn nuôi, giết mổ gia súc, ươm tơ, dệt nhuộm... có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải ra khối lượng lớn nước thải với mức ô nhiễm hữu cơ rất cao. Trong đó phải kể đến hoạt động sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng với 60- 72% nước thải (phát sinh từ khâu lọc tách bã và tách bột đen) có pH thấp, mức ô nhiễm BOD5, COD vượt TCVN 5945- 2005 loại B trên 200 lần. Khối lượng nước thải của các làng nghề này có nơi đạt 7.000 m3/ngày với thải lượng BOD5 lên tới 44 tấn/ngày không qua xử lý đã xả trực tiếp vào môi trường.
 Dệt nhuộm sử dụng lượng hóa chất lớn. Khoảng 85- 90% lượng hóa chất này hòa tan nước thải. Kết quả phân tích mẫu nước cho thấy độ màu có nơi lên tới 13.000 Pt- Co, hàm lượng COD, BOD5 gấp 2- 15 lần TCVN, đặc biệt Coliform vượt hàng nghìn lần TCVN. Ngược lại, một số ngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng... có nhu cầu nước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rất độc hại như các hóa chất, axit, muối kim loại, xianua và các kim loại nặng. Nước thải mạ có độ màu rất cao, đặc biệt hàm lượng các kim loại nặng như Cr6+, Zn2+, Pb2+ lớn hơn từ 1,5- 10 lần tiêu chuẩn cho phép.
 Chất thải rắn
Đối với các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ, chất thải rắn giàu chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học gây mùi xú uế. Với sản lượng 52.000 tấn tinh bột/năm, làng nghề Dương Liễu phát sinh tới 105.768 tấn bã thải, phần không nhỏ cuốn theo nước thải gây bồi lắng hệ thống thu gom, các ao hồ trong khu vực và gây ô nhiễm nghiêm trọng nước mặt, nước dưới đất. Ngoài ra, việc đốt than làm nhiên liệu cũng tạo ra lượng lớn xỉ.
 Làng nghề may gia công, da giày tạo ra chất thải rắn như vải vụn, da vụn gồm da tự nhiên, giả da, cao su, chất dẻo• với lượng thải lên tới 2- 5 tấn/ngày (làng nghề Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, Hải Dương tới 4- 5 tấn/ngày). Đây là loại chất thải rất khó phân hủy nên không thể xử lý bằng chôn lấp. Từ nhiều năm nay loại chất thải rắn này chưa được thu gom xử lý mà đổ khắp nơi trong làng, gây mất mỹ quan và ảnh hưởng tới môi trường sinh thái.
Các làng nghề tái chế cũng tạo ra lượng chất thải không nhỏ. Làng nghề tái chế giấy Dương Ổ- Bắc Ninh thải ra 4- 4,5 tấn chất thải/ngày, làng tái chế nhựa Trung Văn và Triều Khúc thải 1.123 tấn/năm... Cho đến nay các chất thải rắn này vẫn chưa được xử lý triệt để.
Nguồn gốc ô nhiễm từ đâu?
Đặc trưng công nghệ sản xuất và thiết bị ở các làng nghề phần lớn lạc hậu, chắp vá. Các cơ sở sản xuất tại làng nghề không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi nhuận trước mắt, nên thường sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại (kể cả đã cấm sử dụng) để nhằm hạ giá thành sản phẩm. Trình độ người lao động ở các làng nghề, chủ yếu là lao động thủ công, văn hóa thấp. Những yếu tố này dẫn tới hậu quả là hoạt động sản xuất tiêu hao nhiều nhiên nguyên liệu, làm tăng phát thải các chất ô nhiễm môi trường.
 Có một vấn đề đáng quan tâm: Ô nhiễm tại các làng nghề do chính sách không theo kịp thực tế.  Vấn đềà bảo vệ môi trường làng nghề đã được đề cập tại nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước như Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010, Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam... Luật BVMT là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực môi trường, trong đó có một điều riêng (Điều 38) về BVMT làng nghề. Tuy nhiên, đến nay chưa có một văn bản dưới luật nào hướng dẫn thực hiện các nội dung về BVMT làng nghề. Cũng chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về việc các làng nghề phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung, phải có các biện pháp giảm thiểu phát sinh khí thải• cũng như quy định theo các đặc thù riêng của mỗi loại hình sản xuất làng nghề.
