DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Học nhanh ArcReader

 http://spatialnews.geocomm.com/events/esriuc2002/arcreader/arcreader1.gif
http://www.linuxjournal.com/files/linuxjournal.com/ufiles/ArcReader-Guatemala_0.PNG
http://www.hatfieldgroup.com/UserFiles/Image/GISRemoteSensing/MRCFlood/ArcReader_ScreenShot_01.jpg
+ ArcReader là phần mềm miễn phí, dễ sử dụng, cho phép người dùng xem thông tin, truy vấn và in ấn bản đồ sau biên tập (theo định dạng PMFs). ArcReader được thiết kế để chia sẻ bản đồ. Bất kỳ ai sử dụng ArcReader đều có thể truy cập đến dữ liệu địa lý lớn với các bản đồ chất lượng cao hay các sản phẩm của ArcGIS Desktop.
+ ArcReader dùng để đọc định dạng pmf, là định dạng của những bản đồ đã được publish, chia sẻ để sử dụng trong mạng nội bộ, mạng diện rộng hay mạng internet.
+ Tuy nhiên thì trong ArcGIS cũng đã gồm tất cả các chức năng của ArcReader rồi.
Nhắm giúp các bạn làm chủ được phần mềm này Climate GIS gửi tặng dữ liệu học nhanh ArcReader hi vọng giúp ích nhiều cho các bạn.
Sách hướng dẫn các bạn tải về tại đây: Download

Nghiên cứu sử dụng các phần mềm chuyên về xử lý, phân tích và giải đoán ảnh viễn thám để thành lập bản đồ về các loại hình đất ngập nước, lấy ví dụ ở khu vực ven biển thuộc huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định

 http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/phanmemsulyanh-1.png
Mục tiêu:

-  Nghiên cứu kỹ thuật xử lý ảnh viễn thám ở dạng số để chiết tách thông tin và nâng cao khả năng tự động hóa trong việc thành lập các loại bản đồ chuyên đề.
-  Nghiên cứu khả năng sử dụng các loại ảnh viễn thám hiện có ở trung tâm Viễn thám để thành lập bản đồ phân bố của các loại hình đất ngập nước.

Nội dung chính:

-  Nghiên cứu khả năng thông tin ảnh viễn thám để xác định các loại hình đất ngập nước.
-  Nghiên cứu một số phần mềm chuyên về xử lý và phân tích ảnh; ứng dụng phần mềm phù hợp để chiết tách thông tin về các loại hình đất ngập nước từ ảnh viễn thám.
-  Thành lập bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước tỷ lệ 1/25 000 ở khu vực ven bienẻ huyện Xuân Thủy, gồm việc thu thập tài liệu /số liệu; khảo sát ngoại nghiệp, xử lý, phân tích và giải đoán ảnh vệ tinh dạng số; điều tra kiểm chứng ở thực địa; số hóa và biên tập bản đồ.

Sản phẩm của đề tài:

-  Báo cáo đánh giá về khả năng thông tin của một số loại ảnh vệ tinh theo nội dung của bản đồ cảu các loại hình ĐNN (đất ngập nước).
-  Bình đồ ảnh vệ tinh - 1 mảnh tỷ lệ 1/25 000.
-  Bản đồ phân bố các loại hình ĐNN khu vực vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định - 1 mảnh tỷ lệ 1/25 000.
-  Báo cáo đề xuất về việc sử dụng các loại ảnh vệ tinh hiện có tại trung tâm Viễn thám để thành lập bản đồ phân bố các loại hình ĐNN ở Việt Nam.
-  Báo cáo về khả năng sử dụng phương pháp giải đoán ảnh số để thành lập các loại bản đồ chuyên đề.
-  Bài báo Đặc san Viễn thám và Địa tin học.

