DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Tiết kiệm nước từ... nước “ảo”

http://images.yume.vn/buzz/20110531/laundry_saving-water.jpg
Ít ai biết được rằng để sản xuất 1 chiếc quần bò cần 6000lít nước, 75 lít nước để cho 1 cốc bia, 1kg pho mát cần 5000lít nước và sẽ là 150.000 lít nước để có 1 chiếc ô tô. Lượng nước khổng lồ phải tiêu tốn cho quá trình làm ra thực phẩm và hàng tiêu dùng, đó chính là... “nước ảo”. Bài toán tiết kiệm nước từ nước “ảo” là một câu chuyện hoàn toàn nghiêm túc.

Sôi động thị trường “giao dịch” nước ảo
Khái niệm “nước ảo” được nhà khoa học người Anh John Anthony Allan giới thiệu vào năm 1993. Phương pháp tính toán lượng nước cần thiết để làm ra thực phẩm và hàng tiêu dùng mang tên “Nước ảo” của giáo sư Allan nhằm giúp các nhà nghiên cứu có cơ sở đánh giá hợp lý mức độ liên quan giữa nguồn nước với các lĩnh vực nông nghiệp, biến đổi khí hậu, kinh tế và chính trị.
Theo tính toán này, cần đến 140 lít nước để làm ra một ly cà phê. Đó là số lượng nước cần để tưới tiêu, sản xuất, đóng gói và vận chuyển hạt cà phê. Nó tương đương với lượng nước mà một người ở Anh dùng cho sinh hoạt hàng ngày. Để làm ra một chiếc bánh hamburger phải tốn 2.400 lít nước từ việc trồng lúa mì, xay bột, làm nhân bánh, trồng rau... Để có 1 kg thịt bò, phải cần 15.340 lít nước. Bởi trong 3 năm nuôi một con bò cho 200kg thịt, nó đã ăn 1.300kg ngũ cốc (lúa mì, bắp, đậu nành, lúa mạch...) và 7.200kg cỏ. Để sản xuất lượng ngũ cốc và cỏ đó phải cần đến ba triệu lít nước. Lại còn cần thêm 24.000 lít nước cho con bò uống và 7.000 lít cho các hoạt động chăm sóc khác dành cho con bò.
“Nước ảo” có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách thương mại và nghiên cứu trên toàn cầu, đặc biệt là ở những khu vực khan hiếm nước. Nói là “ảo” song trong quá trình sản xuất, người ta đều lấy nước thật từ lòng đất, sông hồ... “Ảo” chỉ ở góc độ không nhìn thấy trong sản phẩm. Khái niệm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi đặt nó trong thị trường nước và giao dịch nước ảo.
Ông Daniel Zimmer, giám đốc Hội đồng thế giới về nước từng cho rằng: “Thái độ không có ý thức là nguyên nhân của sự tiêu dùng nước ở mức ghê gớm. Và sự trái ngược giữa các lục địa hiện ra rất rõ: ở châu Á, một người dùng khoảng 1400 lít nước ảo mỗi ngày, trong khi đó ở châu Âu và Bắc Mỹ lên tới 4000 lít”. Ông cho biết trong số các nước xuất khẩu nhiều nước có Mỹ, Canada, Thái Lan, Pháp và Ấn Độ; trong số các nước nhập khẩu nhiều nước có Sri Lanka, Nhật Bản, Hà Lan và Tây Ban Nha.
Tiết kiệm nước từ nhập khẩu nước ảo?
http://energytwodotzero.org/wp-content/uploads/2011/08/graphic.jpg
Theo một nghiên cứu khoa học, trong gần 5 năm, khối lượng trao đổi nước ảo trên thế giới liên quan đến các sản phẩm có nguồn gốc nông nghiệp tính bình quân khoảng 695 tỷ m3 mỗi năm, bằng 13% mức tiêu thụ nước trong nông nghiệp của thế giới. Thế nhưng các tài liệu phân tích cho thấy Ấn Độ, một trong số các quốc gia xuất khẩu nước ảo nhiều nhất sẽ phải đương đầu với những thời kỳ thiếu nước trầm trọng trong tương lai.
Bởi vậy, theo lý thuyết nước ảo, chính phủ các nước có thể sử dụng nước một cách hiệu quả và có chính sách sản xuất và xuất, nhập khẩu hợp lý. Những quốc gia khan hiếm nước có thể nhập khẩu thực phẩm như một nguồn “nước ảo” để giảm nhẹ áp lực thiếu nước.
Bà Nguyễn Thị Phương, Phân viện Khí tượng thủy văn và Môi trường phía Nam cho rằng, nếu một quốc gia nhập khẩu lúa mì thay vì tự sản xuất thì quốc gia đó tiết kiệm được 1.300 m3 nước thật. Nếu quốc gia đó khan hiếm nước thì họ có thể dùng lượng nước “tiết kiệm” được do nhập khẩu lúa mì để dùng cho các mục đích khác cần thiết hơn. Chính vì vậy trao đổi nguồn nước ảo là một phương tiện có thể khắc phục tình trạng thiếu nước ở một số quốc gia. Việc buôn bán nước ảo có thể tạo ra sự cân bằng về tiêu dùng nước giữa các quốc gia.
Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu lúa và là một trong những nước có lượng xuất khẩu chè, cà phê, hạt điều...lớn. Theo lý thuyết nước ảo, để làm ra một kg gạo trắng ta phải tốn 3400 lít nước, để làm ra một ly cà phê cần 140 lít nước... là một nước có tiềm lực xuất khẩu lương thực nghĩa là chúng ta đã xuất đi một lượng nước rất lớn mỗi năm. Trong khi nhu cầu nước ngày càng lớn thì nguồn nước lại không dồi dào, phụ thuộc nhiều từ các sông quốc tế. Bởi thế, theo bà Nguyễn Thị Phương, về lâu dài, cần xem xét việc quy hoạch sản xuất phù hợp với nguồn nước ở khu vực, từng địa phương mang tính vĩ mô trong cả nước. 
Nguồn: moitruongdulich.vn

Nước ảo, dấu chân nước và những thách thức đối với tài nguyên nước ở Việt Nam.