 Mặc dù có phân công trách nhiệm, song vẫn còn sự chồng chéo và không rõ ràng về vai trò, trách nhiệm trong việc BVMT làng nghề giữa các bộ, ngành và giữa bộ, ngành với địa phương, dẫn đến việc thiếu các hướng dẫn, định hướng và hỗ trợ cụ thể trong sản xuất tại các làng nghề theo hướng bền vững. Ở cấp địa phương, vai trò của các cấp chính quyền sở tại trong quản lý môi trường làng nghề còn mờ nhạt. Đã có nhiều chính sách, văn bản được ban hành ở các cấp, song không thực thi ở các làng nghề, ví dụ như vấn đề thu phí BVMT đối với nước thải, chất thải rắn hay việc xử phạt các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ở làng nghề...
 Trình độ dân trí thấp của làng nghề cũng ảnh hưởng rất nhiều đến công tác BVMT. Cho đến nay, công tác tuyên truyền và giáo dục về môi trường chưa thực sự được chú trọng tại các làng nghề.
Hồng Anh- Hồng Hạnh

Đất không bao giờ có thể xạch nếu không có giải pháp sử lý tách chiết bằng biện pháp hóa học hoặc sinh học


 http://www.baobinhdinh.com.vn/chinhtri-xahoi/2008/10/66808/images/images72336_32.JPG
Các loại đất ô nhiễm kim loại nhẹ có thể được làm sạch bằng cách trồng các cây trồng có năng suất cao cho tới khi chúng đạt được tiêu chuẩn quốc gia về đất sạch. Tuy nhiên qúa trình đó sẽ dẫn đến rất nhiều sinh khối bị ô nhiễm nhẹ. Những sinh khối này thì không được trộn lẫn với các chất không bị ô nhiễm để cung cấp cho động vật và con người. Sinh khối ô nhiễm này có thể giảm về số lượng và dung lượng bằng cách phân huỷ có kiểm soát. Trong qúa trình làm sạch cần chú ý giữ lại các kim loại bay hơi.
Các loại đất ô nhiễm nặng có thể làm sạch bằng cách trồng cây có khả năng chống chịu kim loại ở vùng đất đó, chuyển các sinh khối sau mỗi vụ mùa và chiết tách kim loại một cách cẩn thận từ sinh khối này và tái chế kim loại lấy được cho các mục đích công nghiệp. Quá trình này chỉ có hiệu quả lâu dài thường là hàng trăm, hàng triệu năm. Quá trình này có thể được phát triển dần khi các yếu tố hạn chế tăng trưởng  khác thường có trong các loại đất bị ô nhiễm KLN được cải thiện. Độ chua của đất có thể được giảm bớt nếu dùng đá phấn nhưng cùng lúc đó thì khả năng dễ tiêu của kim loại với cây trồng cũng giảm đi do đó kéo dài thời gian làm sạch ô nhiễm. Có thể dùng các vòi phun cho các loại đất thiếu nước nhưng cần phải chú ý tới việc di chuyển kim loại  tới các lớp đất sâu hơn hoặc chảy vào các hệ sinh thái khác. Nếu đất thiếu các loại chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng có thể bón phân nhưng sự bổ sung photpho có thể làm mất khả năng dễ tiêu của kim loại tới cây trồng và do đó làm giảm hiệu quả của quá trình làm sạch.
Thế oxy hoá khử và các loài cây trồng có ảnh hưởng đến sự hấp thụ KLN. Nhìn chung đối với Ni người ta đã chứng minh rằng tỷ lệ hấp thu của cây trồng mà điển hình là cây Avena sativa, lại liên quan tới nồng độ của cacbon hữu cơ hoà tan trong dung dịch đất. Đối với cỏ, điều quan trọng là phải nhận thấy các loại cỏ giải phóng ra các hợp chất có chứa sắt không chỉ ảnh hưởng tới sự hấp thu sắt mà còn ảnh hưởng tới việc hấp thu các KLN khác nữa.