Chủ nhiệm đề tài: KS. Vũ Bích Ngọc - TT Viễn Thám Quốc Gia

Độc giả tải đề tài đầy đủ tịa đây: 

Khảo sát khả năng ứng dụng ảnh vệ tinh ENVISAT/MERIS trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường

http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/QUANGTRI_051010xuat.jpg
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/NgheAnxuat201010.jpg 
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/HaTinhxuat201010.jpg
.Mục tiêu:

-  Tìm hiểu khả năng ứng dụng của ảnh MERIS trong việc giám sát tài nguyên và môi trường.
-  Chuẩn bị cho việc sử dụng hiệu quả nguồn tư liệu ảnh vệ tinh thu nhận tại trạm thu ảnh vệ tinh của Việt Nam sẽ bắt đầu hoạt động từ năm 2008.
-  Thử nghiệm sử dụng ảnh vệ tinh MERIS để thành lập bản đồ phân bố chất diệp lục (Chlorophyll) trong nước biển và giám sát thực phủ trên đất liền.
Nội dung chính:
-  Thu thập đánh giá các nghiên cứu về việc sử dụng ảnh vệ tinh độ phân giải trung bình trong việc nghiên cứu hàm lượng chất diệp lục trong nước biển và trong tán lá cây.
-  Nghiên cứu cấu trúc, đặc tính và  các thông số kỹ thuật của ảnh vệ tinh MERIS, phương pháp xử lý ảnh vệ tinh MERIS, các ứng dụng cuả ảnh vệ tinh MERIS trong lĩnh vực giám sát tài nguyên và môi trường. So sánh thông số kỹ thuật của ảnh MERIS với ảnh MODIS.
-  Nghiên cứu đặc tính phản xạ của chất diệp lục trong nước biển và trong tán lá cây.
-  Thu thập và nghiên cứu các thuật tóan đã được phát triển để đánh giá hàm lượng chất diệp lục trong nước biển và trong tán lá cây.
-  Thành lập bản đồ phân bố chất diệp lục trong nước biển.
-  Thành lập bản đồ hiện trạng lớp phủ dựa trên chỉ số chất diệp lục trong tán lá cây.
-  Phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm.
-  Đề xuất quy trình xử lý ảnh MERIS để đánh giá hàm lượng chất diệp lục trong nước biển và hàm lượng chất diệp lục trong thực phủ.

Sản Phẩm của đề tài:

-  Quy trình sử dụng ảnh vệ tinh MERIS để đánh giá hàm lượng chất diệp lục trong nước biển và tán lá cây.
-  Phương pháp xử lý ảnh MERIS.
-  Bài báo Đặc san Viễn thám và Địa tin học.
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trần Tuấn Ngọc (TT Viến Thám Quốc Gia)
Độc giả Download đề tài đầy đủ tại đây:

Nghiên cứu xây dựng mô hình dữ liệu GIS theo thời gian để quản lý dữ liệu mạng lưới điện

 http://www.huesoft.com.vn/Portals/0/Huesoft-EGIS/HS-egis_ms2_Pic3.jpg
Mục tiêu “Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS theo thời gian để quản lý dữ liệu mạng lưới điện phạm vi cấp tỉnh”; nhằm giải quyết mục tiêu này, đề tài đã sử dụng cơ chế archiving geodatabase của phần mềm ESRI để quản lý dữ liệu mạng lưới điện theo chuỗi thời gian (time series). Nội dung của bài báo được trình bày thành 5 phần: 
  • Phần 1 đặt vấn đề: giới thiệu về sự cần thiết của đề tài.
  • Phần 2 tổng quan: đề cập đến những nội dung đã được nghiên cứu trước đây mà nhóm tác giả có thể tìm thấy được; trong nội dun g này cũng được đề cập đến phạm vi mạng lưới điện đề tài quan tâm . 
  • Phần 3 phân tích thiết kế mô hình dữ liệu: mô tả cơ chế hoạt động của archiving geodatabase, các chức năng cơ bản của thao tác trên version ; phân tích và mô hình hóa dữ liệu mạng lưới điện;
  • Phần 4 khai thác version: cài đặt version cho dữ liệu mạng lưới điện để quản lý theo chuỗi thời gian; đồng thời sử dụng công cụ để so sánh đối chiếu sự khác nhau giữa các version.
  • Phần 5 kết luận: trình bày kết quả đã đạt, những hạn chế và hướng phát triển của đề tài.
Theo nhiều đánh giá, thành phần dữ liệu là thành phần rất quan trọng, nó chiếm từ 70 đến 80% kinh phí và thời gian để xây dựng một hệ thống ứng dụng GIS; giá trị hệ thống phụ thuộc rất nhiều vào độ chính xác, tính lịch sử và tính thời sự của dữ liệu. Trong khi thành phần phần cứng ngày càng giảm giá trị; thì ngược lại, giá trị dữ liệu ngày càng tăng theo thời gian; do đó việc quản lý dữ liệu theo thời gian, lưu lại lịch sử thay đổi của thông tin là rất cần thiết.
Ở Việt Nam những năm gần đây, một số ngành (như cấp nước, môi trường, xây dựng, công nghiệp,…) đã ứng dụng GIS vào công tác quản lý, nhưng hầu hết việc ứng dụng GIS mới chỉ dừng lại ở việc số hóa dữ liệu từ nguồn dữ liệu giấy và viết một vài công cụ phục vụ tra cứu, tìm kiếm dữ liệu. Việc thiết kế ứng dụng mô hình dữ liệu GIS để quản lý dữ liệu theo thời gian hầu như chưa được nghiên cứu và triển khai ứng dụng; chính vì vậy, khi kết quả ứng dụng GIS được đưa vào sử d ụng thì việc cập nhật, quản lý dữ liệu gặp rất nhiều khó khăn; do dữ liệu được cập nhật mới đồng nghĩa với dữ liệu cũ bị mất đi, nên khi muốn tra cứu, so sánh sự thay đổi của dữ liệu theo thời gian thì không thể thực hiện được.
Báo cáo đầy đủ độc giả download tại đây: Download