Theo Tổ chức Liên hợp quốc về Tài nguyên nước (UN Water), lượng nước ảo của một sản phẩm là khối lượng nước được dùng để sản xuất ra sản phẩm, được đo đạc tại nơi sản xuất thực tế. Lượng nước ảo cũng có thể định nghĩa là khối lượng nước cần thiết đối với sản phẩm tại vị trí nơi sản phẩm đó tiêu thụ nước. Tính từ "ảo" muốn chỉ thực tế là hầu hết nước dùng để sản xuất ra sản phẩm, nó không chứa trong sản phẩm.
Dấu chân nước được định nghĩa là tổng lượng nước dùng trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ bởi một cá nhân, cộng đồng hay được tạo ra bởi một doanh nghiệp. Dấu chân nước của một quôc gia là tổng lượng nước dùng trong sản xuất tất cả các hàng hóa và dịch vụ được cư dân của quốc gia đó tiêu thụ.
Có thể nhận biết sự khác biệt giữa khái niệm nước ảo và dấu chân nước qua đơn vị tính của chúng. Trong khi đơn vị tính của nước ảo là m nước/tấn sản phẩm thì đơn vị tính của dấu chân nước là m3 nước/đầu người/năm hay m3 nước/năm. Lấy ví dụ: Làng A có 1.000 ha lúa nước, canh tác 2 vụ lúa/năm, năng suất lúa cả năm là 8 tấn/ha, nhu cầu dùng nước của lúa nước là 10.000 m3/ha/năm. Như vậy, lượng nước ảo sản xuất lúa của làng A sẽ là 10.000 m3/ha: 8 tấn/ha = Ì .250 m3/tấn. Dấu chân nước của sản xuất lúa tại làng A là 10.000 m3/ha X 1.000 ha = 10.000.000 m3 nước.
Khái niệm về nước ảo và dấu chân nước được sử dụng để mô tả các mối quan hệ trong quản lý tài nguyên nước (TNN), ngoại thương và các vấn đề chính trị, chính sách và sử dụng tài nguyên nước khi nó gắn với việc tiêu thụ nước của con người. Chúng được dùng để minh họa cho ảnh hưởng thực tế của hoạt động kinh tế đến nước.
Lượng nước ảo của các thức ăn dao động mạnh tùy theo sản phẩm và tùy theo quốc gia hay vùng. Trong số các nông sản, lúa cần nhiều nước nhất: đến 2.291m3 cho một tấn so với 1.334 m3 cho lúa mì. Chăn nuôi cũng cần rất nhiều nước để cho gia súc an, uống và để chăm sóc chúng. Chẳng hạn, trong 3 năm nuôi một con bò cho được 200 kg thịt, nó đã ăn đến Ì .300 kg ngũ cốc (lúa mì, bắp, đậu nành, lúa mạch...) và 7*200 kg cỏ. Để sản xuất lượng ngũ cốc và cỏ đó phải cần đến 3 triệu lít nước. Lại còn cần thêm 24.Ỏ00 lít nước cho con bò uống và 7.000 lít cho các hoạt động chăm sóc khác dành cho con bò. Tóm lại, để có Ì kg thịt bò, phải cần đến 15.340 lít nước. Đối với các sản phẩm công nghiệp cũng thế. Trên thế giới, bình quân cần đến 80 lít nước cho mỗi USD sản phẩm. Nhưng ở Mỹ phải cần đến 100 lít, so với khoảng 50 lít ở Đức và Hà Lan, 20 hay 25 lít ở Trung Quốc và Ân Độ.
 Xét theo quan điểm khai thác sử dụng nước trên phạm vi toàn cầu, các quốc gia khan hiếm nước có thể nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ cần nhiều nước, và các nước có tài nguyên nước phong phú có thể tận dụng lọi thế của mình thông qua việc xuất khẩu các hàng hóa hay dịch vụ này. Trong khi việc buôn bằn mang lại lợi ích to lớn này đã được thực hiện trên nhiều vùng trên thế giói, nhưng nhiều nước lại không khuyến khích hoặc không có lợi từ loại hình thương mại đó.
Các sản phẩm cần nhiều nước để sản xuất ra đang được giao dịcĩ qua một khoảng cách rất lớn giữ các quốc gia nhập khẩu và xuấ khẩu dưới dạng nước ảo như hàn hóa nông nghiệp và công nghiệp Khối lượng toàn cầu của các đòn nước ảo trong các mặt hàng Ì 1.625 tỷ m3/một năm, chiế khoảng 40% tổng lượng nước tiê thụ. Khoảng 80% những dòng mí' ảo liên quan đến thương mại sản phẩm nông nghiệp và phần còn 1ại liên quan đến các sản phẩm côn nghiệp.
Xét trên phạm vi toàn cầu, nưy có thể tiết kiệm nếu sản phẩm dư. mua bán từ những nước có hiệu su sử dụng nước cao cho các nước c hiệu suất sử dụng nước thấp. Ví d
Mêhicô nhập khẩu lúa mì, ngô và lúa từ Hoa Kỳ, nước này chỉ cần 7, Ì tỷ m3 nước cho một năm để sản xuất ra lượng nông sản xuất khẩu này, nhưng nếu Mêhicô sản xuất thì phải cần tới 15 tỷ m3 nước trong một năm. Từ góc độ toàn cầu đoi với thương mại ngũ cốc này sẽ tiết kiệm được 8,5 tỷ m3 nước/năm. Mặc dù có một số nước có hiệu suất sử dụng nước thấp xuất khẩu sản phẩm sang các nước có hiệu suất sử dụng nước cao nhưng lượng nước tiết kiệm toàn cầu thông qua thương mại quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp đã được ước tính khoảng 350 tỷ m3 nước/năm, tương đương với 6% khối lượng nước toàn cầu sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. Nhiều quốc gia, bao gồm Nhật Bẩn, Mêhicô và hầu hết các nước ở châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi có nước nhập khẩu ròng ảo. Như thế, an ninh tài nguyên nước của nhiều nước phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên nước của các nước khác.
Theo nhận định của Viện quốc tế nghiên cứu về các chính sách lương thực (IFPRI), các nước đang phát triển sẽ phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu nông sản, từ con số 107 triệu tấn nhập khẩu năm 1995 lên 245 triệu tấn năm 2025. Sự gia tăng này (lên tới 138 triệu tan) tương đương với mức tiết kiệm 147 km3 nước trong những điều kiện về năng suất đã dự kiến, tức 8% tổng lượng nước tiêu thụ và 12% mức tiêu thụ nước để tưới cho đất tại các nước đang phát triển năm 2025. Sự tiết kiệm nước và đất từ việc gia tăng nhập khẩu, như vậy tại các nước đang phát triển đặc biệt có lợi nêu việc nhập khẩu này bắt nguồn tò sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cỷ vi?c thu được số ngoại tệ cần thiết để thanh toán số hàng nhập khẩu. Ngược lại, khi sản phẩm Ịư^g thực được nhập khẩu với số lượng lớn bởi vì sự phát triển và kinh tế không đáp ứng nổi nhu cầu ve các mặt hàng cơ ban thì những yâ" đề nghiêm trọng về an ninh lương thực sẽ xuất hiện. Một số nước lúc đó có nguy cơ không thể Gài thọ nổi theo cách thường xuyên các nhu cầu nhập khẩu cần
nỉ* ù Điều này có nêuy cơ trô uiành thực tế tại các nước châu Phi
và Trung Đông .
Lấy một phép tính đơn giản minh họa sự ảnh hưởng của việc . thay đổi thói quen ăn uống đến nguồn tài nguyên nước. Người ta ước tính rằng, người Trung Quốc đã ăn 20 kg thịt trong năm 1985 nhưng ăn hơn 50 kg trong năm 2009. Điều này làm cho nhu cầu ngày càng tăng đối với thức ăn chăn nuôi. Gia sử có Ì kg hạt ngũ cốc cần Ì .000 lít nước để sản xuất, do sự thay đổi chế độ ăn cho của 1,3 tỷ người dân Trung Quốc, dấu chân nước của Trung Quốc ước tính gia tăng vào khoảng 390 km3 nước. Tinh hình này cũng tương tự xảy ra ở các nước khác có nền kinh tế đang phát triển. Đối với những nước rất nghèo, thậm chí ăn hai bữa một ngày dấu chân nước của các nước nay cũng gia tăng một cách đáng kể.
Khái niệm về một dấu chân nước giúp chỉ ra mức độ và nơi sử dụng nước liên quan đến loại hình tiêu dùng... Mỹ có dấu chân nước 2.480 m3 / người/ năm, Trung Quốc có dấu chân là 700 m 7người/năm. Dấu chân nước trung bình toàn cầu là Ì .240 m3/người/năm.
