DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


GPS Thành phần, nguyên lý và các ứng dụng của hệ thống

I. GIỚI THIỆU:
Từ thời xa xưa, con người đã sử dụng thiên văn, la bàn và bản đồ để xác định vị trí và tìm đường trong các chuyến thám hiểm khai phá các miền đất lạ. 
Tuy nhiên phải đến năm 1995, khi các hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu GPS của Mỹ và GLONASS của Nga chính thức đi vào hoạt động, nhu cầu định vị dẫn đường mới được giải quyết một cách cơ bản.
Ngoài mục tiêu quân sự như ý tưởng thiết kế ban đầu, các hệ thống vệ tinh định vị đã được ứng dụng rộng rãi và hiệu quả trong nhiều lĩnh vực dân sự. Ngày nay, công nghệ định vị toàn cầu đã trở thành một ngành công nghiệp có doanh số hàng chục tỷ USD/năm và đang được phát triển mạnh mẽ.

Mô hình vệ tinh GPS
Hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu là một ví dụ tiêu biểu cho sự kết hợp giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ.

II. GPS LÀ GÌ?

NASTAR Global Positioning System (GPS) là hệ thống định vị dựa vào các vệ tinh. Nó có nhiều ưu điểm sau:
  • Độ chính xác định vị cao, từ decamet đến milimet.
  • Có sẵn cho người sử dụng bất cứ đâu trên trái đất.
  • Hoạt động liên tục 24h/ngày, trong mọi điều kiện thời tiết.
GPS trước tiên là một hệ thống hàng hải phục vụ cho mục đích quân sự. Nó được thiết kế, hỗ trợ tài chính, khai thác và điều khiển bởi Bộ quốc phòng Mỹ. Tuy nhiên GPS được cung cấp miễn phí cho người sử dụng dân sự ở một mức độ giới hạn.
GPS được thiết kế để thay thế cho hệ thống vệ tinh Doppler TRANSIT đã phục vụ tốt cho cộng đồng trắc địa và hàng hải trên 20 năm. Việc xây dựng thành công GPS là nhờ vào những thành tựu khoa học và kỹ thuật sau:
  • Độ tin cậy cao của hệ thống không gian.
  • Công nghệ đồng hồ nguyên tử độ chính xác cao.
  • Khả năng xác định và theo dõi vệ tinh một cách chính xác.
  • Công nghệ VLSI và quang phổ rộng.
III. CÁC THÀNH PHẦN CỦA GPS

Hệ thống GPS được chia làm 3 mảng: 
  • Mảng không gian: bao gồm các vệ tinh, chúng truyền những tín hiệu cần thiết cho hệ tống hoạt động.
  • Mảng điều khiển: Các tiện ích trên mặt đất thực hiện nhiệm vụ theo dõi vệ tinh, tính toán quĩ đạo cần thiết cho sự quản lý mảng không gian.
  • Mảng người sử dụng: toàn thể các thiết bị thu và kỹ thuật tính toán để cung cấp cho người sử dụng thông tin về vị trí.
Các thành phần cơ bản của GPS
1. MẢNG KHÔNG GIAN
Các chức năng chính của vệ tinh bao gồm: 
  • Thu nhận và lưu trữ dữ liệu được truyền từ mảng điều khiển.
  • Cung cấp thời gian chính xác bằng các chuẩn tần số nguyên tử đặt trên vệ tinh.
  • Truyền thông tin và tín hiệu đến người sử dụng trên một hay hai tần số.
Vệ tinh GPS
Các thế hệ vệ tinh GPS được đánh số Block I, II, IIA, IIR và IIF. 
Thế hệ vệ tinh đầu tiên là Block I được xây dựng bởi Rockwell International Corporation, nặng khoảng 800kg và tuổi thọ khoảng 5 năm. Block II và IIA cũng do công ty này xây dựng nhưng nặng đến 900 kg. Tuổi thọ của chúng khoảng 7.5 năm. Sự thay thế các vệ tinh Block II/IIA bằng Block IIR bắt đầu từ năm 1996. Những vệ tinh này công ty General Electric xây dựng. Block IIF vẫn đang trong giai đoạn thiết kế và dự định phóng lên quĩ đạo từ năm 2005.

Tính đến 2003 trên quĩ đạo có 26 vệ tinh Block IIA và IIR. Cấu hình quĩ đạo như sau:
  • Có 6 mặt phẳng quĩ đạo gần tròn.
  • Trên mỗi mặt phẳng quĩ đạo có 4 đến 5 vệ tinh.
  • Mặt phẳng quĩ đạo nghiêng so với xích đạo khoảng 55°.
  • Độ cao bay trên mặt đất xấp xỉ 20.200km.
Cấu trúc tín hiệu GPS
Mỗi vệ tinh truyền một tín hiệu hàng hải duy nhất trên hai tần số L1 1575.42MHz và L2 1227.60MHz. Các tín hiệu vệ tinh bao gồm:
  • Hai tần số sóng mạng.
  • Mã đo khoảng cách được điều biến vào các sóng mạng.
  • Thông báo hàng hải chứa đựng thông tin về vị trí và đồng hồ vệ tinh.
2. MẢNG ĐIỀU KHIỂN:

Mảng điều khiển bao gồm các tiện ích cần cho việc giám sát sức khoẻ; theo dõi, điều khiển, tính toán bản lịch vệ tinh và nạp dữ liệu lên vệ tinh.