Quá trình làm sạch đất nhờ các vi sinh vật, đặc biệt là Thiobacillus ferrooxidans là một kỹ thuật nổi tiếng từ việc tách các kim loại vì mục đích khai khoáng. Đối với việc làm giảm ô nhiễm đất, người ta chưa phát triển được quy trình hoàn thiện. Cải tạo đất bằng cách xử  lý nhiệt hoặc theo phương pháp tách hoá học các kim loại là một kỹ thuật dẫn tới các vật liệu làm sạch từng phần. Sử dụng giun đất (Eisenia foetida), rau diếp (Lactuica sativa) và của cải (Raphanus satius)  như các sinh vật để làm sạch, đất có hoặc không có thêm phân trộn và ủ trong vài tháng dẫn tới sự tăng trưởng của thực vật không chấp nhận được. Mặc dù bất chấp sự tách chiết các kim loại, khả năng dễ tiêu sinh học kim loại của đất được làm sạch tăng một cách đáng kể so với nồng độ tổng số. Kết quả cuối cùng, nồng độ Cd của rau diếp và củ cải vượt quá nồng độ cho phép. Tóm lại, sự lưu giữ lại của các loại đất bị ô nhiễm bởi cây trồng thì bị cản trở mạnh mẽ do các yếu tố chưa xác định. Ngoài ra thì người ta không biết gì thêm về các kim loại được tách  ra từ đất.

Ứng dụng GIS thống kê và phân tích số liệu tuyển sinh hàng năm tại trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật Phú Lâm

hạc sĩ Hồ Nguyễn Cúc Phương
Tiến sĩ Trần Trọng Đức (*)
Phòng QHHT&NCPT trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Phú Lâm
(*) Bộ môn Địa tin học, Đại học Bách Khoa TPHCM
Tóm tắt: Những năm học vừa qua bên cạnh công tác giảng dạy, các trường Cao đẳng đại học đều thực hiện công tác tuyển sinh, nhằm làm công tác PR thu hút học sinh thi vào trường mình. Để đánh giá tổng kết lại công tác tuyển sinh nhằm đề ra mục tiêu phấn đấu cho năm học sau, các trường Đại học, Cao đẳng phải thực hiện công việc phân tích số liệu tuyển sinh phải dựa trên số liệu cụ thể về tổng số học sinh đăng ký tại các tỉnh thành,  số liệu thí sinh đăng ký vào từng ngành, từng khối thi, số lượng thí sinh là người dân tộc, số liệu thi sinh theo từng khu vực… Khi xử lý các số liệu này, để trực quan hơn chúng ta đều phải vẽ biểu đồ thống kê, phân tích được tình hình tuyển sinh theo từng năm, từ đó qua phân tích số liệu chúng ta sẽ tìm được giải pháp tốt nhất cho mùa tuyển sinh năm sau.
Ứng dụng Gis trong công tác thống kê và phân tích số liệu tuyển sinh, là một chương trình có những chức năng: thống kê, hiển thị, phân tích và tìm kiếm số liệu… liên quan đến thông tin tuyền sinh. Qua đó giúp nhà trường có cái nhìn cụ thể,  đánh giá về tình hình tuyển sinh trong những năm học vừa qua, từ đó đề ra chiến lược phát triển, tuyển sinh mới một cách có hiệu quả hơn.
Abtracts:
GIS Application in statistical and analysis data of enrollment is a program that features: statistics, display, analysis and search data … that related to information of enrollment. This program helps leader of Ptec to look at specific about view of enrollment, assess the situation of enrollment in the past school year, which set up the development strategy, recruitment of new, more effective way.
Từ khóa: GIS, spatial statistics, mapping.
1 ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay trên thế giới, đã nhận thức được tầm quan trọng của dữ liệu không gian trong việc tìm hiểu và khai thác thế giới tự nhiên trên quy mô lớn một cách có kế hoạch. Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học nổi bật liên quan đến GIS và được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới. Thông qua chức năng thu thập, quản lý phân tích và tích hợp các thong tin gắn liền với một nền hình học nhất quán. Trên thế giới cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng Gis, nhưng chủ yếu là ở lĩnh vực quản lý thông tin kinh tế, xã hội, môi trường. Trong lĩnh vực giáo dục thì Gis chỉ mới áp dụng trong chuyên môn dạy và học các môn địa lý, lịch sử, môi trường…
- Các tác giả Chengming LI, Zhongjian LIN, Jie YIN [1], đã xây dựng một phần mềm PGIS để phục vụ cho quá trình quản lý dân số ở tỉnh Hebei, thành phố Langfang (gần Bắc Kinh), Trung Quốc. Tuy nhiên, chỉ một số chức năng tìm kiếm đơn giản được trình bày trong bài báo đó.