Xét về TNN, Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các con song quốc tế. Tổng lượng nước mặt trung bình năm của việt Nam là khoảng 830 tỷ m và hơn 60% lượng nước này phát sinh từ bên ngoài lãnh thổ. 6 lưu vực phụ thuộc vào dòng chảy từ các nước khác là sông Cửu Long, có gần 95% tổng lượng nước đến trung bình năm là từ các nước thượng lưu sông Mê Công; sông Hồng - Thái Bình có gần 40% lượng nước mặt đến từ phần lưu vực nằm trong tanh thổ Trung Quốc; LVS
Mã và Cả có gần 30% và 22% tương ứng, lượng nước đến từ Lào; LVS Đồng Nai có gần 17% lượng nước đến từ Campuchia. Sông Bằng Giang - Kỳ Cùng cũng chảy từ Trung Quốc vào Việt Nam và sau đó lại chảy về Trung Quốc. Dòng chảy mặt trên LVS Sê San và Srê Pốk trên lãnh thổ Việt Nam chiếm 75% và 50% tổng lượng nước toàn lưu vực. Gần 57% tổng lượng nước của Việt Nam là cua LVS Cửu Long, hơn 16% trên sông Hồng -Thái Bình và hơn 4% trên LVS Đồng Nai.
Có thể sử dụng hai chỉ số chính để phản ánh thực trạng về lượng nước hiện có và áp lực lên nguồn nước của LVS Viẹt Nam. Chỉ số thứ nhất là lượng nước tính trên đầu người. Tổng lượng nước mặt của Việt Nam tính trên đầu người là 9.856 m3/năm, nhưng tỉ lệ này khác nhau nhiều giữa các lưu vực. Theo tiêu chuẩn quốc tế tổng lượng nước trên đầu người khoảng Ì .700 m3/năm được xem là đáp ứng đủ nhu cầu, với lượng nước bình quân đầu người từ 1.700 m3/năm đến 4.000 m3/năm được xem là thiếu nước không thường xuyên hoặc thiếu nước cục bộ. Với dân số và mức độ phát triển hiện tại, theo tiêu chuẩn này, LVS Đồng Nai và các LVS Đông Nam bộ đều đang đối mặt với nguy cơ thiếu nước không thường xuyên và cục bộ, trong khi các sông Hồng, Mã và sông Côn đang tiệm cận mức độ thiếu nước này.
Chỉ số thứ 2 là đánh giá về phần trăm lượng nước bị khai thác so tổng lượng nước trung bình năm của một LVS. Tiêu chuẩn quốc tế về "căng thẳng do khai thác nguồn nước" đề ra, mức độ căng thẳng trung bình bắt đầu với ngưỡng khai thác là 20%, và mức căng thẳng cao là trên 40%. Với mức độ sử dụng hiện tại, các LVS Mã, Hương ở trong tình trạng căng thẳng trung bình về nguồn nước (giữa 20% và 40%), và sông Đồng Nai cũng đang ở giới hạn này. Tất cả các sông khác đều đang có mức căng thẳng thấp. Tuy nhiên, vào mùa khô, 6 trong số 16 lưu vực được xếp loại là "căng thẳng trung bình" và 4 lưu vực khác được xếp loại "căng thẳng mức độ cao" (sông Mã, Hương và Đồng Nai). Mức độ căng thẳng cao nhất chính là các LVS thuộc Đông Nam bộ, với hơn 75% lượng nước mùa khô bị khai thác, và sông Mã với gần 80%. Các tỉ lệ trên cho thấy các hoạt động khai thác nước quá mức đã và sẽ tạo nên mức độ rất không bền vững cho các lưu vực.
Trên phạm vi cả nước, gần 82% tổng lượng khai thác nước mặt hiện tại là dùng cho tưới, 11% cho thủy sản, 5% cho công nghiệp và 3% cho đô thị. Trong đó có 3 lưu vực, lượng nước tưới chiếm hơn 90% lượng nước sử dụng. Lưu ý là thủy điện không được tính là đối tượng sử dụng nước vì thủy điện nhìn chung không "tiêu hao" nguồn nước, mặc dù no có thể làm thay đổi đáng kể chế độ dòng chảy và đôi khi còn chuyển nước từ sông này sang sông khác. Hiện tại, lượng nước đang được sử dụng hàng năm cho tất cả các mục đích khoảng 80,6 tỷ m3. Đến năm 2020, tổng lượng nước sử dụng sẽ tăng lên khoảng 120 tỷ m3, tức tăng thêm 48%. Trong đó, nước cho tưới tăng 30%, công nghiệp tăng gần 190%, đô thị 150% và nước cho nuôi trồng thủy sản là 90%. EĨự báo nhu cầu nước sẽ tăng đáng^ kể trên các LVS Trà Khúc, Côn, Ba, các LVS Đông Nam bộ, Sê San và Srê Pốk. '
Dân số gia tăng đì cùng với sự gia tăng sử dụng nước sẽ làm thay đổi lượng nước hiện tại và làm thay đổi mức "căng thẳng" ở các LVS. Dự báo dân số tới năm 2020 cho thấy, LVS Đồng Nai sẽ tiến gần tới mức thiếu nước nghiêm trọng nếu xét về tổng lượng nước hàng năm. Các LVS Đông Nam bộ, Hồng, Mã và Côn sẽ ở ngang hoác dưới mức thiếu nước. Các lưu vực còn lại sẽ có đủ nước cho nhu cầu cộng đồng trên cơ sở lượng nước trung bình năm. Tính cả dự báo sử dụng nước trong tương lai vào mùa khô tới năm 2020 trong chỉ số khai thác nguồn nước cho thấy lưu vực Đông Nam bộ trên ngưỡng 100%. Điều này có nghĩa là sử dụng nước dự báo sẽ vượt xa tổng lượng nước sẵn có trên lưu vực trong mùa khô. LVS Mã sẽ ở mức 100% và sông Côn đang tiến đến mức này. Các sông Hồng, Ba, Đồng Nai, Hương và Trà Khúc sẽ nằm trong khu vực chịu căng thẳng cao về nước. Các lưu vực khác sẽ nằm trong khu vực căng thẳng trung bình về nước, trong khi chỉ có LVS Sê San và Thạch Hãn sẽ không chịu áp lực về nước, mặc dù các lưu vực này cũng có thể sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước cục bộ.
Biến đổi khí hậu được xem là yếu tố làm thay đổi dòng chảy mặt hiện tại và chế độ mưa. Mô phỏng mô hình khí hậu Bộ TN&MT đang sử dụng cho thấy lượng mưa trung bình hàng năm sẽ tăng khoảng 5%, trong đó lượng mưa sẽ tăng nhiều ở miền Bắc hơn so với miền Nam. Hầu hết các mô hình cho thấy, trung bình lượng mưa tăng cao hơn lượng bốc hơi do nhiệt độ tăng, kết quả người ta dự đoán lượng dòng chảy trung bình sẽ tăng, khoảng 50 mm/năm (xấp xỉ lượng tăng 5%). Hầu hết lượng mưa tăng trung bình hàng năm được dự đoán sẽ diễn ra vào các tháng mùa mưa, chỉ có lượng nhỏ mưa tăng thêm trong mùa khô.
Việt Nam là một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu lúa và là một trong những nước có lượng xuất khẩu chè, cà phê, hạt điều... lớn. Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNN tình hình sản xuất của một số loại cây trồng như sau:
Như vậy, ước tính trong năm 2008, lượng nước ảo của lúa vào khoảng 1.400 m3/tấn và dấu chân nước sản xuất lúa vào khoảng 50 tỷ m3 (Diện tích canh tác lúa vụ Đông Xuân là 3 triệu ha, diện tích canh tác vụ hè thu là 2 triệu ha, nhu cầu dùng nước của lúa nước trong hai vụ khoảng 10.000 m3/ha). Dấu chân nước của sản xuất lúa chiếm khoảng 6% tổng lượng dòng chảy mặt (50/830 ty nẠ Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tất cả các hồ chứa của Việt Nam mới chỉ trữ được khoảng 5% tổng lượng dòng chảy mặt.
Năm
Là một nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, chúng ta đã xuất đi một lượng nước rất lớn mỗi năm. Trong khi chúng ta lại đang phải đối đầu với những thách thức lớn đã nói ở trên. sử dụng khái niệm nước ảo và dấu chân nước, tính toán ị lượng nước ảo và dấu chân nước ỉ trong công tác quy hoạch khai thác ị sử dụng nước, công tác hoạch định ị chính sách phát triển kinh tế - xã hội sẽ giúp chúng ta có cơ sở khoa học và thực tế hơn nhằm đạt tới việc khai thác hiệu quả, bền vững tài nguyên nước.
PGS.TS Bùi Công Quang
Đại học Thủy lợi – Hà Nội