Có 5 trạm điều khiển trên mặt đất: Hawaii, Colorado Springs, Ascension Is., Diego Garcia và Kwajalein. Chức năng của chúng như sau: 
  • Tất cả 5 đều là trạm giám sát, theo dõi vệ tinh và truyền dữ liệu đến trạm điều khiển chính.
  • Trạm đặt tại Colorado Springs là trạm điều khiển chính (MSC). Tại đó dữ liệu theo dõi được xử lý nhằm tính toạ độ và số hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh. 
    Các trạm điều khiển GPS trên thế giới
  • Ba trạm tại Ascension, Diego Garcia và Kwajalein là các trạm nạp dữ liệu lên vệ tinh. Dữ liệu bao gồm các bản lịch và thông tin số hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh trong thông báo hàng hải.
3. MẢNG NGƯỜI SỬ DỤNG
Thiết bị của người sử dụng GPS là các máy thu bao gồm: 
  • Phần cứng (theo dõi tín hiệu và trị đo khoảng cách).
  • Phần mềm (các thuật toán, giao diện người sử dụng).
  • Các quá trình điều hành
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại máy thu khác nhau về chủng loại, độ chính xác và giá tiền. Theo cấu tạo có thể chia thành hai loại:
  • Máy thu một tần số: là loại máy thu chỉ thu được tín hiệu trên 1 tần số L1.
  • Máy thu hai tần số: là loại máy có thể thu đầy đủ tín hiệu trên hai tần số.
Theo độ chính xác, có thể chia làm ba loại:
  • Độ chính xác cao: đây là loại máy thu hai tần số đắt tiền nhất hiện nay được dùng trong trắc địa. Thiết bị phần cứng phức tạp nên việc sử dụng khó khăn. Ví dụ như Trimble 4800, Topcon Legacy, Topcon Hiper Series, Topcon GB-500, Topcon GB-1000, Leica system 500,...
  • Độ chính xác trung bình: đây là loại máy thu một tần số, có cấu tạo đơn giản dễ mang vác và dễ sử dụng cho thu thập dữ liệu phục vụ bản đồ và GIS. Ví dụ như Trimble Geo-explorer XT, Ashtech Reliance.
  • Độ chính xác thấp: cũng là loại máy thu một tần số nhưng có cấu tạo gọn nhẹ nhất (thường là máy thu cầm tay) và rẻ tiền nhất thường được dùng cho các mục đích định vị hàng hải, du lịch, … Ví dụ Lowrance 200, Garmin III+, Magenlan
Máy thu GPS Topcon GB-1000 trong kỹ thuật đo RTK khi đo địa hình trên bờ

IV. TRỊ ĐO GPS


Các máy thu GPS cung cấp các trị đo là khoảng cách từ máy thu đến vệ tinh. Tuy nhiên các trị đo này bao gồm hai loại sau:
  • Giả cự ly (pseudo-range): là trị đo dựa trên nguyên tắc đo xung với xung là mã P hay mã C/A. Đặc điểm của trị đo này là độ chính xác thấp (0.3 m cho mã P và 3m cho C/A) nhưng nó thể hiện trực tiếp khoảng cách hình học từ máy thu đến vệ tinh. Vì mã đo khoảng cách P được truyền trên hai tần số L1 và L2 nên tương ứng cho hai trị đo P1 và P2. Trong khi đó mã C/A chỉ hiện diện trên L1 nên chỉ có trị đo duy nhất C1.
Kỹ thuật so trùng để giải mã tín hiệu từ vệ tinh
  • Trị đo pha: bước sóng của các sóng mang rất ngắn – xấp xỉ 19cm cho L1 và 24 cm cho L2. Giả sử rằng độ phân giải của trị đo khoảng 1-2% bước sóng thì pha sóng mang có thể được đo đến mức độ milimét. Không may mắn là trị đo này vẫn còn thiếu số nguyên chu kỳ pha để có thể chuyển thành khoảng cách từ máy thu đến vệ tinh. Vì vậy để xử lý trị đo này cần có những phần mềm chuyên dụng cho mục đích trắc địa.
Kỹ thuật giải đa trị tại các máy thu
Như vậy một máy thu một tần sẽ thu được 3 trị đo là C1, P1 và L1. Trong khi máy thu hai tần sẽ cung cấp đến 7 loại trị đo: C1, P1, L1, P2, D1, D2 và L2.

Các trị đo trên không chỉ chứa sai số đo của máy thu vì khi tín hiệu đi từ vệ tinh đến máy thu nó bị ảnh hưởng nặng nề do đồng hồ của vệ tinh và máy thu bị sai, tín hiệu bị trễ ở tầng điện ly, đường lan truyền của tín hiệu trong khí quyển bị bẻ cong do chiết suất của không khí không đều, … Ảnh hưởng tổng hợp của những nguồn sai số này có thể làm cho các trị đo sai đến hàng trăm km. Vì vậy để đòi hỏi độ chính xác định cỡ vài chục mét, những nguồn sai số phải được khắc phục và loại trừ trong xử lý.
Một số nguồn sai số ảnh hưởng đến độ chính xác GPS
V. CÁC LOẠI ĐỊNH VỊ:


Độ chính xác định vị GPS không những chỉ phụ thuộc vào loại trị đo dùng trong xử lý mà còn phụ thuộc đáng kể vào kiểu định vị.

1. ĐỊNH VỊ TUYỆT ĐỐI
Còn được gọi là định vị điểm đơn. Trong kiểu này các trị đo được dùng là giả cự ly.
Kỹ thuật định vị tuyệt đối
Trị đo tuyệt đối khi dùng 1 vệ tinh


Trong thực tế chúng ta không đo được mà chỉ đo được khoảng cách r. Do đó cần ít nhất 3 vệ tinh khác nhau mới giải ra được toạ độ máy thu. Ngoài ra do đồng hồ của máy thu luôn có sai số nên phát sinh thêm một ẩn số nữa và do vậy cần có từ 4 vệ tinh trở lên.
Trị đo tuyệt đối khi dùng 3 vệ tinh
Trị đo chứa nhiều sai số dẫn đến toạ độ của máy thu có thể sai từ vài mét đến vài chục mét.

Các nguyên nhân chính gây ra sai số trong kỹ thuật định vị tuyệt đối:

  • Do vệ tinh: chiếm ¾  nguyên nhân, tức là sai số đồng hồ vệ tinh và các nhiễu trong công nghệ vệ tinh.
  • Do trạm điều khiển: là sai số trong việc dự đoán và tính toán quỹ đạo của vệ tinh. Thông tin này sẽ được truyền lên vệ tinh để mã hóa vào tín hiệu và truyền xuống cho máy thu.
  • Do quá trình truyền tín hiệu: cụ thể là sai số do tầng điện ly, do tầng đối lưu, sai số do việc tín hiệu bị phản xạ (hiện tượng đa đường) và nhiễu gây ra do việc truyền phát các tín hiệu khác.
  • Do máy thu: ví dụ như do nhiễu tại máy thu hay sai số đồng hồ của máy thu.
Các nguồn sai số chính trên gây ra các sai số cho các máy thu GPS cầm tay như bảng sau :

Bảng sai số theo 4 nguyên nhân

 SPS-Standard Positioning Service : dịch vụ định vị chuẩn.

PPS-Precise Positioning Service : dịch vụ định vị chính xác.

Như vậy, các máy thu GPS cầm tay hoàn toàn có thể tạo ra sai số định vị > 5m trong điều kiện bình thường.Chỉ có các máy thu GPS đắt tiền, có khả năng đặc biệt mới có thể cho độ chính xác định vị cấp mm. VD: Các máy thu GPS 1 tần số, đặc biệt nếu dùng máy thu GPS 2 tần số thì khả năng định vị  mới đạt được độ chính xác cao nhất trong điều kiện hiện nay.