Xác định chỉ số thực vật trong idrisi

Để đánh giá độ phủ của thực vật ngoài cách tổ hợp ảnh kênh 4,3,2 thì có cách ngon hơn đó là xác định chỉ số thực vật, có rất nhiều chỉ số ở đây Climate GIS xin được giới thiệu cách tính chỉ số NDVI(Normalized Difference Vegetation Index) bằng idrisi.
NDVI có thể định nghĩa như là tỉ số
giữa NIR và VR
NDVI = NIR / VR
Hoặc log( NIR/VR )
Hoặc ( NIR - VR ) / ( NIR+VR) ( công thức này được dùng phổ biến)
Với Thực vật hấp thụ Visible Red (VR) , phản xạ Near Infrared (NIR)
Đối với từng loại ảnh viễn thám thì kênh ảnh tương ứng cho VR và NIR như sau:
NIR VR
Landsat MSS: B7 B5
Landsat TM: B4 B3
SPOT XS: B3 B2
NOAA AVHRR: B2 B1
Các bước thực hiện trong Idrisi
Vào image processing>Transformation>Vegindex


Vì ảnh đàu vào của mình là ảnh Lansat TM nên Reb band tương ứng với kênh 3, Infrared band là kênh 4
Kết quả

Chỉ số NDVI có giá rị từ -0.94 đến 0.82 ta có thể chia làm các cấp như sau
Từ -0.94 đến -0.5 là nước
Từ -0.5 đến 0.05 là thục vất cực thưa hoặc là mây
Từ 0.05 đến 0.6 là thực vật trung bình
Từ 0.6 đến 0.82 là thực vật dày
Ta tiến hành phân laọi ảnh này như sau ANALYSIS>DATABASE QUERY>RECLASS
với các thông số như sau


Kết quả

Để xác định diện tích các vùng sau khi phân loại ta dựa vào biểu đồ histogram

Do công cụ này dùng để tính chỉ số thực vật nên ta bỏ qua diện tích nước ( sai số lớn)
Từ biểu đồ ta tính được
Diện tích thực vật thưa hoặc mây 46724643*28.5*28.5= ? m^2
Diện tích thực vật trung bình 18367649*28.5*28.5=? m^2
Diện tích thực vật dày 146*28.5*28.5=? m^2
Nguồn: http://moitruongkhtn.com

Núi lửa phun trào nhìn từ vệ tinh

Cột tro bụi khổng lồ bốc lên giữa biển xanh bao la và núi non trùng điệp - xem ảnh để nhận ra rằng, thiên nhiên có vẻ đẹp lạnh lùng đến kinh ngạ.
 
