DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Hệ thống thông tin giao thông quốc gia

Xây dựng hệ thống thông tin quản lý cơ sở hạ tầng mạng lưới giao thông là một vấn đề quan trọng và mục tiêu phát triển ở các nước đang phát triển.

http://www.tonghoixaydungvn.org/Attach/ImagesNew/ImagesFreetextbox/XDO/ando4.jpg
Xây dựng cơ sở hạ tầng mạng lưới giao thông là một vấn đề quan trọng và mục tiêu phát triển ở các nước đang phát triển
Đặt vấn đề

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công nghệ, việc xây dựng cơ sở hạ tầng mạng lưới giao thông là một vấn đề quan trọng và là mục tiêu phát triển ở các nước đang phát triển. Tại Đài Loan, để tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng có được thông tin giao thông thời gian thực đầy đủ và chính xác, chính phủ chủ động lên kế hoạch, phát triển và xây dựng hệ thống giao thông vận tải thông minh (ITS).
Tuy nhiên, hiện nay chính quyền thành phố/ quận và các đơn vị có liên quan cung cấp thông tin giao thông ở các cấp độ khác nhau và độc lập với nhau, chẳng hạn như thông tin giao thông của đường quốc lộ, tỉnh lộ và đường nội thành. Cộng đồng phải truy cập nhiều trang Web giao thông khác nhau để có các thông tin cần thiết. Để dễ dàng thu thập các thông tin giao thông cần thiết, Viện Giao Thông Vận Tải MOTC lên kế hoạch tích hợp các nguồn thông tin giao thông khác nhau trên một nền tảng dựa trên công nghệ WebGIS cung cấp tất cả các thông tin giao thông cho cộng đồng.
         
Xây dựng cơ sở hạ tầng mạng lưới giao thông là một vấn đề quan trọng và mục tiêu phát triển ở các nước đang phát triển.

Mục tiêu

Viện Giao Thông Vận Tải MOTC lên kế hoạch xây dựng một WebGIS để hỗ trợ 23 chính quyền thành phố/ quận và các đơn vị có liên quan trong việc báo cáo cập nhật tình trạng giao thông, các vụ tai nạn, thông tin xây dựng ... Viện cũng muốn tích hợp hiệu quả tình hình giao thông được cung cấp bởi Cục đường quốc lộ và Tổng cục đường cao tốc để  hoàn thiện thông tin giao thông.
Với WebGIS, cộng đồng có thể truy vấn tình hình giao thông thời gian thực về đường quốc lộ, tỉnh lộ và đường giao thông chung ở mỗi thành phố/ quận. Trong khi đó người dùng có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, lựa chọn con đường tốt nhất để tránh các sự cố giao thông trong thành phố/ quận. Ngoài ra, các sự cố giao thông được truy vấn sẽ hiển thị trên bản đồ với các vị trí tương ứng. Nó sẽ rất tiện lợi cho cộng đồng để có thể tìm kiếm và có được tuyến đường đi tốt nhất.

Giải pháp

Hệ thống thông tin giao thông quốc gia, hệ thống WebGIS, tích hợp nhiều loại thông tin giao thông thời gian thực củathành phố/ quận và đường  quốc lộ, chẳng hạn như thông tin về tốc độ, thông tin CMS, thông tin camera quan sát, các sự cố giao thông đường bộ… Nó có thể giúp cộng đồng truy vấn và nắm bắt được tình hình giao thông thời gian thực một cách rõ ràng về nơi mà họ sẽ đi.
Hệ thống trung tâm thông tin giao thông quốc gia sử dụng Microsoft SQL Server 2000 và PostgreSQL làm nền tảng cơ sở dữ liệu để lưu trữ các loại dữ liệu giao thông khác nhau từ nhiều đơn vị liên quan. Hệ thống trung tâm thông tin giao thông quốc gia sử dụng SuperWebGIS làm máy chủ bản đồ và cung cấp các dịch vụ xử lý thông tin địa lý khác nhau. Vì vậy, người dùng có thể sử dụng một trình duyệt để xem và truy vấn thông tin giao thông một cách dễ dàng.