- Để nghiên cứu quản lý thông tin dân số ởNigeria, tác giả Olubodun và cộng sự [2] đã sử dụng phần mềm ArcView 3.1. Các tác giả đã dùng chức năng truy vấn có sẵn trong GIS, sử dụng số liệu dân số để thể hiện lên bản đồ, ví dụ như một số câu truy vấn sau: tìm những khu vực có hơn 45% dân số dưới 15 tuổi; tìm các khu vực có tỷ lệ dân số biết chữ thấp…. Nhưng nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở các phân tích dựa trên từng tiêu chí đơn.
- Tác giả Marc Futtermen [3] ở thành phốGlendale(thành phố lớn thứ ba của LosAngeles) thì nghiên cứu ứng dụng GIS sử dụng thông tin dân số để tìm vị trí thích hợp mở thêm các thư viện công cộng. Hình 1, 2, 3 minh họa việc sử dụng chức năng phân loại và thể hiện biểu đồ trong GIS để biểu diễn kết quả phân tích này.
Ở nước ta việc ứng dụng Gis vào các hoạt động kinh tế văn hóa, xã hội ít nhiều vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên hiện nay, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã có hệ thống thông tin địa lý từ quy mô đơn giản đến cấp cao phục vụ cho việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, du lịch…
 Tuy có một số công trình nghiên cứu, nhưng hiện tại chỉ có một số ít đề tài liên quan đến lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam chủ yếu là ứng dụng Gis trong quản lý và cũng chưa tìm thấy nhiều đề tài ứng dụng trong việc tổ chức, phục vụ kỳ thi Cao đẳng đại học nói chung và phân tích số liệu tuyển sinh cụ thể của từng trường nói riêng.
Trong quá trình công tác tại trường Cao Đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Phú Lâm tôi có một vài nhận xét, trường đã thành lập được 3 năm và đã tuyển sinh được 3 khóa với số lượng gần 2000 Sinh viên. Hằng năm, nhà trường đều thực hiện công tác tuyển sinh tại các tỉnh thành bạn, nhằm quảng bá và thu hút học sinh dự thi hoặc đăng ký xét tuyển vào trường. Kinh phí phải chi cho công tác tuyển sinh này rất lớn. Ước tính năm 2010, trường đã tuyển đủ chỉ tiêu là 1000 Sinh viên, nhưng công tác tuyển sinh, chiêu sinh, quảng bá đã chiếm đến khoảng 500 triệu đồng. Như vậy, với mỗi sinh viên vào học tại trường, trường đã chi khoảng 500 ngàn. Đây là một con số rất lớn, gây tốn kém trong ngân sách của nhà trường. Để việc tuyển sinh có hiệu quả hơn, cần có sự phân tích về số liệu tuyển sinh những năm đã qua, qua đó rút kinh nghiệm và đưa ra những chiếc lược mới để giảm tối đa chi phí tuyển sinh cũng như thu hút nhiều học sinh hơn nữa vào trường.
Với những ý nghĩa lý luận như thế, tôi đề xuất xây dựng chương trình Ứng dụng GIS để thống kê số liệu tuyển sinh.
Chương trình ra đời sẽ giải quyết những vấn đề sau:
- Cho phép nhập và in báo cáo dữ liệu tuyển sinh theo từng năm
- Hiển thị trên bản đồ số liệu tuyển sinh của từng tỉnh thành. Trên mỗi tỉnh thành, sử dụng phương pháp phân vùng trong bản đồ học người sử dụng sẽ thấy các màu sắc khác nhau của các tỉnh thành theo số liệu tuyển sinh.
- Thống kê số liệu tuyển sinh theo từng tiêu chí (theo giới tính, theo dân tộc, theo ngành, theo khối thi, theo tỷ lệ đậu/rớt…) dưới dạng biểu đồ.
- Tìm kiếm thông tin tuyển sinh của trường.