2. ĐỊNH VỊ TƯƠNG ĐỐI
Hầu hết các nguồn sai số trong trị đo khoảng cách có thể được giảm đi đáng kể trong trị đo hiệu giữa hai máy thu và(hoặc) hai vệ tinh.


Tuy nhiên để làm điều đó cần phải có ít nhất hai máy thu đồng thời quan trắc một số lượng vệ tinh chung. Kết quả xử lý cho ta hiệu tọa độ giữa hai điểm đặt máy thu (còn gọi là baseline vector).
Kỹ thuật định vị tương đối
3. ĐỊNH VỊ ĐỘNG:
Nếu trường hợp máy thu không đứng yên mà chuyển động liên tục thì ta gọi đó là định vị động.


Định vị động có độ chính xác kém hơn định vị tĩnh (trường hợp máy thu đứng yên) nhưng có rất nhiều ứng dụng trong thực tế như quản lý, điều khiển các đối tượng động tàu, xe, ... 


Định vị động cũng có hai kiểu: tuyệt đối và tương đối.


Kiểu tương đối được ưa chuộng hơn vì độ chính xác tốt hơn. Trong trường hợp này, một máy thu được đặt cố định tại một điểm đã biết tọa độ (gọi là base receiver hay reference station), máy thu thứ hai gắn trên các đối tượng động (gọi là rove receiver hay mobile station). 


Nếu trạm tĩnh có trang bị thêm bộ phận phát radio để phát các thông tin (bao gồm vị trí trạm tĩnh và các số hiệu chỉnh khác) về phía trạm động để trạm này giải ra ngay tọa độ của mình thì ta gọi đây là kiểu định vị động thời gian thực (real-time kinematic – RTK).

Kỹ thuật định vị động
VI. ĐỘ CHÍNH XÁC ĐỊNH VỊ GPS:


Độ chính xác định vị GPS phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào kiểu định vị và loại trị đo dùng trong xử lý, ta có thể tóm tắt trong bảng sau:
Bảng so sánh độ chính xác
VII. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ GPS TRONG QUAN TRẮC CHUYỂN DỊCH NGANG CÔNG TRÌNH
  • Các công trình trong thời gian thi công xây dựng và trong quá trình khai thác sử dụng thường bị thay đổi vị trí của chúng trong không gian. Sự dịch chuyển công trình trong mặt phẳng ngang gọi là chuyển dịch ngang.
  • Bất kể do nguyên nhân gì gây ra thì sự chuyển dịch ngang của các công trình cũng đều có tác dụng rất xấu đến độ bền của nó.
  • Vì vậy, việc quan trắc chuyển dịch ngang công trình để đánh giá mức độ ổn định của nó hoặc để kịp thời có biện pháp làm giảm tốc độ chuyển dịch ngang là một việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng.
  • Tuy nhiên, nếu so sánh với việc quan trắc độ trồi lún của công trình thì việc quan trắc chuyển dịch ngang với độ chính xác cao là một việc làm hết sức khó khăn, phức tạp và tốn kém.
  • Một trong những vấn đề nan giải khác nữa của việc quan trắc chuyển dịch ngang công trình đó là việc xây dựng các mốc chuẩn. So với các mốc chuẩn trong quan trắc độ chuyển dịch theo phương đứng thì các mốc để quan trắc chuyển dịch ngang khó xây dựng xây dựng hơn nhiều và do đó chi phí cũng rất tốn kém.
  • Việt Nam là nước đang phát triển với mật độ xây dựng các công trình rất cao. Để đảm bảo công trình được ổn định và sử dụng lâu bền thì việc quan trắc độ chuyển dịch ngang là một nhiệm vụ không thể thiếu.
  • Với việc xuất hiện công nghệ đo đạc chính xác cao GPS, đã cung cấp cho ta một quy trình quan trắc chuyển dịch ngang một cách nhanh chóng, chính xác so với các thiết bị và phương pháp truyền thống.
VIII. ƯU ĐIỂM CỦA CÔNG NGHỆ GPS SO VỚI PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG:
  • Không đòi hỏi tinh thông hướng giữa các trạm đo như ở phương pháp truyền thống.
  • Các vệ tinh có thể được quan sát trên một vùng lãnh thổ rộng lớn như quốc gia, lục địa, trong khi phương pháp truyền thống chỉ khống chế ở khu vực nhỏ hẹp.
  • Độ chính xác định vị cao và đang ngày càng được cải thiện.
  • Người điều hành tuy không cần quan tâm đến việc điều hành hệ thống nhưng vẫn có khả năng khai thác và sử dụng các tín hiệu của hệ thống dễ dàng.
DangMRV - Sưu tầm và tổng hợp trên Internet

Biến đổi khí hậu ở VN - Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông, lâm nghiệp

Sự biến động của thời tiết nước ta không thể tách rời những thay đổi lớn của khí hậu thời tiết toàn cầu. Chính sự biến đổi phức tạp của hệ thống khí hậu thời tiết toàn cầu đã và đang làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết nước ta. Việt Nam là nơi bị ảnh hưởng của hiện tượng ElNinô. Mối quan hệ giữa ElNinô và khí hậu thời tiết ở Việt Nam đang được nghiên cứu. Tuy nhiên, một số biểu hiện của mối quan hệ này có thể thấy rõ qua những lần thiên tai xảy ra gần đây trên diện rộng ở Việt Nam.
http://cect.gov.vn/libs/images/Image/Anh%20tin%20bai/biendoikhihau/2011/bien%20doi%20khi%20hau%20anh%20huong%20den%20an%20ninh%20the%20gioi.jpg
Sự biến động phức tạp của thời tiết có thể gây ra nhiều hậu quả khác nhau. Có thể nêu ra đây hai khía cạnh quan trọng nhất. Trước hết đó là khả năng tăng tần suất của các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt. Mưa lũ tăng lên có nghĩa là nguy cơ ngập lụt đối với các vùng vốn thường xuyên bị ngập như Đồng bằng sông Cửu Long hoặc các vùng đất thấp khác sẽ không giảm, gây nhiễm mặn nhiễm phèn trên diện rộng. Hậu quả nghiêm trọng thứ hai chính là hạn hán. Nếu như các trận mưa lớn xảy ra có thể gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nhiễm phèn, xói lở đất làm thiệt hại đến mùa màng, tài sản và con người thì ngược lại những đợt hạn hán trầm trọng kéo dài có thể ảnh hưởng đến xã hội với qui mô lớn hơn nhiều. Sự thiếu nước không chỉ ảnh hưởng đến nông lâm nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nhiều ngành sản xuất và đời sống xã hội.
http://dauvetcarbon.com/uploads/Cayruong1.jpg
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam nằm trong số 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Xu hướng biến đổi khí hậu sẽ kéo theo sự thay đổi của nhiều yếu tố tự nhiên khác như lượng bốc hơi tăng, độ ẩm giảm, nhiệt độ không khí tăng, băng tan và mực nước biển dâng. Những yếu tố đó ảnh hưởng trực tiếp tới con người, tới môi trường và toàn bộ đời sống kinh tế-xã hội. Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng tới các vùng với những mức độ khác nhau, cụ thể là:

Đối với vùng núi và trung du phía Bắc: Độ che phủ trung bình của rừng ở khu vực này hiện nay khoảng 44,2% (Cục Kiểm Lâm, 31/12/2006). Tuy nhiên, độ che phủ này không đồng đều, thấp nhất là Hà Tây (7,4%), cao nhất là Tuyên Quang (61,8%). Mặc dù đã có nhiều dự án trữ nước được thực hiện, song do độ dốc lớn, địa hình bị chia cắt mạnh nên phần lớn các hồ chứa nước đều có quy mô nhỏ. Thêm vào đó, do độ che phủ của rừng không đồng đều và chất lượng rừng không cao nên trong những năm có lượng mưa nhỏ, việc phòng chống hạn không có mấy hiệu quả.

Đối với vùng ven biển Trung Bộ: Độ che phủ của rừng trung bình tại vùng này khoảng 44,4%. Do địa hình phức tạp với các dãy núi cao chạy sát biển, xen kẽ với những đồng bằng nhỏ hẹp chịu ảnh hưởng nhiều của các đợt gió mùa nóng và khô , lượng mưa thấp nên điều kiện khí hậu của khu vực này khắc nghiệt nhất toàn quốc. Độ che phủ của rừng không đồng đều, lưu vực sông ngắn và dốc đã hạn chế khả năng điều tiết dòng chảy của hệ thống tưới tiêu và sông ngòi, dễ gây ra lũ lụt nhanh, bất ngờ và hạn hán kéo dài. Do vậy sản xuất lương thực gặp rất nhiều khó khăn và đời sống của nhân dân luôn ở trong tình trạng phải đối phó với thiên tai. Khu vực này cũng được coi là khu vực trọng điểm trong Chương trình hành động quốc gia chống hoang mạc hoá.

Đối với vùng Tây Nguyên: Đây là vùng đất bazan rộng lớn nhất Việt Nam. Loại đất bazan thường dễ hấp thụ nước và do có độ che phủ trung bình của rừng cao nhất nước (54,5%) nên nguồn nước ngầm ở đây còn khá dồi dào. Tuy vậy, khí hậu bất thường trong các năm 1993, 1998, 2004 và sự khai thác quá mức nguồn nước cho trồng cây công nghiệp đã gây nên sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa nước mặt và nước ngầm, giữa khả năng cung cấp nước tưới và yêu cầu phát triển sản xuất. Nguy cơ cháy rừng, mất rừng do nạn khai thác lậu và lấy đất trồng cây ngắn ngày vẫn đang là vấn đề bức xúc đối với ngành lâm nghiệp ở địa bàn đầu nguồn các con sông lớn và còn diện tích rừng tự nhiên lớn nhất cả nước này.

Đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Đây là vùng có độ che phủ trung bình thấp nhất cả nước (12,1%). Nhiều nơi vùng châu thổ sông Mê Công bị tác động của phèn hoá ngày càng nặng do các khu rừng Tràm bị phá hoại nghiêm trọng để lấy đất sản xuất nông nghiệp. Nhiều khu rừng ngập mặn cũng đã bị phá huỷ để làm hồ nuôi tôm. Việc phá huỷ lớp phủ bề mặt đã làm giảm khả năng giữ nước của đất, tạo điều kiện để các tầng nhiễm mặn dưới sâu xâm nhập dần lên bề mặt đất, gây mặn hóa, phèn hoá toàn bộ tầng đất mặt, làm chết nhiều loại cây trồng và thuỷ sản. Khu vực này cũng được coi là vùng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng nước biển dâng.

Trong vòng nửa thế kỷ qua, hầu như toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đều trải qua những biến đổi lớn về khí hậu và thời tiết. Nhiệt độ có chiều hướng tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng mùa đông ngày càng ngắn hơn và ấm hơn. Tương tự như nhiệt độ, số giờ nắng và lượng mưa cũng thay đổi rõ nét. Sự thay đổi nhiệt độ và lượng mưa trên toàn quốc có xu hướng giống nhau và mức độ biến đổi ngày càng trở nên phức tạp. Sự biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp đã dẫn tới hậu quả là thiên tai ngày một thường xuyên và nghiêm trọng hơn. Có thể liệt kê mấy loại thiên tai có ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông lâm nghiệp:

Bão: Không có sự gia tăng số lượng bão đổ bộ vào Việt Nam trong 10 năm gần đây nhưng sự bất thường và phức tạp của các cơn bão có thể quan sát được một cách rõ ràng. Chẳng hạn cơn bão Linda được hình thành và đổ bộ vào miền Nam rất nhanh cuối năm 1997 là cơn bão thuộc loại này, xảy ra duy nhất chỉ một lần trong suốt một thế kỷ. Mặc dù về quy mô đổ bộ vào miền Nam trong thế kỷ 20, Lin da chỉ xếp hàng thứ hai, nhưng về cường độ lại là cơn bão mạnh hơn rất nhiều lần so với cơn bão hồi đầu thế kỷ, và gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng. Các cơn bão liên tục đổ bộ vào miền Trung đã gây ra lụt lội nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển miền Trung, gây ra triều cường và hiện tượng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, ảnh hưởng nặng nề tới sản xuất nông lâm nghiệp tại địa bàn. Gần đây, bão có xu hướng tiến sâu về phía Nam.

Lũ lụt: ở Việt Nam, trong vòng 10 năm gần đây, hầu như hàng năm đều có lũ lụt nghiêm trọng xảy ra. Nhiều trận lụt lớn xảy ra tại miền Trung và gây ra tổn thất nghiêm trọng cho sản xuất ở vùng này. Trận lụt tháng 11 năm 1999 là trận lụt ghi nhiều kỷ lục của một giai đoạn vài chục năm, đặc biệt là về lượng mưa. Trong vòng 245 giờ, lượng mưa ở Huế đạt 1384 mm, là lượng mưa cao nhất thống kê được trong lịch sử ngành thuỷ văn ở Việt Nam và chỉ đứng thứ hai sau kỷ lục thế giới là 1870 mm đo được ở Đảo Reunion ở Thái Bình Dương vào năm 1952. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn, đặc biệt trận lũ kéo dài trong năm 2000 là trận lũ lớn nhất trong vòng 70 năm qua. Lũ lụt cũng gây ra trượt lở đất ở vùng ven biển dẫn tới việc biển tiến sâu vào đất liền và gây ra hiện tượng nhiễm mặn ở vùng nội đồng. Lũ lụt cũng là loại thiên tai gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống đồng bào tại vùng nông thôn.