Hệ thống thông tin giao thông quốc gia cung cấp nhiều loại thông tin giao thông thường được sử dụng để truy vấn
Kết quả

Hệ thống thông tin giao thông quốc gia là một nền tảng tích hợp cung cấp thông tin giao thông thời gian thực dựa trên công nghệ WebGIS. Tất cả các loại thông tin giao thông được cung cấp bởi chính quyền thành phố/ quận và các đơn vị liên quan có thể truy vấn thông qua các trình duyệt internet. Do đó, người dùng có thể kiểm tra tình trạng giao thông hoặc chọn tuyến đường của họ theo tình trạng giao thông hiện tại.

Hệ thống gồm 3 chức năng chính: Thông tin đường, hỗ trợ tìm đường, các tuyến đường thay thế.

1. Thông tin đường:
Trong phần này, nhiều loại thông tin giao thông sử dụng phổ biến củađường quốc lộ và các đường nội thành được cung cấp. Bằng cách truy vấn, người dùng có

Hệ thống thông tin giao thông quốc gia cung cấp nhiều loại thông tin giao thông thường được sử dụng để truy vấn.

thể có được thông tin giao thông thời gian thực trực tuyến, chẳng hạn như tốc độ đường, camera quan sát (CCTV), biển báo giao thông (CMS), thông tin thời tiết, vv, các loại sự kiện giao thông đường bộ như các nút thắt giao thông, xây dựng, thiên tai, tai nạn… Ngoài ra, hệ thống còn hiển thị các kết quả truy vấn trên bản đồ để dễ dàng hơn cho người sử dụng hiểu rõ vị trí địa lý của các thông tin giao thông.

2. Hỗ trợ tìm đường:

Các chức năng có thể giúp người dùng trong việc tìm một con đường thích hợp. Người dùng có thể chỉ định điểm bắt đầu và điểm kết thúc bằng cách nhấn vào vị trí trên bản đồ hoặc truy vấn. Họ cũng có thể yêu cầu hệ thống tránh đường quốc lộ hoặc các điểm sự cố trên đường. Hệ thống sẽ hiển thị các tuyến đường thích hợp trên bản đồ và thông tin chi tiết.

Hướng dẫn tuyến đường có thể giúp người sử dụng trong việc lập kế hoạch một con đường thích hợp.

3. Các tuyến đường thay thế:
Người dùng có thể được mô tả và vị trí của các tuyến đường thay thế để tránh ùn tắc giao thông với chức năng tuyến đường thay thế

Mặc dù chính phủ đã xây dựng 5 đường cao tốc nhưng tình trạng ùn tắc giao thông vẫn thường xuyên xảy ra vào các dịp nghỉ lễ. Vì vậy, chính phủ đã xây dựng thêm 6 tuyến đường thay thế để giảm bớt lưu lượng lớn các loại xe. Chức năng này hiển thị thông tin và địa điểm của các tuyến đường thay thế để giúp cộng đồng tránh khỏi ùn tắc giao thông.

Ngày nay, trong xã hội hiện đại, hệ thống giao thông và công nghệ đã phát triển nhanh chóng. Cộng đồng muốn có được thông tin giao thông cần thiết ngay lập tức để lựa chọn tuyến đường đi phù hợp. Do đó, với chính phủ làm thế nào để cung cấp thông tin giao thông thời gian thực cho cộng đồng đã trở thành vấn đề lớn. Hệ thống thông tin giao thông quốc gia áp dụng công nghệ GIS để tích hợp có hiệu quả các loại thông tin giao thông thời gian thực động và tĩnh khác nhau trong một nền tảng. Cộng đồng có thể tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông tin và có được thông tin thích hợp hơn trong một cách thức mới và nhanh chóng.

Người dùng có thể được mô tả và vị trí của các tuyến đường thay thế để tránh ùn tắc giao thông với chức năng tuyến đường thay thế.
 Nguồn: dịch từ supergeotek.com

Dữ liệu hành chính,bờ biển, mặt nước, đường giao thông toàn quốc



Hiệp hội dữ liệu mở mới xuất bản bộ cơ sở dữ liệu đường giao thông cho Việt Nam vào ngày 13/12/2011. Các dữ liệu của Việt Nam được đăng tải dưới định dạng ESRI Shapefile. Dữ liệu này sau khi tải về có thể được mở trực tiếp bằng các phần mềm GIS thông dụng như ArcView, ArcGIS, MapInfo, Saga GIS, Quantum GIS...