Bức ảnh này được chụp bởi một phi hành gia trên trạm vệ tinh quốc tế ISS (International Space Station); cho thấy một cột khói, bụi và hơi nước rất lớn trào lên từ núi lửa Sarychev trên đảo Kuril ở Nga. Người ta tin cột bụi hỗn hợp này đã để lại một lỗ hổng lớn ở lớp mây phía trên nó.
 
Núi lửa Manam ở Papua New Guinea nhả một cột bụi nham thạch mỏng tựa như mây, che khuất đỉnh núi. Ảnh được chụp bởi hệ thống Advanced Land Imager (ALI) của NASA trên vệ tinh trắc địa Earth Observing-1 (EO-1) phía trên đảo Manam, cách đất liền Papua New Guinea khoảng 8 dặm (gần 13km).
Bức ảnh cho thấy góc nhìn từ vũ trụ tại một địa điểm nằm trong khu vực phun trào nham thạch lớn nhất trong thế kỷ 19, Krakatoa; nằm giữa đảo Java và Sumatra của Indonesia. Đây là bức ảnh ngày 31 tháng 7 năm 2011, cho thấy một cột khói mờ ảo bốc lên từ đỉnh núi. 

 
Một bức ảnh vệ tinh chụp đỉnh núi lửa St Helens ở hạt Skamania, bang Washington, Mỹ. Địa hình của đỉnh núi này đã được hình thành trong một lần phun trào nham thạch dữ dội vào ngày 18 tháng 5 năm 1980; sau nhiều tháng hoạt động liên tiếp.
 
Một bức ảnh vệ tinh SPOT cho thấy một cột khói lớn bốc lên từ núi Etna; nằm ở phía đông đảo Sicily, Italia. Núi Etna là núi lửa lớn nhất và hoạt động thường xuyên nhất ở châu Âu.
 
Ngày 22 tháng 6 năm 2011; núi Etna trên đảo Sicily nhả một làn bụi không nhỏ, che phủ hầu hết các con phố ở thành phố Catania. Lần phun trào này đã mở ra 5 vết nứt trên mặt núi và nhả ra cột bụi kéo dài về phía Đông Nam qua Địa Trung Hải.
 
Một bức ảnh vệ tinh DigitalGlobe cho thấy sự phun trào của đỉnh núi Merapi ở Indonesia. Nằm ở ngoại ô thành phố Yogyakarta, núi Merapi bắt đầu nhả ra những luồng khí gas rất nóng, đi kèm với mây bụi nham thạch từ hơn hai tuần trước; khiến 194 người tử vong và hơn 320.000 người đã phải di tản khỏi khu vực lân cận.
 
Những đỉnh núi lửa bị bao phủ bởi tuyết trên đảo Aleutjan ở Alaska; được chụp bởi máy ảnh ASTER trên vệ tinh quỹ đạo Terra của NASA.
 
Được chụp bởi vệ tinh SPOT 4 do Astrium sản xuất; bức ảnh này cho thấy sự hình thành của một vết nứt mới trong khu vực núi lửa Puyehue Cordon-Caulle, cách Santiago, Chile 800km về phía Nam.
 
Một bức ảnh biến màu được chụp bởi máy ảnh ASTER trên vệ tinh Terra của NASA cho thấy một cột khói hơi rất lớn bốc lên từ đỉnh núi lửa Chaiten ở Chile.
 
Đỉnh Cleveland trên đảo Aleutian, Alaska phun trào, tro bụi của nó đạt tới độ cao 1730m; nhìn từ trạm vệ tinh quốc tế ISS.
 
Đỉnh núi Kilimanjaro ở Đông Bắc Tanzania, chụp bởi vệ tinh GeoEye-1 của Mỹ.

Mây bụi tro phủ kín đỉnh Eyjafjallajokull (ở Iceland) và lan rộng về phía Nam, băng qua Bắc Đại Tây Dương.

Một bức ảnh được chụp bởi vệ tinh EO-1 (Earth Observing-1) của NASA cho thấy sự phun trào của đỉnh núi lửa Eyjafjallajokull.

Núi lửa Shiveluch (hay Sheveluch), một trong số những núi lửa lớn nhất và hoạt động mạnh nhất ở Kamchatka, Nga; được chụp bởi hệ thống ALI trên vệ tinh EO-1 của NASA.