Lũ quét và lũ ống: Loại thiên tai này kéo theo hiện tượng trượt lở đất, phá huỷ rừng, xói mòn đất và gây ra những thiệt hại về kinh tế - xã hội ở nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi phía Bắc. Sự xói mòn xảy ra mạnh nhất ở độ cao 1000-2000 m và thường gây ra trượt lở đất, nứt đất khi có các trận mưa rào lớn. Do xói mòn mạnh, một lượng lớn các chất dinh dưỡng như nitơ, kali, canxi, magiê cùng các loài vi sinh vật bị cuốn rửa trôi. Đất dần dần mất khả năng tích nước và trở nên rắn, chặt hơn.
Ngày 8 tháng 8 – 2008, cơn bão số 4, mưa lớn, lũ quét đã gây ra thiệt hại khá nặng nề đối với các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh. Tính đến ngày 17 – 8 đã có 145 người chết và mất tích, 75 người bị thương, 307 ngôi nhà bị sập trôi, 4.260 nhà bị ngập, 3.700 ha lúa, hoa mầu bị ngập, nhiều công trình giao thông bị phá hỏng... Ước tính tổng thiệt hại ở các tỉnh bị lũ, lụt lần này khoảng 2.000 tỷ đồng.
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/08/15/1508.trung4.jpg
Hạn hán: Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), châu Á là khu vực bị thiên tai nặng nề nhất trong vòng 50 năm qua, trong đó thiệt hại về tài sản do hạn hán gây ra đứng thứ ba sau lũ và bão. Có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hạn hán. Tuy nhiên, trên quan điểm nông nghiệp có thể thấy hạn hán thường xảy ra vào mùa khô, nắng nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần, đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng và có thể dẫn tới làm chết cây hàng loạt. Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đây là loại thiên tai tồi tệ nhất, xảy ra ngày càng nghiêm trọng hơn, với tần suất và quy mô ngày càng lớn hơn, gây nhiều thiệt hại và kéo dài dai dẳng nhất.

Ở nước ta, hạn hán xảy ra ở rất nhiều nơi với những thiệt hại ngày càng lớn hơn. Theo số liệu thống kê của Trường Đại học Thuỷ lợi, có 11 vụ hạn hán nghiêm trọng xảy ra trong các năm từ 1976 tới 1998 dẫn đến những thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, gây cháy rừng, làm cạn kiệt các sông suối nhỏ và các hồ chứa nước ở miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, miền núi và trung du Bắc Bộ, dẫn đến tình trạng biển lấn sâu vào đất liền, thiếu nước chạy các nhà máy điện...đem lại những hậu quả xấu về kinh tế xã hội và môi trường cho đất nước. Có thể điểm qua một số đợt hạn hán nặng trong vòng nửa thế kỷ qua như sau:
http://www.thoitietnguyhiem.net/news/imagesnews/Hanhan1.jpg
Hạn hán năm 1976 ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ làm 370.000 ha cây lương thực bị hại. Hạn hán năm 1982 làm cho 180.000 ha cây lương thực ở 6 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị mất trắng. Năm 1983, hạn hán làm cho 291.000 ha lúa mùa ở miền Trung và Nam Bộ không thu hoạch được. Vụ đông xuân năm 1992, hạn hán và sâu bệnh đã làm cho sản lượng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long giảm 559.000 tấn. Năm 1993, diện tích bị hạn ở miền Trung lên tới 175.000 ha, trong đó có tới 35.000 ha bị cháy khô, thất thu ước tính tới 150.000 tấn lúa và hoa màu.
Đợt hạn năm 1994-1995 ở Đắk Lắc được coi là nặng nhất trong 50 năm qua, ảnh hưởng nhiều đến cây trồng, nhất là cà phê, ước tính thiệt hại tới 600 tỷ đồng và gây ra thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng. Năm 1995-1996, diện tích bị hạn ở trung du và miền núi là 13.380 ha, ở Đồng bằng Bắc Bộ là 100.000 ha.
Hạn hán nghiêm trọng xảy ra trên diện rộng ở Việt Nam rõ ràng có quan hệ với hiện tượng ElNinô. Đặc biệt, ElNinô 1997-1998 (kéo dài từ giữa tháng 12-1997 đến tháng 6-1998) đã tác động khá rõ rệt, gây ra hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đợt hạn hán này đã gây ra những hậu quả xấu cho sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của nhân dân ở rất nhiều nơi, nhất là ở miền Trung và Tây Nguyên. Trong đợt hạn này nhiệt độ lên rất cao, từ 35-42 0C, lượng mưa giảm xuống mức 40 – 250 mm (bằng 5% - 20% lượng mưa trung bình của cùng thời kỳ trong các năm trước đó). Nhiệt độ cao, lượng mưa giảm, độ ẩm không khí thấp và gió Lào khô nóng đã làm cho các hệ thống sông ngòi, hồ chứa nước cạn kiệt. Mùa hè năm 1998, tại vùng Tây Bắc, lượng mưa giảm xuống từ 10-50%. Cuối năm 1998, lượng mưa tiếp tục giảm so với trung bình nhiều năm từ 30-50%, có nơi như Sơn La lượng mưa giảm đi tới 90%. Tháng 11-1998, lượng mưa ở nhiều nơi thuộc lưu vực sông Hồng cũng giảm rõ rệt. Những biểu hiện của hạn hán xảy ra trên diện rộng ở nước ta trong năm 1998 cho thấy tác hại của nó không phải là nhỏ đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Có khoảng 3,8 triệu người rơi vào tình trạng thiếu nước sinh hoạt trên toàn quốc. Hạn hán và nắng nóng cũng đã gây ra cháy rừng. Riêng 6 tháng đầu năm 1998 có 60 vụ cháy rừng ở Đồng Nai (làm mất 1.200 ha) và ở Đắk Lắk (làm mất 316 ha). Đợt khô hạn từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1998 đã làm 11.370 ha rừng bị cháy. Theo ước tính, thiệt hại tổng cộng trong cả nước lên tới trên 5.000 tỷ đồng.Cháy rừng đã làm huỷ hoại nhiều cánh rừng trên đất nước. Khoảng 5 triệu ha rừng bị liệt vào loại dễ cháy ở bất cứ mùa nào trong năm. Trong số diện tích rừng hiện có, 56% dễ bị cháy trong mùa khô. Mỗi đe doạ cháy rừng lớn nhất là rừng Thông ở vùng cao nguyên Trung Bộ và rừng tràm ở châu thổ sông Mê Công. Trong mùa khô 1997-1998, do thời tiết khô nóng đã có 1.681 đám cháy rừng trên toàn quốc làm mất khoảng 19.819 ha, trong đó có 6.293 ha rừng tự nhiên, 7.888 ha rừng trồng, 494 ha rừng tre nứa và 5.123 ha cỏ và cây bụi. ở Quảng Ninh và Lâm Đồng, các vụ cháy rừng Thông đã làm tê liệt nhiều nhà máy sản xuất nhựa thông (Cục Kiểm Lâm, 1999). Các loại rừng bị cháy thường là các loại rừng non mới tái sinh, rừng trồng từ 3-5 tuổi, trảng cỏ và cây bụi. Các vùng sinh thái nông nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của đợt hạn hán 1997-1998 là:

+ Miền núi và trung du phía Bắc: Khoảng 20% diện tích lúa đông-xuân bị ảnh hưởng, trong đó 2.000 ha bị mất trắng. Sản lượng cây ăn quả và cây công nghiệp giảm đáng kể và các loại sâu bệnh phát triển mạnh. Khoảng 300.000 người không có đủ nước ngọt. Chính phủ đã chi 47,6 tỷ đồng để khắc phục hậu quả của hạn hán.
+ Bắc Trung Bộ: Có 62.000 ha, chiếm khoảng 46% diện tích gieo trồng trên toàn khu vực, bị ảnh hưởng nặng nề bởi hạn hán, trong đó khoảng 50% diện tích trồng trọt bị mất trắng, 800 hồ chứa nước vừa và nhỏ bị cạn hoàn toàn. Khoảng 2,1 triệu người bị thiếu nước ngọt.
+ Vùng ven biển Nam Trung Bộ: Hạn hán đe dọa các vụ đông- xuân, hè-thu và vụ chiêm với tổng diện tích bị hạn lên tới 20,3 – 25,0 % diện tích gieo trồng. Nước biển tràn sâu vào các vùng ven biển tới 10-15 km và gây ra tình trạng nhiễm mặn trầm trọng. Trong suốt 10 năm qua, các tỉnh trong khu vực này luôn bị hạn hán đe dọa và chỉ trong năm 1998 có khoảng 203.000 người bị thiếu nước ngọt. Vùng khô hạn thường xuyên tại hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và phía nam tỉnh Khánh Hoà có diện tích 200.000-300.000 ha với lượng mưa hàng năm trung bình chỉ có 500-700 mm, khí hậu nắng nóng đã tạo thành vùng đất bán sa mạc, vùng cát vàng khô hạn với những trảng cây bụi thưa có gai rất khó phát triển sản xuất.
+ Vùng Tây Nguyên: Trong tổng số 24.000 ha lúa đông-xuân, có 7.800 ha bị thiệt hại do đợt hạn 1998. Trong tổng số 110.000 ha diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn có 20.000 ha bị chết. Khoảng 800.000 người bị thiếu nước ngọt.
+ Vùng châu thổ sông Cửu Long (hạ lưu sông Mê Công): Trong mùa khô, mực nước ở hệ thống sông Cửu Long tại Tân Châu và Châu Đốc thường giảm xuống còn khoảng + 1,0 m. Tuy nhiên, trong mùa khô năm 1998, mực nước tại các điểm trên hạ thấp tới mức –0,3 tới – 0,4 m. Nước mặn với độ mặn 4% tràn vào đất liền, có nơi vào sâu tới 45 km, làm cho hai phần ba diện tích bán đảo Cà Mau bị nhiễm mặn. Đợt hạn này đã làm cho khoảng 216.000 ha lúa hè- thu bị ảnh hưởng nghiêm trọng, trong đó 32.000 ha bị mất trắng. Trong tất cả các vụ cháy rừng, vụ cháy rừng U Minh Thượng năm 2002 là vụ cháy rừng nghiêm trọng nhất, đã phá huỷ trên 5.000 ha rừng ngập mặn có giá trị đa dạng sinh học cao, gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng.

Gần đây nhất là đợt hán hán kéo dài 9 tháng liền năm 2004-2005 đã gây tổn thất nhiều cho sản xuất nông lâm nghiệp. Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy trong mùa khô độ ẩm của đất ở các vùng không có cây che phủ chỉ bằng một phần ba so với độ ẩm của đất ở những nơi có rừng che phủ. Tại một số nơi không có rừng che phủ, nhiệt độ trên mặt đất có thể tăng cao tới 50 – 600C vào buổi trưa hè. Những đặc điểm cơ lý của đất như độ tơi xốp, độ liên kết, độ thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng và hàm lượng vi sinh bị giảm đi đáng kể, đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, không thích hợp cho trồng trọt. Hàng triệu ha đất trống, đồi trọc đã mất rừng lâu năm, đất mặt bị biến đổi cấu tượng và lý hoá tính, trở nên dễ bị xói mòn, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhôm gây nên hiện tượng kết von và đá ong hóa, đất hoàn toàn mất sức sản xuất nông nghiệp.
Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng nguy cơ tuyệt chủng một số loài động thực vật, gây khó khăn cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Một số loài phải tìm môi trường sống mới hoặc mãi mãi sẽ biến mất khỏi hành tinh.

Biến đổi khí hậu có liên quan rất chặt chẽ tới đa dạng sinh học và hoang mạc hóa. Đây cũng là lý do vì sao Liên Hợp quốc lại ra nghị quyết về ba công ước Rio về môi trường quan trọng nhất tại Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững ở Rio De Janeiro năm 1992 (Công ước khung về biến đổi khí hậu, Công ước về đa dạng sinh học và Công ước chống sa mạc hóa). Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện các cam kết chung về môi trường, Việt Nam đã ký tham gia cả ba công ước trên.