Đây là bộ dữ liệu GIS hoàn toàn miễn phí với tiêu chí không phục vụ cho các hoạt động mang tính thương mại. Các tổ chức, cơ quan nghiên cứu đều có thể tải về đề phục vụ cho mục đích nghiên cứu và quản lý phi lợi nhuận.

Phiên bản ngày 12/12/2011 có các lớp sau:

- Ranh giới hành chính
- Đường giao thông
- Đường bờ biển
- Mặt nước
- Các đối tượng thực vật
- Các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn, trạm bơm xăng, cây ATM, trường học, ....

Tải dữ liệu về theo khu vực

1. Bắc Trung Bộ

2. Đông Bắc

3. Đồng bằng sông Cửu Long

4. Đồng bằng sông Hồng

5. Đông Nam Bộ

6. Nam Trung Bộ

7. Tây Bắc

8. Tây Nguyên
Nguồn: theodoilua.com

Một số ứng dụng WebGIS

WebGIS có tiềm năng lớn trong công việc làm cho thông tin địa lý trở nên hữu dụng và sẵn sàng tới số lượng lớn người sử dụng trên thế giới. Với việc sử dụng bản đồ trực tuyến, giải pháp này sẽ giúp khách hàng có thể cập nhật dữ liệu lên bản đồ để phục vụ cho
   Tổng quan

            Cùng với sự bùng nổ về công nghệ Internet, GIS cũng đã phát triển công nghệ cho phép chia sẻ thông tin thông qua Internet bằng cách kết hợp GIS và Web để tạo thành WebGIS.

           Công nghệ GIS trên nền Web (hay còn gọi là WebGIS) là hệ thống thông tin địa lý phân tán trên một mạng các máy tính để tích hợp, trao đổi các thông tin địa lý trên mạng Internet. WebGIS có tiềm năng lớn trong công việc làm cho thông tin địa lý trở nên hữu dụng và sẵn sàng tới số lượng lớn người sử dụng trên thế giới. Với việc sử dụng bản đồ trực tuyến, giải pháp này sẽ giúp khách hàng có thể cập nhật dữ liệu lên bản đồ để phục vụ cho mục đích quản lý.    
          Hiện nay, có rất nhiều giải pháp bản đồ trực tuyến được các nhà phát triển đưa ra như Mapbender, MapBuilder, MapGuide Open Source, MapServer, OpenLayers, chúng đều là các phần mềm mã nguồn mở hỗ trợ xây dựng các ứng dụng về bản đồ trên nền web. Nếu kết hợp xây dựng WebGIS trên phần mềm mã nguồn mở thì sẽ có được các lợi ích mà phần mềm mã nguồn mở mang lại như chi phí đầu tư về phần mềm giảm, tận dụng được các thành quả ý tưởng chung của cộng đồng, tính chất an toàn cao, mạnh hơn, tùy biến tương tác nhiều hơn.

Sự cần thiết của công nghệ

    Đa người dùng?

Hệ thống Web map server là một sự lựa chọn kinh tế.
- Với khả năng phân phối thông tin địa lý trên toàn thế giới
- Người dùng internet có thể truy cập đến các ứng dụng GIS mà không phải mua phần mềm.
- Đối với phần lớn người dùng không có kinh nghiệm về GIS thì việc sử dụng WebGIS sẽ đơn giản hơn việc sử dụng các phần mềm ứng dụng GIS khác.
- WebGIS là chức năng bổ sung cho GIS hoạt động trong môi trường rộng hơn thông qua mạng và được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong thương mại, quản lý nhà nước và giáo dục. Nhiều ứng dụng sẽ được chạy trên mạng nội bộ trong doanh nghiệp và cơ quan chính phủ như là một phương tiện phân phối và sử dụng dữ liệu không gian địa lý chung.

    Thường xuyên cập nhật bản đồ và cơ sở dữ liệu?

Với một hệ thống dựa trên Server, tất cả các bản đồ và dữ liệu khác được duy trì tập trung. Khi máy chủ được cập nhật, tất cả mọi người ngay lập tức sử dụng thông tin cập nhật trong ngày.