Một đám mây bụi tro màu sáng trải dài trên dãy Andes trong bức ảnh màu tự nhiên này, được chụp bởi hệ thống MODIS trên vệ tinh Terra vào sáng ngày 6 tháng 6 năm 2011; trong lúc núi lửa Puyehue-Cordon Caulle tiếp tục phun trào.

Vệ tinh Terra của NASA chụp được một bức hình cho thấy mây bụi tro từ một lần phun trào của núi lửa trong dãy Puyehuye-Cordon Caulle ở Chile, ngày 13 tháng 6 năm 2011. Gió đổi chiều so với ngày hôm trước, và vào lúc chụp ảnh, gió đang thổi từ phía Tây và Tây Nam, đẩy luồng khói bụi về phía Đông và Đông Bắc.

Một bức ảnh của NASA về núi lửa Klyuchevskaya ở Nga đang phun trào, chụp bởi hệ thống ALI trên vệ tinh EO-1.

Bức ảnh vệ tinh quan sát địa cầu của NASA này cho thấy những hoạt động của núi Kilauea ở Hawaii, một trong những núi lửa hoạt động mạnh nhất thế giới.

Nhiều đỉnh núi lửa xuất hiện trong khu vực này, với địa hình và tuổi của các loại đá được chỉ ra bằng những màu sắc khác nhau trên những dải tần nhật; được vẽ bởi hệ thống ETM+ trên vệ tinh Landsat 7 của NASA đang nằm trên biên giới Chile và Argentina.

Một bức ảnh được công bố bởi NASA cho thấy khói lan ra từ Grimsvoetn, ngọn núi lửa hoạt động mạnh nhất Iceland. Các nhà chức trách đã ra lệnh ngừng tất cả hoạt động hàng không của Iceland ngay sau khi tro bụi của nó bắt đầu vươn tới độ cao 20km trên không, khiến mọi người e ngại rằng lịch sử bay kinh hoàng năm ngoái sẽ lặp lại.

Đỉnh Bromo (ở phía trên) và đỉnh Semeru (dưới) ở khu vực Tennger Đông Java, Indonesia. Hai ngọn núi này đều đang hoạt động giữa một vùng đồng bằng lớn được gọi là Biển Cát. Đỉnh Semeru là đỉnh núi cao nhất trên đảo Java.

Đỉnh núi Phú Sĩ cao 3776m, là đỉnh núi lửa cao nhất Nhật Bản, được chụp từ trạm vệ tinh quốc tế ISS.

Một đám mây bụi (phía trên bên trái) dâng lên từ núi lửa Chikurachki trên đảo Paramushire, một phần của quần đảo Kuril ở giữa Nga và Nhật Bản, được chụp bởi trạm vệ tinh quốc tế ISS. Tro bụi đã biến hòn đảo đang được phủ trắng bởi tuyết trở nên xám xịt. 
Nguồn: http://kenh14.vn