Buôn bán nước ảo

Khái niệm nước ảo đã nêu ra cách đây khoảng 15 năm. Nó cho phép các quốc gia chú trọng đến việc tiết kiệm nguồn nước sẽ có thể thực hiện được khi nhập khẩu các sản phẩm. Chính nhờ sự buôn bán nước ảo mà các nước giàu về kinh tế nhưng nghèo về nguồn nước, cho đến nay vẫn không bị mất ổn định từ những cuộc chiến tranh vì màu xanh lam.
Nước ảo trên thị trường toàn cầu
Mỗi người cần khoảng 1.000m3 nước mỗi năm cho các nhu cầu của mình. Trong các nền kinh tế công nghiệp hóa, chúng ta uống khoảng một mét khối nước mỗi năm, chúng ta tiêu dùng 100m3 nước cho công việc gia đình. Những nghề nghiệp ở môi trường đô thị nói chung dùng rất ít nước. Nhu cầu nước trong ăn uống là rất lớn, nó chiếm tới 90%. Và trong khoảng 200 nước trên hành tinh, chỉ một số ít quốc gia tự có đủ nước.
Hầu như tất cả các nước phụ thuộc vào việc nhập khẩu nguồn nước dùng cho ăn uống. Khoảng một phần năm lượng thực phẩm được các nước sản xuất thừa nguồn nước xuất khẩu đến các nước tiêu thụ đang đối mặt với sự thiếu nước.
Như vậy, chính nguồn nước dùng để sản xuất thức ăn là một vấn đề chiến lược. Cần có khoảng 1.000m3 nước (1.000 tấn) để sản xuất một tấn lúa mì. Khi một nước giàu nước như Mỹ hoặc Pháp, bán một tấn lúa mì cho một nước thiếu nước thì người nhập khẩu tiết kiệm được toàn bộ dung tích nước đó. Cái "lợi" còn lớn hơn nữa khi nói về thịt, vì phải tốn một lượng nước tới hơn16 lần để sản xuất ra một tấn thịt bò so với lúa mì. Năm 1992, Tony Allan - giáo sư Trường Đại học Hoàng gia ở Luân Đôn, gọi nguồn nước đó là "nước ảo". ảo ở mức độ chính hàng hóa được trao đổi, chứ không phải lượng nước cần thiết cho sản xuất hàng hóa đó. Khái niệm này cho phép hiểu tại sao hoạt động buôn bán có những hậu quả trực tiếp đến nguồn nước ở các nước xuất khẩu. Nó cũng cho phép chúng ta hiểu tại sao, trong ba mươi năm cuối của thế kỷ XX, các vùng như Trung Đông đã phải đối mặt với sự thiếu nước nghiêm trọng nhưng lại không xảy ra các cuộc chiến vì vàng xanh lam. Đó chính là nhờ sự trợ cấp nông nghiệp của các nước công nghiệp hóa ở Bắc Mỹ và châu âu, với khoảng phân nửa giá thành của ngũ cốc được trao đổi trên thị trường thế giới.
Thực tế thì khái niệm "nước ảo" này vẫn khó được sử dụng công khai. Ví dụ như ở Trung Đông, người ta không nhất thiết nghĩ là phải có một diễn văn để giải thích rằng lo âu về sự thiếu nguồn nước quốc gia là vô ích, vì những sản phẩm ăn uống (trong đó có nước ảo) có thể nhập khẩu được. Tuy vậy, điều đó đã không ngăn cản các chính trị gia lợi dụng sự ảo này để vấn đề gai góc là thiếu nước đó không xuất hiện ở vị trí số 1 trên những phương tiện thông tin đại chúng.
Có thể kể ra ví dụ của Ai Cập. Nước này tự chủ được nguồn nước đến tận những năm 1970. Rồi, đối mặt với sự bùng nổ nhân khẩu, các nguồn nước ở trong nước không đủ nữa. Ngày nay, nước này rất phụ thuộc vào sự buôn bán nước ảo, đến mức phải nhập khẩu phân nửa các loại thực phẩm. Người ta có thể giả định rằng sự quá độ cực nhanh đó có thể làm cho đất nước mất ổn định, nếu dân số lại như trước kia và lại phụ thuộc vào hoạt động nhập khẩu. Trong chừng mực nào đó, sự ổn định hiện nay của Ai Cập dựa vào sự buôn bán nước ảo không trông thấy và thầm lặng đó.
"Sự không trông thấy" và "sự im lặng chính trị" của nước ảo còn tăng cường vì hơn 80% lượng nước cần thiết cho nông nghiệp là có từ trong đất, trừ mưa (đối lập với sự tưới tiêu). Nhưng các nhà kinh tế học không bao giờ định giá nước của đất: nước không trông thấy được là tuyệt đối không tính đến.
Sự thiếu nước ẩn giấu
Người  ta hiểu  vị  thế nổi trội của sự phát triển xã hội - kinh tế: một quốc gia phải đủ giàu để tự cho phép nhập khẩu thức ăn của mình nếu cần. Có thể nghĩ ngay đến Singapore, đất nước nhập khẩu không phải chỉ hầu hết lượng thực phẩm mà cả phân nửa lượng nước để dùng cho gia đình và công nghiệp. Jordanie thì có thể vừa đủ cung cấp cho nhu cầu về nước trong gia đình và công nghiệp của mình, nhưng phải nhập 80% lượng thức ăn và thực phẩm.
Khi một đất nước dựa trên việc buôn bán nước ảo để đối mặt với sự thiếu nước kéo dài thì nước đó gặp khó khăn trong việc cải cách các chính sách về nước và cải thiện sự quản lý các nguồn nước. Đây là những vấn đề không phô bày nên các phương tiện cần thiết không được đưa ra. Sự nghèo nguồn nước của một đất nước do vậy không được coi như nằm ngoài mọi cái khác: nghèo nước không dẫn nghèo đói, chính sự nghèo đói dẫn đến nghèo nước.
Tương lai dành cho chúng ta cái gì? Một số nhà quan sát bi quan, một số khác lạc quan. Những người bi quan thấy rằng khó thỏa mãn các yêu cầu, kể cả môi trường nước bị tàn phá. Những người lạc quan coi trọng các sự thay đổi xã hội và những biện pháp kỹ thuật làm gia tăng năng suất nông nghiệp, làm giảm áp lực lên các nguồn nước. Nhưng có những yếu tố mới bổ sung vào vấn đề. Ví dụ, cái chất đốt sinh học trong những thập niên tới sẽ chiếm vị trí nào? Phải có nhiều hơn từ 10 đến 200 lần một hỗn hợp những nguồn năng lượng không thể thay mới được, để quản lý năng lượng có từ những nhiên liệu sinh học. Một luận chứng mà người ta sẽ sai nếu không tính đến. 
N.V.T (Theo BCNN)