    Sử dụng mạng WAN chậm? Một số người dùng không có quyền truy cập mạng LAN?

Bản đồ dựa trên máy chủ Web luôn sẵn sàng cho bất cứ ai có quyền truy cập web, dù họ có hoặc không đi du lịch hoặc mạng LAN trong công ty hay mang WAN không sẵn có.

    Ý nghĩa khi tự tạo dịch vụ bản đồ?

Một số yêu cầu của người sử dụng bản đồ là đơn giản và trực tiếp. Bản đồ dựa trên Web giúp cho những người sử dụng phi kỹ thuật tự thực hiện mà không phải chờ đợi.

    Bảo mật dữ liệu?

Với một hệ thống dựa trên máy chủ, tất cả các bản đồ và dữ liệu được duy trì trên các máy chủ của công ty hoặc cơ quan. Việc bảo mật và sao lưu có thể được áp dụng.

    Khi nào cần suy nghĩ hai lần trước khi sử dụng bản đồ trên web

Bản đồ dựa trên web không thể thay thế hoàn toàn cho phần mềm phân tích bản đồ trên máy tính. Trong các tình huống sau đây bạn nên so sánh chi tiết về các lựa chọn trước khi chọn cách tiếp cận một Web Map:
          - Việc biên tập bản đồ phức tạp: Bởi độ trễ vốn có trong mạng Internet, chỉnh sửa các đa giác và các đối tượng đường phức tạp là khó khăn và thường lúng túng.
          - Khối lượng dữ liệu lớn: Rất hiếm hệ thống Web Maps mà cung cấp hỗ trợ tốt khi khối lượng dữ liệu lớn.
         - Hệ thống menu và giao diện điều khiển bản đồ phức tạp: Có thể tải về thông qua trình Java hoặc Windows, nhưng đòi hỏi phải lập trình thêm.

Ứng dụng

          Có những sự việc diễn ra xung quanh cuộc sống của chúng ta hàng ngày, chẳng hạn như trong tình huống nào đó chúng ta có thể đặt ra các câu hỏi “có ATM rút tiền nào gần đây không? ”, “Cây xăng nào gần đây nhất?”, “Phòng khám nào gần nhất?”, “Cửa hàng nào bán loại mặt hàng cần dùng…
Để trả lời cho các câu hỏi trên công nghệ webGIS hoàn toàn có thể trợ giúp mọi yêu cầu của bạn.

Dưới đây là một số các ứng dụng webGIS:

 * Tìm kiếm các ATM:

Hệ thống định vị máy ATM và hướng dẫn lái xe.

          - Tìm máy rút tiền gần nhất

          - Hướng dẫn tìm đường đi từ vị trí khách hàng đến vị trí ATM

          - Giao diện điện thoại di động
          - Theo dõi lượng tiền mặt tại các ATM để kịp thời bổ sung, phân phối theo nhu cầu của khách hàng.      
* Tìm kiếm trạm xăng dầu

          - Định vị các trạm xăng dầu

          - Tìm trạm xăng gần nhất

          - Hướng dẫn chỉ đường từ vị trí khách hàng đến trạm xăng dầu gần đó.
* Tìm kiếm dịch vụ y tế

Xác định vị trí của phòng khám, phòng thí nghiệm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe gần nhất.

          - Gần nhất

          - Hướng dẫn lái xe

          - Thông tin về chất lượng y tế

          - Thông tin về chuyên khoa khám chữa

 * Tìm kiếm các trường học

           - Xác định loại trường (đại học, cao đẳng, trung cấp …) và địa chỉ xung quanh đó để tìm kiếm, tham khảo dữ liệu nền đường phố
          - Xem thông tin điểm trường
          - Xem dữ liệu điểm trường trên bản đồ
          - Xem thông tin thống kê theo từng năm học

* Hệ thống quản lý đại lý

Hệ thống được đưa ra nhằm quản lý và giám sát các thông tin chi nhánh, đại lý, cửa hàng của các đơn vị quản lý trên một nền thông tin địa lý phong phú và đa dạng.