Với những chức năng trên của chương trình, sau khi phân tích số liệu tuyển sinh, sẽ giúp nhà trường có cái nhìn cụ thể, đánh giá về tình hình tuyển sinh trong những năm học vừa qua, từ đó đề ra chiến lược phát triển, tuyển sinh mới một cách có hiệu quả hơn.
2. MÔ HÌNH HỆ THỐNG:          
2.1 Nghiên cứu mô hình Geodatabase – Xây dựng cơ sở dữ liệu cho chương trình [5]:
  Geodatabase là mô hình dữ liệu vector được giới thiệu cùng ArcGis, là một sơ sở dữ liệu quan hệ chứa thông tin địa lý trong đó đối tượng được lưu trữ trong  các lớp đối tượng (feature class) và các bảng (table). Số liệu thống kê tuyển sinh được tổ chức dưới dạng Geodatabase. Dữ liệu có 2 phần chính: dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính.
2.1.1 Dữ liệu thuộc tính:
Thu thập các số liệu tuyển sinh của từng năm học của trường. Dữ liệu này hàng năm được Bộ giáo dục và đào tạo chuyển về trường sau khi hết hạn nhận hồ sơ tuyển sinh và sau khi có kết quả tuyển sinh đại học, cao đẳng trong từng năm học. Sau khi thu thập các sơ đồ, số liệu, tiến hành xây dựng CSDL thông tin địa lý (Geodatabase) để lưu trữ dữ liệu.
                  2.1.2 Dữ liệu không gian:                 
Dữ liệu không gian bao gồm là dữ liệu về ranh giới hành chánh, giao thông, địa vật…:
Gồm các lớp tỉnh (thành), Ranh giới, Loại ranh giới, Con đường, Giao thông, Con sông, điạ vật
 Các bước xaây döïng cô sôû döõ lieäu
-        Thieát keá cô sôû döõ lieäu döïa theo moâ hình höôùng ñoái töôïng.
-        Duøng phaàn meàm Visio ñeå thieát keá cô sôû döõ lieäu.
-        Chuyeån cô sôû döõ lieäu sang dạng Micorsoft Access.
-        Duøng Schema Wizard trong ArcCatalog ñeå xaây döïng Geodatabase
 Þ Sau khi coù soá lieäu vaø cô sôû döõ lieäu, tieán haønh tham khaûo yù kieán chuyeân gia veà baûn ñoà. Sau khi tham khaûo, tieán haønh xaây döïng ñeà cöông cho caùc baûn ñoà chuyeân ñeà.
2.2. Nghiên cứu phương pháp thống kê và phân tích không gian được áp dụng để thành lập bản đồ chuyên đề[4].
-  Sử dụng phần mềm ArcGis để vẽ bản đồ Việt Nam (số hóa) và vẽ các đường ranh giới của các tỉnh thành. Hình vẽ  được lưu dưới dạng các điểm toạ độ vào trong CSDL không gian.
 - Sử dụng các loại biểu đồ hình cột, hình bánh trong việc thể hiện các số liệu thống kê. Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ so sánh do hiển thị được số liệu cụ thể,  được hỗ trợ phân biệt bằng các màu sắc khác nhau.
- Nghiên cứu sử dụng phương pháp nền chất lượng để thể hiện số lượng thí sinh dự thi của tỉnh, thành. Phương pháp này söû duïng kieåu neàn, maøu saéc ñeå theå hieän caùc ñoái töôïng. Phương pháp này có thể định vị được chính xác vị trí của đối tượng, định tính dựa vào màu sắc thể hiện.
  2.3. Nghiên cứu phần mềm Arc Gis – Xaây döïng chöông trình.
Döïa vaøo phaàn meàm ArcGis vaø keát hôïp vôùi visualbasic ñeå xaây döïng chöông trình. Chöông trình phaûi taïo ñieàu kieän thuaän lôïi cho vieäc: caäp nhaät, löu tröõ, phaân tích vaø hieån thò keát quaû.
Chương trình gồm các chức năng sau:
2.3.1 Cập nhật và hiển thị thông tin tuyển sinh trên các tình thành:
Cập nhật dữ liệu đăng ký dự thi và số liệu kết quả tuyển sinh hằng năm theo các tiêu chí khác nhau, thông tin được hiển thị dưới dạng bảng và trên bản đồ.