Phát triển bền vững về mặt môi trường ở Việt Nam: Thành tựu, thách thức hiện tại và định hướng trong thời gian tới

Bài báo của GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam trên Tạp chí Môi trường.
http://thuvienmoitruong.vn/wp-content/uploads/2011/11/phat-trien-ben-vung-2011.jpg

THÀNH TỰU VÀ THÁCH THỨC
Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững (PTBV) ở Việt Nam(Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được ban hành kèm theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
Định hướng chiến lược PTBV gồm 5 phần: Phần 1. PTBV – con đường tất yếu của Việt Nam; Phần 2. Những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm PTBV (5 lĩnh vực ưu tiên); Phần 3. Những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm PTBV (5 lĩnh vực ưu tiên); Phần 4. Những lĩnh vực sử dụng Tài nguyên Thiên nhiên (TNTN) và Bảo vệ Môi trường (BVMT) cần ưu tiên, bao gồm 9 lĩnh vực ưu tiên như sau: (1) Sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; (2) BVMT và sử dụng bền vững tài nguyên nước; (3) Khai thác hợp lý và bền vững tài nguyên khoáng sản; (4) BVMT và PTBV biển; (5) Bảo vệ và phát triển rừng; (6) Giảm ô nhiễm không khí đô thị và công nghiệp; (7) Quản lý chất thải rắn (CTR); (8) Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH); (9) Ứng phó với Biến đổi khí hậu (BĐKH) và thiên tai; Phần 5. Tổ chức thực hiện Chiến lược PTBV.
Rất tiếc rằng trong Định hướng chiến lược PTBV này chưa xác định cụ thể các chỉ tiêu PTBV là gì và đến năm 2010 sẽ đạt được giá trị như thế nào.
Tuy vậy, trong kế hoạch phát triển KT-XH giai đoạn 2006-2010, đã được Quốc hội khóa 11 thông qua theo Nghị quyết số 56/2006/QH11, đã lồng ghép định hướng chiến lược phát triển bền vững và đã đưa ra một số chỉ tiêu phát triển bền vững về KT-XH và môi trường.
Nhìn chung, việc lồng ghép BVMT với phát triển KT-XH, hài hòa phát triển 3 mặt KT-XH-MT ở nước ta còn chưa sâu rộng, còn coi nhẹ phát triển bền vững về mặt môi trường. Tuy vậy, cần phải khẳng định rằng các hoạt động BVMT ở nước ta trong 5 năm qua ngày càng sôi động hơn, đi vào chiều sâu hơn, có hiệu quả hơn, từ việc xây dựng ban hành các chính sách và văn bản pháp luật được hoàn thiện hơn, xây dựng và phát triển tổ chức quản lý môi trường được tăng cường hơn, các hoạt động ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện môi trường ngày càng có hiệu quả hơn, đầu tư ngân sách cho công tác BVMT tăng lên…, đến việc huy động toàn dân tham gia công tác BVMT đã có nhiều tiến bộ. Những thành tựu về công tác BVMT là to lớn và đáng khích lệ, nhưng phát triển bền vững về mặt môi trường ở nước ta trong thời gian qua còn nhiều vấn đề bất cập và tồn tại.
Dưới đây chúng tôi phân tích, đánh giá các thành tựu và các thách thức về BVMT trong phát triển bền vững của nước ta giai đoạn 2006-2011 theo 9 vấn đề ưu tiên trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên và BVMT, đã được xác định trong Định hướng Chiến lược PTBV của Việt Nam.
1. Ưu tiên 1 - Chống thoái hóa đất, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất
- Thành tựu
Về cơ bản đã bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống chính sách, luật pháp về đất đai; Tiến hành điều tra cơ bản về tài nguyên đất và quy hoạch lại sử dụng đất có hiệu quả và bền vững hơn; Thực hiện các chính sách và biện pháp chống thoái hóa đất, xa mạc hóa và ô nhiễm đất; Giao khoán rừng cho hộ gia đình, sản xuất theo mô hình nông - lâm kết hợp, phát triển trồng cây trên sườn đất dốc, sử dụng bền vững đất ngập nước, quản lý đất theo lưu vực sông và đất ven bờ; Điều tra, xác định, phân loại và xử lý dần các kho và khu vực đất bị tồn lưu ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), bị ô nhiễm chất độc màu da cam và Dioxin tồn lưu từ chiến tranh.
- Hạn chế và tồn tại
Môi trường đất vẫn đang bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sạt lở, sụt trượt, mặn hóa, chua hóa, hoang mạc hóa, bị ô nhiễm do hóa chất BVTV và nguồn thải ô nhiễm từ công nghiệp; Bình quân diện tích đất trên đầu người dân ngày càng thấp, được xếp thứ 159 trên hơn 200 quốc gia trên thế giới và chỉ bằng khoảng 1/6 trung bình của thế giới; Trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã xâm chiếm đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa đã tới mức báo động, có thể ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia; Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tổng diện tích đất trồng lúa năm 2010 đã giảm 378,7 nghìn ha so với năm 2000; Dự báo từ nay đến năm 2030, nhu cầu chuyên đổi đất trồng lúa sang các mục đích sử dụng khác tiếp tục tăng thêm khoảng 500 nghìn ha nữa.
2. Ưu tiên 2 - BVMT nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước
- Thành tựu
Vấn đề này rất được quan tâm vì Việt Nam bị xếp vào các quốc gia thiếu nước. Tổng lưu lượng nước bình quân đầu người Việt Nam là 4400 m3/người/năm, trong khi bình quân thế giới là 7400 m3/người/năm; Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg, ngày 14/4/2006, đã phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020; Hoàn thành việc lập bản đồ Atlas điện tử và bản đồ dạng số lưu vực của toàn bộ hệ thống sông, suối Việt Nam (khoảng 2.600 sông, suối); Lập các quy hoạch sử dụng tài nguyên nước bền vững đối với các lưu vực sông chính của các vùng; Đang triển khai một số đề án: Đề án kiểm kê tài nguyên nước quốc gia, Đề án bảo vệ các nguồn nước ngầm ở các đô thị lớn, Đề án theo dõi kiểm kê khai thác sử dụng nước đầu nguồn của lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long; Đề án BVMT 3 lưu vực sông: Đồng Nai – Sài Gòn, sông Cầu, Nhuệ - Đáy.v.v…
- Hạn chế, tồn tại
Đầu tư kinh phí cho công tác điều tra, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước không đáp ứng yêu cầu; Mạng lưới các điểm quan trắc, điều tra tài nguyên nước còn thiếu; Các đề án BVMT các lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn, sông Cầu, Đáy – Nhuệ được triển khai chậm vì thiếu kinh phí và năng lực tổ chức quản lý còn bất cập; Nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm, ô nhiễm môi trường nước ngày càng tăng, nhiều dòng sông trước đây có chất lượng nước thuộc loại A, nay đã suy thoái trở thành nước loại B, một số đoạn sông đã trở thành sông “chết”, úng ngập đô thị ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là ở các đô thị lớn; Theo TS. Nguyễn Thái Lai (Thứ trưởng Bộ TN&MT): Trên cả nước hiện có khoảng 240 nhà máy cung cấp nước sạch cho các đô thị với công suất thiết kế 5,4 triệu m3/ngày đêm, nhưng công suất khai thác chỉ đạt 4,5 triệu m3/ngày đêm, tỷ lệ thất thoát cấp nước sạch ở các đô thị hiện nay khoảng 30%, cá biệt có đô thị bị thất thoát nước tới 40%, khoảng 30% dân số đô thị hiện nay chưa được tiếp cận với dịch vụ cung cấp nước sạch.
3. Ưu tiên 3 - Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và bền vững tài nguyên khoáng sản
- Thành tựu
Đã ban hành nhiều chính sách có liên quan: Luật khoáng sản, Luật thuế tài nguyên, các Quy định về phí bảo vệ và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, v.v… Khai thác khoáng sản đã có nhiều đổi mới về công nghệ khai thác, sàng tuyển và chế biến nhằm tiết kiệm tài nguyên khoáng sản và BVMT, đặc biệt là đối với khai thác than; Trong quản lý đã thực hiện khâu phục hồi hoàn trả môi trường đất, tái tạo và cải thiện môi trường sinh thái khu vực sau khai thác; hạn chế tối đa làm xáo trộn cuộc sống của người dân địa phương; Hạn chế bớt nạn khai thác khoáng sản kiểu “thổ phỉ”; Giảm dần xuất khẩu khoáng sản thô.
- Hạn chế, tồn tại
Nhiều loại khoáng sản chủ yếu đã khai thác quá mức, đang dần cạn kiệt; Trữ lượng than Quảng Ninh chỉ còn khai thác trong vòng 30 năm nữa; Trữ lượng dầu ngoài khơi chỉ còn khai thác khoảng 20 năm nữa; Cấp phép khai thác khoáng sản còn chồng chéo, tùy tiện và nhiều sơ hở, đặc biệt là việc cấp phép khai thác khoáng sản thuộc quyền quản lý của các địa phương; Hậu quả của tình trạng loạn khai thác khoáng sản đang gây tác hại khôn lường cả về kinh tế, xã hội và môi trường ở nhiều nơi; Xuất khẩu khoáng sản quá ồ ạt và nhiều tiêu cực trong quản lý xuất nhập khẩu khoáng sản.