          - Hệ thống hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin các điểm đại lý

          - Thông tin đại lý hiển thị theo nội dung yêu cầu: Doanh số, loại đại lý…

          -  Quản lý hệ thống phân phối hàng hóa, các mặt hàng, khả năng tiêu thụ, doanh thu lợi nhuận thu được
          - Tìm đường đi ngắn nhất trên bản đồ đến vị trí đại lý.     

 Trà Giang

Đồng hồ đeo tay GPS


(TBKTSG Online)- Hãng Nike đã rút ngắn thời gian và công sức theo dõi kết quả tập luyện của người thích chạy bộ hơn so với trước đây khi cho ra mắt thị trường thiết bị đo đạt mới: Đồng hồ đeo tay GPS.
Nhiều người chạy bộ muốn theo dõi thành tựu của mình. Vào năm 2006, hãng Nike Inc. đã phần nào đáp ứng nhu cầu này khi tung ra bộ cảm biến gắn trong giày – gọi là Nike+ Sensor - có khả năng truyền dữ liệu đến máy iPod và cho phép người sử dụng đưa thông tin theo thời gian thực lên một trang web của Nike.


Giờ đây, Nike vừa giới thiệu mẫu đồng hồ đeo tay được trang bị Nike+ Sensor và hệ thống định vị toàn cầu (GPS) của hãng TomTom để theo dõi vị trí của người sử dụng trong quá trình chạy bộ.
Ngoài ra, trong quá trình chạy, màn hình cảm ứng của đồng hồ này, gọi là Nike+ SportWatch GPS, còn hiển thị những thông tin như thời gian, quãng đường, tốc độ, lượng calorie bị đốt cháy…Toàn bộ tính năng của đồng hồ có thể được truy xuất thông qua ba nút bấm của nó.

Khi kết thúc cuộc chạy, người sử dụng có thể kết nối đồng hồ với máy tính thông qua cổng USB và tải dữ liệu của mình lên đó. Đây cũng là cách sạc pin cho đồng hồ. Ngoài ra, họ còn có thể tải dữ liệu lên trang web Nikeplus.com để chia sẻ và so sánh với các thành viên khác.
Đồng hồ được thiết kế để động viên người sử dụng tập thể dục bằng cách tự động nhắc nhở khi họ chưa chạy bộ trong năm ngày qua hoặc phát đi những thông điệp khích lệ khi họ bắt đầu chạy bộ.

Nike hy vọng rằng đồng hồ có thiết kế khá bắt mắt này có thể thu hút được những người vừa mê thể thao vừa mê đồ công nghệ cao. Nike+ SportWatch GPS dự kiến bắt đầu được bán trên mạng tại Anh và Mỹ vào tháng 4-2011 với giá bán từ 199-249 đô-la Mỹ.

(The New York Times)

Thiết Bị Giám Sát Trẻ Em


Tỉ lệ tội phạm liên quan đến trẻ em đá làm nảy sinh nhu cầu cần một thiết bị chuyên dụng để bảo vệ trẻ em khỏi những nguy hiểm đang rình rập hàng ngày, một thiết bị được định hình để giúp giải quyết những vấn đề liên quan đến trẻ em. Thiết bị giám sát trẻ em GPS đã ra đời để giúp cho các bậc cha mẹ có thể yên tâm về con cái của mình bởi vì thiết bị này có thể giúp họ giám sát lũ trẻ mọi nơi, mọi lúc.


Làm sao có thể diễn tả được sự lo lắng và đau đớn của những ông bố, bà mẹ khi phát hiện ra những đứa con yêu dấu của mình bị mất tích hoặc có thể đang ở trong tình trạng đáng lo ngại. Họ có thể kêu gọi sự trợ giúp của cảnh sát, thám tử tư và điều này sẽ tiêu tốn khá nhiều thời gian, tiền bạc và nhất là công sức của họ. Tất nhiên đó là việc họ phải làm khi sự việc đã rồi, họ không còn cách nào khác. Tuy nhiên, việc sử dụng thiết bị giám sát trẻ em GPS có thể giúp họ chủ động ngăn ngừa được những tình huống nguy hiểm xảy đến với những đứa trẻ của họ.