2.3.2 Tìm kiếm thông tin:
      Tìm kiếm và hiển thị số liệu thí sinh đăng ký dự thi và số liệu kết quả tuyển sinh hằng năm theo các tiêu chí khác nhau. Kết quả tìm kiếm được hiển thị dưới dạng bảng và trên bản đồ.
2.3.3 Thống kê số liệu tuyển sinh:
         Thống kê các số liệu tuyển sinh hằng năm theo các tiêu chí khác nhau. Thông tin được hiển thị trên bản đồ bằng các màu sắc khác nhau của các tỉnh thành, thể hiện số liệu thí sinh dự thi của tình, thành đó. Đối với từng tiêu chí riêng thì kết quả thống kê sẽ hiển thị trên bản đồ bằng biểu đồ cột hoặc biểu đồ hình bánh. Ngoài ra, số liệu thống kê còn được hiển thị dưới dạng bảng.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở phân tích ở trên, các chức năng của hệ thống “Thống kê và phân tích số liệu tuyển sinh hằng năm tại trường cao đẳng Kinh té – Kỹ thuật Phú Lâm” được viết bằng ngôn ngữ lập trình vb.net kết hợp với sử dụng thư viện ArcObject của ArcGis. Các chức năng đã được thử nghiệm trên cơ sở dữ liệu Geodatabase. Dưới đây là một số kết quả minh họa cho một số chức năng chính của hệ thống.
3.1 Cập nhật và hiển thị thông tin:
-         Cập nhật dữ liệu thí sinh đăng ký dự thi hằng năm theo các tiêu chí: thí sinh nữ, thí sinh dân tộc, thí sinh dự thi theo khu vực…
-         Cập nhật dữ liệu thí sinh đăng ký dự thi hằng năm theo ngành thi, khối thi.
-         Cập nhật số liệu kết quả tuyển sinh, xét tuyển của trường của các năm học kế trước.
-         Thông tin được hiển thị theo dạng bảng và hiển thị giá trị trên bản đồ.
3.2 Tìm kiếm thông tin
-         Tìm kiếm thông tin về thí sinh dự thi hằng năm theo các tiêu chí: địa phương, dân tộc, khu vực, ngành, khối…
Ví dụ: tìm những địa phương số lượng thí sinh dự thi > 200
-          Tìm kiếm thông tin kết quả thi tuyển, xét tuyển vào trường theo các tiêu chí: địa phương, dân tộc, khu vực, ngành, khối…. 
-         Hiển thị thông tin tìm kiếm trên bản đồ.
3.3 Thống kê số liệu tuyển sinh:
-         Số liệu thí sinh đăng ký dự thi, kết quả thi tuyển, xét tuyển sẽ được thống kê theo từng tiêu chí đưa ra, theo từng năm.
-         Hiển thị bản đồ thống kê giữa các tỉnh thành với nhau, giữa các năm với nhau
-         Hiển thị số liệu thống kê trên bản đồ bằng các biểu đồ hình cột hoặc hình bánh
4. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ:
Chương trình ứng dụng Gis vào trong việc thống kê số liệu tuyển sinh cho phép người sử dụng xem, tra cứu thông tin tuyển sinh dễ dàng, giảm thời gian tra cứu số liệu tuyển sinh.
Hiển thị những thông tin một cách trực quan trên nền bản đồ giúp người sử dụng thông qua chương trình có thể phân tích được số liệu tuyển sinh một cách nhanh chóng.
Hiển thị các số liệu thống kê lên trên bản đồ người sử dụng dễ dàng nắm bắt thông tin, so sánh số liệu tuyển sinh của từng năm học với nhau.
Giúp người sử dụng dễ dàng phân tích được số liệu qua đó dẽ dàng hơn trong việc đưa ra chiến lược tuyển sinh cho các năm học sau.
 Tôi đã viết một vài chương trình cho phép hiển thị nội dung trên bản đồ chuyên đề, hiển thị kết quả thống kê hoặc tra cứu theo yêu cầu trên nền bản đồ, kết quả khá tốt được người sử dụng chấp nhận và đánh giá tốt. Trên nền bản đồ, người sử dụng sẽ dễ dàng phân biệt, nhận xét được kết quả hiển thị nhờ màu sắc và các công cụ tích hợp trên bản đồ như ký hiệu, biểu đồ…vì thế chương trình trở nên sinh động, gần gũi và thân thiện hơn.