Ảnh IKONOS, Ảnh QuickBird, Ảnh SPIN, Ảnh OrbView, Ảnh ARIES

Ảnh IKONOS
http://blog.zenpoo.com/wp-content/uploads/2011/09/clip_image001.jpg
Ảnh IKONOS được thu từ vệ tinh tạo ảnh vũ trụ phân giải siêu cao IKONOS được phóng lên quỹ đạo cân cực vào ngày 24 tháng 9 năm 1999 tại độ cao 682 km, cắt xích đạo vào 10:30 phút sáng. Độ lặp lại quỹ đạo tại một điểm trên trái đất là sau 11 ngày, độ rộng của ảnh trên mặt đất là 11km, và độ phủ là 11 x 11 km. Ảnh có trên 4 kênh đa phổ với độ phân giải là 4 m và kênh toàn sắc độ phân giải là 1m. Các kênh đa phổ và kênh toàn sắc kết hợp cho phép tạo ảnh có độ phân giải 1m giả mầu. Dữ liệu số có cấu trúc là 11 bit
(2048 mức xám). IKONOS có thể nhìn vào vật, vào đối tượng và cố định vài giây và có thể hướng theo đối tượng khảo sát. Các thông số kỹ thuật của IKONOS được nêu trong bảng.
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/IKONOSCliamtegis.png
 Ảnh QuickBird
http://img684.imageshack.us/img684/1625/vtth.png
Ảnh QuickBird là ảnh có độ phân giải không gian cao nhất hiện nay cho ra kênh toàn sắc có độ phân giải là 0.61 m và độ phân giải của các kênh đa phổ là 2.44 m, trường phủ mặt đất của ảnh là 16.5km x 16.5km. QuickBird cho ảnh độ phân giải 0,7 m ghép kênh toàn sắc tổ hợp với kênh hồng ngoại. Với độ phân giải cao ảnh QuickBird được sử dụng trong nhiều lĩnh vực cần độ chính xác lớn, như quy hoạch sử dụng đất, xác định chính xác các đối tượng, thành lập bản đồ giao thông,… Hiện nay ảnh QuickBird được sử dụng phổ biến vào các lĩnh vực dân sự, an ninh, quản lý môi trường.
Ảnh SPIN
http://www.fas.org/irp/imint/spin2_fulton.jpg
Ảnh SPIN-2 được thu từ vệ tinh SPIN (Space Information Meter) của Nga, ảnh được thu từ độ cao 220km, các bức ảnh chụp có tỷ lệ 1:200.000 với từng cảnh chụp phủ một diện tích có kích thước là 40km x 160km, kích thước trung bình của pixel ảnh trên mặt đất là 1,56m. Ảnh SPIN chủ yếu được dùng vào mục đích quân sự.
Ảnh OrbView
 http://4.bp.blogspot.com/-JoxqVBExnZk/TyBOlt3XQrI/AAAAAAAAEvc/KFsBNPMt81k/s1600/Bucharest_orbview3.png
Ảnh OrbView thuộc thế hệ vệ tinh OrbView-4 có 200 kênh phổ, với độ phân giải không gian là 8m, độ lặp lại của một điểm trên mặt đất là 3 ngày, được ứng dụng để nghiên cứu các kiểu vật chất trên mặt đất. Dữ liệu của ảnh OrbView chủ yếu phục vụ cho quân đội Mỹ trong việc giám sát thông tin trên mặt đất.
Ảnh ARIES
http://www.wri.org/files/wri/GBR.jpg
Ảnh ARIES (Australia Resource Information and Environmental Satellite) là loại ảnh siêu phổ với số kênh phổ là 105 kênh trên dải sóng từ 0,49 đến 0,25km, cho độ phân giải là 30m với độ phủ mặt đất là 15km x 15km, độ nhìn lặp một điểm là 7 ngày, kênh toàn sắc có độ phân giải là 10m. Mục đích của ảnh này là dùng vào việc khai khoáng, ngoài ra còn được dùng vào mục đích nghiên cứu nông nghiệp, rừng, đất ẩm và điều tra môi trường.

Ảnh SPOT

http://rsc.gov.vn/chuyende/images/2003.jpg
Ảnh SPOT được thu từ bộ cảm HRG đặt trên vệ tinh SPOT (Systeme Pour L’observation de La Terre) do trung tâm nghiên cứu không gian của Pháp (CNES – French Center National d’etudies Spatiales) thực hiện có sự tham gia của Bỉ và Thụy Điển. Ảnh SPOT tương đối đa dạng về dải phổ và độ phân giải không gian từ thấp, trung bình đến cao (5m-1km), trường phủ mặt đất của ảnh SPOT cũng tương đối đa dạng từ 10km x 10km đến 200km x 200km. Ảnh SPOT có thể thu ảnh của từng ngày, thường vào 11h sáng.
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/SpotCliamtegis.png\
Ảnh SPOT thuộc thế hệ vệ tinh SPOT-1,-2,-3 ảnh có hai dạng là: ảnh toàn sắc (panchromatic) có độ phân giải không gian là 10m x 10m và ảnh đa phổ với độ phân giải không gian là 20m x 20m. Ảnh SPOT thuộc thế hệ vệ tinh SPOT-4, được thu từ thiết bị bộ cảm HRVIR là ảnh thu liên tục trong dải phổ nhìn thấy và hồng ngoại và có độ phân giải 20m x20m.
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/SpotCliamtegis1.png
Đối với các ảnh SPOT thuộc thế hệ SPOT-5 được thu từ bộ cảm có độ phân giải hình học cao HRG (High Resolution Geometric) là 5m thay cho 10m ở kênh toàn sắc và 5m cho các kênh xanh, đỏ, cận hồng ngoại và 20m đối với kênh hồng ngoại trung. Thế hệ vệ tinh SPOT-5 còn trang bị thiết bị riêng để đo thực vật trong dải phổ nhìn thấy và cận hồng ngoại với độ phân giải không gian 1000mx100m và ảnh được cập nhật hàng ngày. Hiện nay ảnh SPOT được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất, khai khoáng trong địa chất, thành lập bản đồ tỷ lệ 1:30.000 đến 1:100.000, nghiên cứu về thực vật ở cấp độ khu vực,… ảnh SPOT có thể ghi phản xạ phổ của toàn mặt đất với sự khác biệt về dữ liệu, độ phân giải cao và có khả năng nhìn nổi, nhạy cảm về phổ hồng ngoại cho thực vật.