4. Ưu tiên 4 - Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển
- Thành tựu
Đã ban hành nhiều chính sách: Quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam, Nghị định về quản lý tổng hợp tài nguyên và BVMT biển và hải đảo; Thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo tại Bộ TN&MT; Phối hợp giữa các Bộ/Ngành và địa phương trong thực thi nhiệm vụ quản lý biển và hải đảo từng bước được kiện toàn hơn; Đã tiến hành một số dự án có hiệu quả như Dự án Xây dựng quy hoạch tổng thể khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên biển; Dự án thống kê, phân loại, đánh giá tài nguyên thiên nhiên biển, hải đảo; Ứng phó, phòng chống sự cố tràn dầu.
- Hạn chế, tồn tại
Còn thiếu nhiều văn bản pháp lý, cơ chế, chính sách quản lý và bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo; Năng lực tổ chức quản lý tài nguyên và BVMT biển còn hạn chế; Trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ quản lý tổng hợp môi trường và tài nguyên biển và hải đảo còn thiếu và lạc hậu; Ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ có chiều hướng gia tăng, ô nhiễm dầu đã trở nên tràn lan, ô nhiễm kim loại nặng đã xảy ra ở một số nơi; Đa dạng sinh học biển có chiều hướng suy thoái.
5. Ưu tiên 5 - Bảo vệ và phát triển rừng
- Thành tựu
Đã ban hành nhiều chính sách: Luật bảo vệ và phát triển rừng, chính sách phát triển rừng sản xuất, quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên; Đẩy mạnh việc giao khoán đất, khoán rừng cho các hộ và tập thể dân cư; Thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng; Đưa độ che phủ rừng năm 2006 tăng 11% so với năm 1990, tỷ lệ che phủ rừng hiện nay đạt khoảng gần 40%.
- Hạn chế, tồn tại
Chương trình trồng 5 triệu ha rừng đến năm 2010 mới đạt kế hoạch 63,4% (tái sinh rừng khoảng 1 triệu ha, trồng mới 2,17 triệu ha rừng); Rừng giàu, nguyên sinh chỉ còn khoảng 10%. Chất lượng rừng suy giảm rất nhiều; Rừng ngập mặn vẫn bị thu hẹp dần và khai thác quá mức; Chiếm đất, phá rừng trái phép, lâm tặc còn xảy ra trầm trọng; Cho người nước ngoài thuê rừng 50 năm vừa qua của một số địa phương sẽ gây hậu quả khó lường; Tổng diện tích rừng ngập mặn hiện nay so với năm 1990 chỉ còn khoảng 60%, so với năm 1943 chỉ còn 37%.
6. Ưu tiên 6 - Giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị và khu công nghiệp
- Thành tựu
+ Quy định lộ trình áp dụng Tiêu chuẩn khí thải ERO2, ERO3 đối với các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phát triển giao thông công cộng; Nâng cao tiêu chuẩn chất lượng xăng dầu; Ban hành hệ thống Quy chuẩn quốc gia về khí thải công nghiệp, chất lượng môi trường không khí xung quanh; Nhiều cơ sở sản xuất áp dụng sản xuất sạch hơn, kiểm soát khí thải và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn; An toàn và vệ sinh môi trường lao động có nhiều tiến bộ; Di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nằm xen kẽ các khu dân cư đông đúc; Cải tạo hệ thống giao thông đô thị, giảm ách tắc giao thông, giảm ô nhiễm không khí; Tăng cường quản lý hoạt động thi công xây dựng các công trình để bảo vệ môi trường không khí.
- Hạn chế, tồn tại
Chức năng, nhiệm vụ quản lý môi trường không khí đô thị và công nghiệp còn chồng chéo giữa các bộ (Tài nguyên và Môi trường, Công thương, Giao thông Vận tải, Xây dựng, Y tế); Đầu tư cho hoạt động quản lý môi trường không khí còn ít, chưa hợp lý so với môi trường nước và chất thải rắn; Hệ thống quan trắc môi trường không khí, kiểm kê nguồn thải ô nhiễm không khí còn yếu; Ô nhiễm môi trường không khí đô thị và công nghiệp ngày càng gia tăng, ô nhiễm bụi trong không khí đô thị nước ta vào loại ô nhiễm nhất nhì trên thế giới, ô nhiễm các khí độc hại nhiều nơi đã tới mức hoặc vượt mức giới hạn cho phép; Chất lượng môi trường không khí trong nhà (nhà dân dụng, nhà công cộng và nhà sản xuất) chưa được quan tâm nghiên cứu và bảo vệ; Ô nhiễm tiếng ồn giao thông, tai nạn giao thông còn xảy ra nghiêm trọng; An toàn và vệ sinh môi trường lao động công nghiệp còn bất cập.
7. Ưu tiên 7 - Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại
- Thành tựu
Đã ban hành nhiều Nghị định, quy định và quy chuẩn quốc gia về quản lý chất thải rắn (CTR) và chất thải nguy hại (CTNH); Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt đô thị bình quân toàn quốc từ 70% đã tăng lên 80% trong 5 năm qua, tỷ lệ CTR được tái chế, tái sử dụng từ 10% đã tăng lên 20%; Đã đầu tư trang bị 43 lò đốt chất thải y tế và hàng chục lò đốt chất thải công nghiệp nguy hại, đáp ứng yêu cầu xử lý khoảng 50% chất thải y tế và chất thải công nghiệp nguy hại; Đã đầu tư xây dựng được một số khu liên hiệp xử lý CTR hiện đại ở các đô thị lớn.
- Hạn chế, tồn tại
Quản lý nhà nước về CTR còn chồng chéo và phân tán giữa các Bộ; Tỷ lệ thu gom, vận chuyển và xử lý CTR đúng kỹ thuật an toàn vệ sinh môi trường còn thấp; Hoạt động tái chế, tái sử dụng CTR còn mang tính manh mún, tự phát; Tỷ lệ CTR còn bị chôn lấp ở các bãi chôn lấp không đảm bảo vệ sinh môi trường còn cao; Tỷ lệ thu gom, xử lý triệt để các chất thải nguy hại còn thấp; Quản lý chất thải ô nhiễm môi trường ở các làng nghề ngày càng trở thành vấn đề bức xúc lớn.
8. Ưu tiên 8 - Bảo tồn đa dạng sinh học
- Thành tựu
Đã ban hành Luật ĐDSH (2008) và nhiều Nghị định, quy định về bảo tồn ĐDSH; Bảo tồn hệ sinh thái ở các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia (128 khu, chiếm 2,5 triệu ha, tăng 28% so với năm 2000, trong đó có 30 Vườn Quốc gia, 59 Khu bảo tồn thiên nhiên và 39 Khu bảo vệ cảnh quan), 2 khu di sản thiên nhiên thế giới; 16 khu bảo tồn ĐDSH biển và ĐDSH bảo vệ rừng ngập mặn, đất ngập nước; Bảo tồn và phát triển 6 khu dự trữ sinh quyển;
- Hạn chế, tồn tại
ĐDSH đang bị suy thoái, số loài trong sách đỏ bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng ngày càng tăng; Rừng và các vườn quốc gia, khu bảo tồn bị xâm hại; Hiện nay 80% số rạn san hô ở biển nước ta thuộc loại ở tình trạng xấu, tỷ lệ số rạn san hô thuộc loại tốt trong thời kỳ 1994-1997 là 40%, trong thời kỳ 2004-2007 chỉ còn khoảng 15%. Tổng diện tích thảm cỏ biển hiện nay so với trước năm 1990 đã giảm đi khoảng 40-60%; Sự xâm hại của sinh vật ngoại lai nguy hiểm: ốc biêu vàng, rùa tai đỏ, cây mai dương v.v… là đáng lo ngại.
9. Ưu tiên 9 - Ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai
- Thành tựu
Đã xây dựng và từng bước thực thi “Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH” và “Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020”; Nhiều Bộ đã xây dựng xong kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH (Bộ TN&MT, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Xây dựng, Bộ GTVT); Phát triển cơ chế phát triển sạch (CDM) trong nhiều lĩnh vực hoạt động.
- Hạn chế và tồn tại
Nhận thức về BĐKH và phòng chống thiên tai còn thấp; Dự báo về tác động của BĐKH đối với nước ta và dự báo thiên tai còn hạn chế; Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và phòng chống thiên tai còn thiếu cụ thể.
Thực hiện chỉ tiêu PTBV về mặt môi trường. Bảng dưới đây nêu cụ thể các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường của Kế hoạch phát triển KT-XH 2006-2010 và tình hình thực hiện (Theo số liệu của Báo cáo Môi trường Việt Nam năm 2010).
TT
Loại chỉ tiêu
Kế hoạch
2010 đạt được
1
Tỷ lệ đất được che phủ rừng
42-43%
40%
2
Tỷ lệ số dân được cấp nước sạch ở đô thị/nông thôn
95%/75%
80%/70%
3
Tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
>50%
Không có số liệu
4
Tỷ lệ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các đô thị loại 3 trở lên
100%
3-5% (gần đúng)
5
Tỷ lệ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các đô thị loại 4 trở xuống
50%
0%
6
Tỷ lệ KCN/KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung
100%
50%
7
Tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt đô thị toàn quốc
85%
75%
8
Tỷ lệ thu gom chất thải y tế toàn quốc
85%
75%
9
Tỷ lệ thu gom chất thải công nghiệp nguy hại
80%
75%
10
Tỷ lệ xử lý cơ sở ô nhiễm theo Quyết định 64 của Thủ tướng
70% (2007)
74%