Lĩnh vực GIS còn khá mới mẽ, để hiểu và sử dụng hết những ứng dụng của nó cần phải có thời gian lâu dài đầu tư nghiên cứu.
Chương trình này chỉ là một phần nhỏ trong những ứng dụng của GIS và với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, chương trình viết ra chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, chưa đáp ứng hết những mong mỏi đặt ra. Nhưng trên hết tôi mong muốn được giới thiệu một lĩnh vực áp dụng nữa của Gis, để người sử dụng có thể so sánh với các chương trình khác nhằm tìm ra một chương trình kết hợp hoàn thiện nhất.
5. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chengming LI, Zhongjian LIN, Jie YIN, Investigation on Application of GIS in Population anagement,China, 2002.
2. Prof. Olubodun O. AYENI and Oluwaseun S. ADEWALE, GIS Queries for Population Data Analysis and Management,Nigeria, 2002.
3. Marc Futtermen, The Glendale Public Library Uses GIS to Plan the Future, http://www.esri.com/industries/libraries/success-stories/case_studies.html
4. Traàn Taán Loäc – Leâ Tieán Thuaàn, Baûn ñoà hoïc chuyeân ñeà, NXB Ñaïi hoïc quoác gia TP. Hoà Chí Minh 2004.
5. TS Trần Trọng Đức, GIS căn bản, Phân tích không gian, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh 2010.
Hồ Nguyễn Cúc Phương
DT:0918279760
 Nguồn: http://vietan-enviro.com

5 ứng dụng tiêu biểu của GIS

 http://www.water.ca.gov/climatechange/images/climate-change2.jpg
GIS (Geographic information Systems: Hệ thống thông tin địa lý) là một hệ thống có khả năng thu nhập, lưu trữ, phân tích và hiển thị dữ liệu về các đối tượng, các hiện tượng, các sự kiện theo không gian và thời gian. (theo Trung tâm DITAGIS). Trong nông nghiệp, với những dữ liệu GIS có thể được sử dụng để theo dõi sự phát triển của cỏ dại, sâu bệnh phá hoại mùa màng, thể hiện loại đất, hạn hán, lũ lụt và rất nhiều các yếu tố khác giúp quản lý quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển nông thôn. Thông tin đưa vào GIS có thể lấy từ dữ liệu viễn thám (ảnh hàng không, ảnh vệ tinh), bản đồ giấy, bản đồ số hoặc các thông tin thô đo được từ GPS và các dự liệu phi không gian khác. Một số ứng dụng của GIS trong phát triển nông nghiệp như sau:
1. Ứng dụng GIS trong quy hoạch sử dụng đất:
http://3.bp.blogspot.com/_aD62h_b-tWU/TJr4cnnEhoI/AAAAAAAAErc/x6op1rLHfhc/s1600/lu_planning.jpg
Một trong những ứng dụng quan trọng của GIS trong sản xuất nông lâm nghiệp là quy hoạch sử dụng đất Ứng dụng GIS trong quy hoạch và sử dụng đất đai tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ khác nhau. Có 4 mức độ phân tích: rất khái quát (Mega), khái quát (Macro), trung bình (Meso) và chi tiết (Micro); mỗi mức độ phân tích trong hệ thống GIS căn cứ vào quy mô diện tích của vùng nghiên cứu Khi phân tích thông tin từ mức Mega đến mức Micro, số lượng thông tin đưa vào xử lý sẽ lớn hơn. Khả năng tổng hợp và phân tích sâu thông tin ở một vùng lãnh thổ nhỏ hoặc ngược lại, khái quát ở mức cao hơn cho vùng rộng lớn là ưu điểm của GIS.
Bằng ứng dụng GIS, những quy hoạch sử dụng đất đai trên vùng lãnh thổ lớn hay việc xây dựng những dự án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở các khu vực nhỏ đều có thể được cung cấp một khối lượng thông tin toàn diện - tổng hợp kịp thời và theo yêu cầu; từ cơ sở dữ liệu được cung cấp việc hoạch định những bước đi cụ thể cần thiết (như điều tra bổ sung, thu thập mẫu…) nhanh chóng được xác định. Một điều quan trọng về GIS so với bản đồ là GIS có thể thể hiện từng lớp bản đồ của vùng nghiên cứu. Không chỉ ở bề mặt mà còn cho thấy tầng đá gốc, loại đất, thảm thực vật và nhiều vấn đề khác. Nó rất hữu ích khi nghiên cứu vùng đất mới cho sản xuất nông lâm nghiệp, đỡ tốn kém tiền của của nông dân, bởi vì thay vì phải làm thí nghiệm đất tất cả số liệu về cấu trúc đất bên trong đã được lưu trữ trong máy tính.