Tóm lại, biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều tác động có hại đối với sản xuất nông lâm nghiệp. Thiên tai, đặc biệt là hạn hán, ngày càng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn cả về cường độ và quy mô. Nguyên nhân của biến đối khí hậu rất phức tạp và đa dạng, bao gồm cả nguyên nhân do tự nhiên và nguyên nhân do con người. Vì vậy, để giảm thiểu tác hại, chúng ta cần chủ động phối hợp, đề ra những giải pháp đồng bộ mang tính đa ngành, đa lĩnh vực để đối phó và thích ứng với biến đổi khí hậu. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã và đang nỗ lực bằng những hành động cụ thể phối hợp với các Bộ/ngành và địa phương liên quan trong việc chủ động thích ứng với những biến đổi phức tạp của khí hậu và hạn chế tối đa tác hại do nó gây ra cho sản xuất nông lâm nghiệp.
ThS. Phạm Minh Thoa - Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI CÁC KHU BẢO TỒN CỦA VIỆT NAM VÀ ĐẾ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG

Trước những tác động của Biến đổi khí hậu (BĐKH) đối với sự phát triển kinh tế - xã hội - môi trường, trong đó có vấn đề về đa dạng sinh học (ĐDSH), Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học với sự hỗ trợ của Chương trình SEMLA, đã tiến hành xây dựng dự án Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH tới các khu bảo tồn của Việt Nam và đề xuất các giải pháp thích ứng.
(Ảnh: Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi BĐKH)
Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi, nhiệt độ Trái đất nóng lên, mực nước biển dâng, dân số gia tăng, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày cà ng nhiều, tốc độ suy thoái các loài ngày càng tăng... Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng lớn đến công cuộc phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường.
Tác động của BĐKH đối với các khu bảo tồn
Theo các nhà khoa học, hàng trăm loà i thực vật và động vật đã buộc phải thay đổi vùng phân bố và thời gian của chu kỳ số ng của chúng để thích ứng với sự BĐKH, cụ thể vùng phân bố của nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía bắc và lên vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu; san hô bị chế t trắng ngày càng nhiều.
Việt Nam được xem là một nước có tính ĐDSH cao, chủ yếu tập trung ở hệ thống khu bảo tồn. Việt Nam cũng được xác định là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất do BĐKH toàn cầu. Mực nước biển dâng cùng với cường độ của bão tố, thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước sẽ đe dọa đến sự suy thoái và sống còn của rừng ngập mặn cũ ng như các loài sinh vật rất đa dạng trong đó. Khi mức nước biển dâng lên cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước có tầm quan trọng mức quốc gia, sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt của hệ sinh thái và ảnh hưởng đế n nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập.
Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương. Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản quan trọng và nhiều loài sinh vật biển khác, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn, sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất nông nghiệp nữa từ cửa sông đổ ra.
Các nhà khoa học Việt Nam đã chứng minh được cùng với sự ấm lên của trái đất, nhiều loài cây trên dãy Hoàng Liên Sơn đang phải lên phân bố ở vùng cao hơn để tồn tại. Đây thực sự là một thử thách lớn với Vườn Quốc gia Hoàng Liênnơi được công nhận là di sản ASEAN - đang lưu trữ nguồn gen hệ động, thực vậ t bậc nhất Việ t Nam với gần 2850 loài, trong đó có 149 loài thuộc quý hiếm, nguy cấp. Theo kết quả điều tra sơ bộ (từ năm 2003-2007) của Ban quản lý Vườn quốc gia Hoàng Liên cho thấy, hiện đang có sự dịch chuyển lên cao của một số loài cây đặc trưng thuộc các đai thực vật khác nhau. Giới khoa họ c gọi đây là hiện tượng “dịch chuyển vành đai nhiệt lên cao”. Đặc trưng trong số đó có thông Vân San Hoàng Liên (một loài chỉ tìm thấy duy nhất tại đây), trước đây chỉ sinh trưởng ở độ cao 2200m- 2400m, thì nay chỉ có thể gặp ở độ cao 2400m -2700m. Cùng với nó, Thông thích Xi-Pan, Thông thích SaPa và một số loài khác cũng đang “leo” dần lên cao.

 
Quản lý rừng bền vững là một trong những biện pháp hạn chế tác hại của BĐKH
Các chuyên gia cảnh báo rằng sự BĐKH, biến đổi của các hệ sinh thái làm suy thoái rừng sẽ gây thêm bệnh tật cho con người như bệnh sốt rét, bệnh tả và cả nguy cơ bùng nổ của nhiều bệnh mớ i. Bên cạnh đó, sự khủng hoảng về ĐDSH còn làm 10-30% số loài chim, thú và bò sát đang có nguy cơ tuyệt chủng. Sự mất đi tính ĐDSH đồng nghĩa với sự mất đi những nguồn gen bản địa và tạo cơ hội cho những loài ngoại lai phát triển mạnh như cây trinh nữ đầm lầy - Mimosa pigra, hoa ngũ sắc hay ốc bươu vàng... các nhóm vi trùng gây bệnh, các gen gây bệnh có khả năng chọn đối tượng để gây hại hoặc tiêu diệt. Những lĩnh vực, đối tượng được đánh giá là dễ bị tổn thương do BĐKH bao gồm: nông nghiệp, an ninh lương thực, tài nguyên nước, sức khoẻ, nơi cư trú, nhất là ven biển và miền núi. Các khu vực dễ bị tổn thương bao gồm dải ven biển (kể cả những đồng bằng, đặc biệt là những vùng hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bão, nước dâng do bão, lũ lụt), vùng núi, nhất là những nơi thường xảy ra lũ quét, sạt lở đất. Có thể nói, về mặt tiêu cực, BĐKH làm tăng tính ác liệt của thiên tai, cả về cường độ lẫn tần suấ t. Các cộng đồng dễ bị tổn thương bao gồm: nông dân, ngư dân (nhất là ở những khu vực dễ bị tổn thương), các dân tộc thiể u số ở miền nú i, người già, phụ nữ, trẻ em và cá c tầng lớp nghèo nhất ở các đô thị là những đối tượng ít có cơ hội lựa chọn.
Đề xuất một số giải pháp thích ứng với BĐKH
Quản lý thích ứng ĐDSH trong bối cảnh BĐKH là vấn đề môi trường bức xúc, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sự phát triển củ a con người trên phạ m vi toàn cầu. Chính phủ Việt Nam đã sớm phê duyệt và cam kết thực hiện các công ước nà y (1994) và Chương trình nghị sự 21 cũng được Chính phủ Việt Nam phê duyệt (2004), trong đó nhất mạnh các mục tiêu thực hiện về môi trường, xây dựng và triể n khai các đề á n giảm nhẹ BĐKH và hạn chế những ảnh hưởng có hại của BĐKH đến tài nguyên ĐDSH.
Thích ứng là một trong những khái niệm tương đối mới đã được đề cập nhiều trong nghiên cứu BĐKH. Do vậy, việc lồng ghép các vấn đề biến đổi khi hậu trong quản lý ĐDSH, đặc biệt là tăng cường khả năng giám sát và quản lý thích ứng cho hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên là rất quan trọng. Dưới đây là một số hoạt động đã được đề xuất trong khuôn khổ dự án, bao gồm:
Các giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học. Điều tra nhậ n thức và đánh giá nhu cầu tăng cường năng lực nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Khu bảo tồn (KBT) ứng phó với BĐKH cho cán bộ BQL KBT, cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương và cộng đồng.
- Xây dựng và thực hiệ n chương trình nâng cao nhậ n thức cho cán bộ làm chính sách, BQL KBT, chính quyền địa phương và cộ ng đồng về tác động của BĐKH đối với ĐDSH và nhu cầu cần phải có các biện pháp quản lý thích ứng đối với KBT.
- Đánh giá quốc gia về tác động của BĐKH đối với ĐDSH và KBT ở Việt Nam trên cơ sở thực hiện các hoạt động khả o sát, nghiên cứu ở các khu vực bảo tồn ưu tiên cao, các hệ sinh thái dễ bị tổ n thương và nhạ y cảm trên toàn quốc.
- Nghiên cứu phát triển các giải pháp về lập kế hoạch quản lý thích ứng KBT nhằm ứng phó với BĐKH
- Tăng cường năng lực cho các KBT thông qua thiết lập và vậ n hành thí điểm các hệ thống giám sát ĐDSH phục vụ cho lập kế hoạ ch quản lý thích ứng nhằm ứng phó với BĐKH ở một số khu vực bả o tồn lựa chọn.
- Vận động chính sách và sự ủng hộ cấp cao về lồng ghép và thúc đẩy bảo tồn thiên nhiên trong bối cảnh BĐKH ở Việt Nam.
- Tích hợp yếu tố BĐKH và o cá c chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và địa phương
Nguyễn Hằng - http://vea.gov.vn