Ảnh ASTER

http://k14.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/09/07/110907kpnuiluaphuntrao10.jpg
Ảnh ASTER được thu từ bộ cảm ASTER đặt trên vệ tinh Terra, độ phủ của ảnh là 60km. Bộ cảm ASTER được cấu thành từ 3 phụ hệ riêng rẽ, mỗi hệ phụ hoạt động trên một hệ quang riêng biệt. Các hệ phụ này là nhìn thấy và hồng ngoại gần (VNIR), bao gồm các kênh phổ 1-3, hồng ngoại sóng ngắn (SWIR) gồm các kênh phổ 4-9 và hồng ngoại nhiệt (TIR) gồm các kênh phổ 10-14.
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/AsterCliamtegis.png

Các ứng dụng chính của ảnh ASTER là: Quan sát đất liền, biển, mặt tuyết, quá trình mây; Nghiên cứu về động lực và cấu trúc của thực vật. Nghiên cứu về cân bằng phóng xạ của khí quyển, mây và sự mở rộng và đặc tính tầng đối lưu; Xác định nồng độ và biến động của các khí nhà kính. Nghiên cứu về núi lửa và các quá trình bề mặt của trái đất.

Ảnh VHARR - Ảnh NOAA

http://www.khoahoc.com.vn/photos/Image/2006/09/16/El_nino.jpg
Ảnh được thu từ vệ tinh NOAA (National Ocenic and Atmospheric Administration) là vệ tinh nghiên cứu khí tượng. Dữ liệu của ảnh có tính chất toàn cầu được đưa về độ phân giải 4km và được cung cấp một ngày một lần trên dải sóng nhìn thấy và dải phổ hồng ngoại, trường phủ mặt đất của ảnh là 2400km. Dữ liệu ảnh NOAA dùng trong việc lập bản đồ nhiệt độ, tuyết phủ, điều tra lụt, nghiên cứu thực vật, phân tích độ ẩm đất trên cấp độ khu vực, lập bản đồ nhiên liệu, tìm kiếm cháy, lập bản đồ bụi và bão cát, nghiên cứu biến đổi khí hậu và các ứng dụng trong địa chất như nghiên cứu núi lửa, nghiên cứu mạng lưới sông suối có tính chất khu vực và các yếu tố khác. Ảnh NOAA đã được sử dụng để nghiên cứu thực vật trên diện rộng. Các kênh phổ được sử dụng trong nghiên cứu nằm trong dải sóng nhìn thấy (0,58 -0,68μm) và kênh 2 dải sóng hồng ngoại gần (0,73-1,1μm). Tổ hợp các thuật toán xử lý ảnh cho phép nghiên cứu khả năng nhạy cảm về điều kiện của thực vật xanh. Một trong các tỷ số được xác định là chỉ số thực vật NDVI = (phổ hồng ngoại gần – phổ nhìn thấy)/(phổ hồng ngoại gần + phổ nhìn thấy) và chỉ số thực vật đơn giản VI = phổ hồng ngoại – phổ nhìn thấy.
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/NOAACliamtegis.png