Các thiết bị giám sát trẻ em GPS hoạt động như những máy định vị, có thể được gắn vào quần áo của trẻ em hoặc có thể mặc như một phụ kiện (đồng hồ đeo tay). Chúng chạy bằng pin và các bậc cha mẹ hoàn toàn có thể giữ bí mật về việc này đối với con cái của họ nếu họ muốn. Các thiết bị luôn đi kèm với bộ phận cảm biến theo dõi chuyển động và sẽ cung cấp cho các bậc phụ huynh những thông tin rõ ràng và cụ thể về các vị trí của lũ trẻ khi chúng bị thu hút bởi một người lạ hoặc đơn giản chỉ là di chuyển vào đám đông.


Với thiết bị định vị này, việc giám sát trẻ em trở nên linh hoạt và hiệu quả hơn trong những trường hợp trẻ em mắc chứng tự kỉ, trẻ em bị tâm thần hoặc trẻ em khuyết tật. Chúng được thiết kế để bảo vệ trẻ em ngay lập tức khi chúng có triệu chứng mê sảng, đi lang thang hay có bất kì dấu hiệu mất kiểm soát nào.
Chúng ta có thể mua các thiết bị này với những kích cỡ khác nhau, thậm chí có những cái rất bé, có thể gắn liền với dây giày của trẻ. Các thiết bị giám sát trẻ em có sẵn dưới hình thức của những chiếc đồng hồ, những cúc áo, mặt dây chuyền, giày nhỏ và những phụ kiện đính kèm ở cổ áo. Việc sử dụng các công nghệ mới nhất này đảm bảo phản ứng kịp thời đối với các tín hiệu phát ra.

Chọn hệ thống GPS giám sát cho xe máy

Ở Việt Nam, xe máy là phương tiện giao thông phổ biến nhất. Hiện có gần 80% dân số cả nước lựa chọn xe máy là phương tiện đi lại. Để hỗ trợ cho phương tiện này tốt nhất trong việc quản lý tuyến đường, báo khi hết xăng, báo các địa danh lớn khi xe đi qua…các nhà nghiên cứu đã cho ra đời nhiều hệ thống định vị GPS dành riêng cho xe máy. Bài viết sau giới thiệu cách chọn hệ thống GPS phù hợp với loại phương tiện này.

Ra đời chưa bao lâu, nhưng hệ thống giám sát GPS dành riêng cho xe máy đã phát huy hiệu quả tối đa trong việc hỗ trợ chủ phương tiện với các tính năng như báo xe sắp hết xăng, hướng dẫn chủ phương tiện trở lại an toàn khi bạn bị lạc, hoặc vô tình đi sai hướng.
Thông thường, các phần mềm định vị GPS cho xe máy được cài đặt với đấy đủ tính  năng như: Giọng nói hướng dẫn, có phần mềm với các điểm tham quan (POI), chẳng hạn như trạm xăng, nhà hàng, trạm dịch vụ, khách sạn, do đó, GPS sẽ đảm bảo cho người điều khiển phương tiện một chặng hành trình thoải mái, tiện nghi nhất.
80% người Việt Nam lựa chọn xe máy là phương tiện đi lại
Thị trường các thiết bị GPS hiện nay khá phong phú. Có nhiều sản phẩm cho khách hàng lựa chọn, tùy thuộc vào nhu cầu đa dạng, vào ngân sách của người tiêu dùng. Để lựa chọn một thiết bị GPS định vị cho xe máy, người sử dụng nên tìm hiểu, xác định rõ loại GPS nào phù hợp với xe máy của mình, khả năng tiếp nhận của sản phẩm ra sao, có phù hợp với kinh phí không….
Điều đầu tiên, để lựa chọn được một thiết bị GPS phù hợp, bạn cần biết loại sản phẩm nào thích hợp với xe máy của bạn. Hiện trên thị trường có 3 loại đơn vị GPS cho xe máy, đơn vị GPS ngoài trời di động, các đơn vị được thiết kế đặc biệt  riêng cho xe máy / xe tay ga của bạn, và GPS lai PDA.
Nếu bạn đam mê các hoạt động ngoài trời như leo núi, lan man, hoặc thậm chí cắm trại, một thiết bị GPS ngoài trời có thể được mang theo ở bất cứ  đâu với bạn sẽ là lý tưởng.
Các thiết bị GPS được thiết kế dành riêng cho từng loại xe máy cung cấp cho bạn một số tính năng rất ấn tượng. Một trong những tính năng mới nhất được giới thiệu là sự giao tiếp hiệu quả, với một hệ thống truyền dẫn giọng nói chỉ dẫn thông qua một tích hợp hệ thống âm thanh Bluetooth, sử dụng tai nghe bên trong mũ bảo hiểm của bạn.
Loại cuối cùng là thiết bị GPS lai PDA. Mặc dù thiết bị này được thiết kế chủ yếu với tính di động và có một màn hình lớn. Vì vậy, giống như đơn vị GPS cầm tay ngoài trời, loại GPS này sẽ  lý tưởng cho những bạn thích thưởng thức các hoạt động ngoài trời. Với một tích hợp PDA trên đầu, thiết bị GPS / PDA, như Mio A201 có thể có ích cho công việc và vui chơi.Với các tính năng như Microsoft Outlook, Word, Excel, và PowerPoint, bạn sẽ  bắt kịp công việc bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Nếu bạn thích nghe nhạc, chơi game, hoặc lưu trữ hình ảnh kỹ thuật số, thiết bị GPS lai PDA này là một lựa chọn lý tưởng.