Với các thông tin, số liệu nêu ở trên có thể rút ra nhận xét tổng quát rằng phát triển của nước ta trong thời gian qua còn thiếu bền vững về mặt môi trường.
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015 (theo dự thảo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 – Văn kiện Đại hội Đảng XI)
1. Về kinh tế
Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và cân đối lớn của nền kinh tế, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế theo ngành và theo vùng để nâng cao hiệu quả phát triển và tính cạnh tranh thị trường; Tăng trưởng GDP bình quân 7-8%/năm, GDP năm 2020 bằng khoảng 2,2 lần năm 2010 và GDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 3000$; Chuyên đổi mô hình phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; Tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng…; Phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng kinh tế carbon thấp; Cải tiến công nghệ sản xuất sạch hơn, giảm thiểu chất thải; Phát triển kinh tế hòa hòa và bền vững giữa các vùng; Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật giao thông và BVMT tương đối đồng bộ với một số công trình hiện đại; Đến năm 2020 tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 45%; Số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.
2. Về xã hội
Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; Tốc độ tăng trưởng dân số ổn định ở mức khoảng 1%, đến năm 2020 tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, chỉ số phát triển con người HDI đạt ở nhóm trung bình cao của thế giới; Thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an ninh xã hội; Phát triển thị trường lao động; Có chính sách hỗ trợ lao động nông thôn chuyển đổi nghề nghiệp; Bảo đảm cung cấp dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe công bằng, hiệu quả và có chất lượng, bảo đảm an toàn lao động và an toàn vệ sinh thực phẩm; Đến năm 2020 thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, chất lượng giáo dục, chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển giáo dục 2011-2020 theo hướng phát triển bền vững; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển con người toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, ý thức công dân và tuân thủ pháp luật.
3. Về tài nguyên và môi trường
Triển khai thực hiện nghiêm minh các Luật có liên quan (BVMT, ĐDSH, Tài nguyên nước, Tài nguyên khoáng sản, Đất đai, Bảo vệ và Phát triển rừng); sửa đổi Luật BVMT và Luật Đất đai, ban hành mới Luật Biển và Hải đảo; Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý tài nguyên và môi trường; Tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc về tài nguyên và môi trường hiện nay, để cải thiện chất lượng môi trường; Quản lý, sử dụng và khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên đất và tài nguyên khoáng sản; Sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên năng lượng; Đảm bảo thực hiện nghiêm túc các yêu cầu về BVMT đối với tất cả các dự án đầu tư phát triển công nghiệp và xây dựng đô thị; Giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, xử lý triệt để chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại; Sử dụng bền vững tài nguyên biển và BVMT biển; Bảo tồn thiên nhiên, ĐDSH và cân bằng sinh thái ở các vùng; Đẩy mạnh nghiên cứu, dự báo tác động của biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai; Đến năm 2020 đạt chỉ tiêu: tỷ lệ che phủ rừng 45%; Hầu hết dân cư đô thị và nông thôn được sử dụng nước sạch; 100% cơ sở sản xuất đầu tư mới phải được áp dụng công nghệ sản xuất sạch và xử lý chất thải đạt quy chuẩn môi trường, 80% cơ sở sản xuất hiện có đạt quy chuẩn môi trường; Các đô thị loại 4 trở lên và tất cả các khu/cụm công nghiệp, khu kinh tế có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 95% CTR thông thường, 85% CTNH và 100% chất thải y tế được xử lý đạt quy chuẩn môi trường.
ĐỀ XUẤT BỘ CHỈ TIÊU VỀ PTBV CỦA VIỆT NAM
Tầm quan trọng của bộ chỉ tiêu:Định lượng cụ thể mục tiêu Chiến lược PTBV quốc gia để các bộ, các ngành, các địa phương phấn đấu thực hiện Chiến lược PTBV; Để kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện; Để so sánh với các nước trên thế giới về PTBV;
Nguyên tắc xây dựng bộ chỉ tiêu: Phù hợp với các mục tiêu của chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH quốc gia; Tương thích theo thông lệ quốc tế, có khả năng so sánh với trình độ PTBV giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới; Đảm bảo tính lượng hóa và có tính khả thi trong điều kiện quản lý thống kê ở nước ta.
Chúng tôi kiến nghị bộ chỉ tiêu về PTBV của Việt Nam cho ở bảng dưới đây:
TT
Tên chỉ tiêu phát triển bền vững
Đơn vị đo