2. Ứng dụng trong quy hoạch và quản lý sản xuất:
http://i.baoxaydung.com.vn/stores/news_dataimages/hiep/042012/05/10/14.jpg
GIS có thể được sử dụng để dự đoán vụ mùa cho từng cây trồng. Nó có thể dự đoán bằng cách không chỉ xem xét khí hậu của vùng mà còn bằng cách theo dõi sự sinh trưởng và phát triển cây trồng, và bởi vậy sẽ dự đoán được sự thành công của mùa vụ. GIS có thể giúp tìm và thể hiện những thay đổi của cây trồng trong từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển.
Với tính ưu việt của công nghệ GIS và viễn thám, ngành lâm nghiệp đã ứng dụng trong công tác quy hoạch và phát triển rừng, phục vụ công tác thiết kế, khai thác và trồng mới rừng. Ngoài ra người ta còn sử dụng GIS trong việc theo dõi, đánh giá diễn biến tài nguyên rừng, xác định vùng thích nghi cho cây lâm nghiệp.
3. Ứng dụng GIS trong quản lý bảo vệ thực vật:
 http://quantracmoitruong.gov.vn/Portals/0/DULIEU/nang%20luc/EasyCapture21.jpg
Việc kết hợp ứng dụng viễn thám với GIS sẽ cung cấp một cách nhanh chóng, chính xác bản đồ cỏ dại ở các thời kỳ. Điều này là rất quan trọng đối với các nhà nông học. Họ có thể sử dụng các thông tin thu thập được để ngăn ngừa sự lan tràn của các loài cỏ dại phá hoại mùa màng. Cỏ dại không phải là vấn đề duy nhất GIS có thể giải quyết, thực tế GIS có thể giải quyết được nhiều vấn đề khác. Nó rất hữu ích như là một biện pháp phòng ngừa tích cực. Nếu một loại động vật hay côn trùng nào phá hoại đồng ruộng, với GIS nó có thể bị theo dõi và tìm ra dấu vết.
4. Ứng dụng trong công tác phòng chống cháy  và bảo vệ rừng:
http://media.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/bgkhoahoc/20110309/H1_T8A_Cong_nghe_vien_tham_se_phat_hien_chay_rung_nhanh_chong-_anh_UV.jpg
Công nghệ GIS đã được ứng dụng để: cảnh báo cháy rừng; phân vùng trọng điểm cháy rừng; ứng dụng ảnh viễn thám MODIS để phát hiện sớm cháy rừng. sử dụng công nghệ GIS để tô mầu các khu vực rừng có các cấp cảnh báo khác nhau và được cập nhật hàng ngày các thông số khí tượng: Nhiệt độ, độ ẩm không khí và lượng mưa từ hơn 100 trạm khí tượng trong toàn quốc. GIS có thể theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp là nắm vững diện tích các loại rừng, đất lâm nghiệp hiện có được phân chia theo chức năng sử dụng rừng và loại chủ quản lý; lập bản đồ hiện trạng rừng cấp xã tỷ lệ 1/25.000 hay 1/10.000 nhằm giúp hoạch định chính sách lâm nghiệp ở địa phương và trung ương phục công tác bảo vệ và phát triển rừng.
5.   GIS và công tác quản lý và hoạch định chính sách:
 http://miennui.files.wordpress.com/2011/10/g1.png?w=300&h=267
GIS được sử dụng để cung cấp thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn cho các nhà hoạch định chính sách. Các cơ quan chính phủ dùng GIS trong quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong các hoạt động quy hoạch, mô hình hoá và quan trắc Trung tâm tích hợp dữ liệu, quản lý các cơ sở dữ liệu cơ bản trên nền GIS và có thể tích hợp vào các không gian của các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác là nơi cung cấp thông tin tổng hợp nhất phục vụ các nhà hoạch định chính sách

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482