Điều thứ hai bạn nên xem xét, đó là khả năng tiếp nhận của nó có phù hơp với nhu cầu của bạn? Theo đó, khi lựa chọn một thiết bị GPS cho xe máy, hãy suy nghĩ về tính chính xác mà bạn muốn tín hiệu vệ tinh định vị vị trí của mình.
Rất nhiều đơn vị GPS hiện nay có độ chính xác khoảng 6-8 mét. Tuy nhiên, nhiều mô hình GPS mới hơn được thiết kế với khả năng WAAS (Wide Area Augmentation System), dẫn đến độ chính xác từ 3-4 mét.

Nếu bạn thích đi xe trong những rừng cây rậm rạp và các khu vực đô thị, đáng chú ý là thiết bị GPS kết hợp với SiRF Star III Chip Set ,mà bạn nên tìm. Vói hiệu suất cao, tiêu thụ điện năng thấp , chipset có độ nhạy cao hơn trong môi trường xung quanh tán lá cao. Một điều nữa là các đơn vị GPS với ăng-ten bên ngoài rất đáng kể trong việc duy trì một tín hiệu trong rừng sâu.
Điều thứ ba bạn cần quan tâm khi lựa chọn thiết bi GPS, đó là độ bền của Pin trong sản phẩm này. Với sự tự do đi xe đến bất cứ nơi nào cùng với một GPS, tuổi thọ pin là một thành phần quan trọng để xem xét. Hầu hết các đơn vị GPS sử dụng 2, 4, hoặc 6 ‘AA’ pin, kéo dài 6 giờ. Thiết bị GPS với pin sạc tích hợp là sự lựa chọn lý tưởng nếu bạn đôi khi quên mất thời gian. Với hệ thống GPS như TomTom Rider, bạn có thể sạc pin ở nhà, trong khi lập kế hoạch cho tuyến đường tiếp theo của bạn, hoặc sạc GPS trực tiếp từ pin xe của bạn.

Điều thứ tư trong việc chọn lựa thiết bị GPS phù hợp, đó là xem xét xem liệu thiết bị GPS của bạn có thể chống rung hoặc chống sự va đập mạnh. Với sự tự do đi xe về bất cứ nơi nào và không bị lạc, GPS của bạn phải đảm bảo có  độ bền và sức chịu đựng lớn. Các thiết bị GPS được thiết kế dành riêng cho xe máy phải bao gồm điều này.

Mặc dù hầu hết các thiết bị GPS đi kèm với một gắn kết, nó là một điều nhất thiết bạn phải sử dụng một rung động cô lập gắn kết nếu GPS thường xuyên được sử dụng trên xe máy của bạn. Các RAM gắn kết của NPI nhanh chóng trở thành tiêu chuẩn công nghiệp, một quả bóng chống rung và hệ thống ổ lắp cho phép bạn gắn kết bất kỳ thứ gì ở bất cứ nơi nào với sự bảo vệ độ rung và độ bền.