Chỉ tiêu về kinh tế

1
Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm
%
2
GDP trên đầu người/năm
USD/người/năm
3
Quy mô và hiệu suất đầu tư ICOR (suất đầu tư cho mỗi đơn vị GDP tăng thêm)
%GDP
4
Cán cân thanh toán quốc tế và cán cân xuất – nhập khẩu
Tỷ USD
5
Lạm phát và mức tăng chỉ số giá tiêu dùng
%
6
Tỷ lệ nợ công so với GDP
%

Chỉ tiêu về xã hội

7
Tốc độ tăng trưởng dân số
%/năm
8
Chỉ số phát triển con người (HDI)
Số thập phân và xếp thứ tự trên thế giới
9
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi
%
10
Tỷ lệ số dân sống dưới ngưỡng nghèo
%
11
Chênh lệch mức sống dân cư (hệ số GINI hoặc thu nhập của nhóm 10% thu nhập cao nhất so với thu nhập của nhóm 10% thu nhập thấp nhất)
Số lần
12
Tỷ lệ ngân sách đầu tư cho ngành giáo dục
%
13
Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề
%
14
Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị
%

Chỉ tiêu về môi trường

15
Tỷ lệ hao phí năng lượng để sản xuất ra mỗi đơn vị GDP
kWh/USD GDP hay KTOE/USD GDP
16
Tỷ lệ che phủ rừng
%
17
Phát thải khí nhà kính tính trên đầu dân trong 1 năm
Tấn CO2 /1000ng/năm
18
Tỷ lệ số đô thị từ cấp 4 trở lên không bị ô nhiễm không khí
%
19
Tỷ lệ số dân được cấp nước sạch: Đô thị/Nông thôn
%
20
Tỷ lệ tổng lượng CTR phát sinh được thu gom và xử lý đúng kỹ thuật vệ sinh: CTR sinh hoạt/ Chất thải y tế/ Chất thải nguy hại
%
21
Tỷ lệ số khu công nghiệp và các đô thị cấp 4 trở lên có hệ thống xử lý nước thải đạt QCMT: khu công nghiệp/đô thị
%
Tài liệu tham khảo
1. Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006-2010, được ban hành theo Nghị quyết số 56/2006/QH11, ngày 19/6/2006, của Quốc hội khóa 11.
2. Dự thảo Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện (2006-2010), định hướng Chiến lược PTBV ở Việt Nam 2011-2015 của Bộ KH&ĐT, tháng 1 năm 2011.
3. Báo cáo môi trường quốc gia 2010, của Bộ TN&MT.
4. Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020 – Văn kiện Đại hội XI của Đảng, tháng 1/2011.
5. Phạm Ngọc Đăng. Phát triển của nước ta còn thiếu bền vững về mặt môi trường. Kỷ yếu Hội nghị phát triển bền vững toàn quốc lần thứ 3 (trang 205-210). Hà nội - tháng 1 năm 2011.
Theo www.vacne.org.vn

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482