Xây dựng các ứng dụng ArcGIS Engine

Tích hợp Google Maps vào ArcMap (Mở Google maps trong cửa sổ ArcMap)

Cuối tháng 3 năm 2011 Climate GIS có chia sẽ với độc giả bài viết "Tích hợp Google Earth vào ArcGIS" sử dụng IDE và những dòng code, sau đó trung tâm GIS Ứng Dụng Mới có phát triển công cụ  kết hợp bản đồ ArcMap với Google Earth. Nay Climate GIS xin giới thiệu sản phẩm có tính năng vượt trội hơn hẳn, do đối tác GTO Software cung cấp cho Climate GIS, với công cụ này các bạn chỉ cần thao tác chuột là bản đồ Google maps sẽ hiển thị trong cửa sổ của ArcMap của các bạn. Bạn thử tưởng tượng Google map sẽ hiển thị mờ phía sau bản bản đồ vector bạn đang mở trong ArcMap, rất thuận tiện cho việc cập nhật dữ liệu còn thiếu so với Google map cho bản đồ.
Google Map hiển thị trong ArcMap

Với công cụ này công việc của các bạn nhiều khi sẽ đơn giản và hiệu quả hơn rất nhiều mà không hề vi phạm bản quyền download ảnh của google map vì trong mỗi lần download ảnh về ArcMap công cụ này chỉ download ảnh hiển thị trong cửa sổ ArcMap và số lượng ảnh download một lần như vậy trong giới hạn cho phép của google map.

Climate GIS xin gửi tặng tới toàn thể độc giả công cụ này. Do đây là bản thương mại nên Climate GIS chỉ có thể tặng các độc giả bản Trial với 2 version: Version ArcGIS 9.x 30 ngày sử dụng và version ArcGIS 10 là 60 ngày sử dụng.

Một số lưu lý khi cài đặt phải thay đổi chút như sau:
Control Panel -> User Accounts -> Change User Account Control Settings  rồi kéo xuống mức thấp nhất sau đó khởi động lại máy.
Sau khi thay đổi xong thì tiến hành cài đặt.
Nếu sau khi cài đặt mà không thấy xuất hiện trên menu bar thì làm theo hình "Customize"
Sau đó nhấn nút "Add from file" để load file "GoogleMapDownload.tlb" theo đường dẫn như hình "Load file"

Chúc độc giả thành công và cùng trải nghiệm với tool mới này.

Độc giả tải Tool
For ArcGIS 10
Sau khi trải nghiệm các bạn muốn sở hữu phần mềm thì liên hệ chúng tôi
 tại đây

Kết hợp ArcGIS với Google maps

Việc kết hợp ArcGIS với ảnh vệ tinh của Google mang lại nhiều lợi ích trong việc hiển thị, kiểm tra và số hóa dữ liệu. Bài viết này trung tâm GIS Ứng Dụng Mới sẽ giới thiệu một số công cụ hỗ trợ kết hợp ArcGIS với ảnh Google maps.
Công cụ Google map extension
Tuy mới phát triển ở Version dưới 1.0 nhưng công cụ này tỏ ra hiệu quả nhất trong việc kết hợp ảnh google với ArcMap bằng cách kết hợp ảnh google như một lớp trong bản đồ của ArcMap.  Google map extension là công cụ mã nguồn mở bạn có thể down về file chạy và sourcecode từ trang http://www.mediawiki.org/wiki/Extension:Google_MapsCông cụ Geo-Explorer
Công cụ này cho phép mở bản đồ google maps trong ArcMap ở một cửa sổ riêng, người dùng có thể chọn vùng và lưu lại ảnh google map sau đó chồng ảnh vừa lưu vào bản đồ trong ArcMap. Việc kết nối với Google maps thực hiện không trực tiếp vào bản đồ ArcMap. Đây cũng là công cụ mã nguồn mở, tuy nhiên do viết bằng ngôn ngữ VB6 nên khi chạy chưa thật sự ổn định và còn nhiều lỗi cần cộng đồng lập trình hỗ trợ phát triển thêm. Bạn có thể tham khảo và down công cụ Geo-Exlorer về từ trang http://geo-explorer.org
      
Công cụ này hỗ trợ người dùng đồng bộ vị trí ảnh google với vị trí trên bản đồ trong ArcMap và ngược lại, sự liên kết thông qua vị trí tọa độ sẽ hữu ích cho người dùng trong việc kiểm tra, số hóa dữ liệu.
Công cụ  kết hợp bản đồ ArcMap với Google Earth do trung tâm GIS Ứng Dụng Mới phát triển, công cụ này cho phép kết  hợp toàn bộ lớp dữ liệu hoặc một phần lớp dữ liệu từ ArcMap với Google Earth. Công cụ được triển khai trên môi trường .net và tương thích với dữ liệu GIS ở hệ tọa độ VN2000 hoặc WGS84 
Nguồn: http://ungdungmoi.com

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482