Điều thứ năm, cũng không kém phần quan trọng khi chọn lựa các thiết bị GPS  cho xe máy, đó là tính tiện dụng, dễ cập nhật của sản phẩm. Với sự thay đổi đường liên tục, khả năng cập nhật thiết bị dễ dàng, và chi phí hợp lý, là những yếu tố rất quan trọng để xem xét khi lựa chọn GPS của bạn.


Điều quan trọng là nhận ra rằng mỗi loại GPS sẽ được cập nhật theo một cách khác nhau, và vì vậy bạn cần phải chọn quá trình cập nhật nào tốt hơn cho bạn.

Những thiết bị GPS lai PDA, ví dụ như  Mio A201, thường được cập nhật thông qua PC, trong khi các đơn vị GPS được thiết kế đặc biệt riêng co xe máy có xu hướng cập nhật thông tin qua đĩa CD. Dữ liệu phải được mua từ nhà cung cấp bản đồ. Một số nhà cung cấp phần mềm cụ thể có những giải pháp chuẩn bị các bản đồ có thể được tải về cho GPS của bạn.

Điều thứ sáu, là điều tối quan trọng khi bạn xem xét lựa chọn thiết bị GPS, đó là ngân sách cá nhân. Việc lựa chọn một thiết bị phù hợp với khả năng kinh tế điều rất quan trọng. Về bản chất, sự lựa chọn của bạn có thể hợp lý một cách đơn giản: Mua GPS đắt tiền nhất mà bạn có khả năng chi trả và phù hợp với các nhu cầu của bạn.
Theo: http://www.thietbidinhvi.net

Cách sử dụng GPS có Hỗ Trợ (A-GPS) Trên Điện Thoại NOKIA

Điện thoại của bạn còn có cả chức năng GPS có hỗ trợ (A-GPS). A-GPS là môt dịch vụ mạng. GPS có Hỗ Trợ (A-GPS) được sử dụng để tải về dữ liệu hỗ trợ qua kết nối dữ liệu gói, dữ liệu này sẽ hỗ trợ trong việc tính toán tọa độ của vị trí hiện thời của quý khách khi thiết bị đang nhận tín hiệu từ các vệ tinh.

Khi bạn kích hoạt A-GPS, điện thoại sẽ nhận các thông tin vệ tinh hữu ích từ một máy chủ dữ liệu hỗ trợ qua mạng di động. Với sự trợ giúp của dữ liệu có hỗ trợ, điện thoại của bạn có thể có được thông tin vị trí GPS nhanh hơn.

Điện thoại của bạn được cấu hình để sử dụng dịch vụ A-GPS của Nokia, nếu không có thông số cài đặt A-GPS cho một nhà cung cấp dịch vụ cụ thể nào. Dữ liệu hỗ trợ chỉ được tải về từ máy chủ dịch vụ A-GPS của Nokia khi cần.

Để tắt dịch vụ A-GPS, hãy chọn Menu > Ứng dụng > GPS > Dữ liệu GPSTùy chọn > Cài đặt định vị > Phương pháp định vị > GPS có hỗ trợ > Tắt.

Tắt GPS có Hỗ Trợ

DTắt GPS có Hỗ Trợ

Tắt GPS có Hỗ Trợ

Tắt GPS có Hỗ Trợ

Tắt GPS có Hỗ Trợ

Tắt GPS có Hỗ Trợ

Bạn phải xác định một điểm truy cập internet trong điện thoại để tải dữ liệu hỗ trợ về từ dịch vụ A-GPS của Nokia qua một kết nối dữ liệu gói. Điểm truy cập cho A-GPS có thể được xác định trong cài đặt định vị. Không thể sử dụng điểm truy cập mạng LAN không dây (WLAN) cho dịch vụ này. Chỉ có thể sử dụng một điểm truy cập internet dữ liệu gói. Điện thoại sẽ yêu cầu bạn chọn điểm truy cập internet khi GPS được sử dụng lần tiên.
Nguồn: http://www.nokia.com.vn

4 Ứng Dụng Tiêu Biểu GPS

trimble
Ứng dụng GPS trong lĩnh vực Giáo dục
Chương trình thiết bị Bản đồ & GIS Giáo dục (Mapping & GIS Educator) giới thiệu những giải pháp đơn giản và đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức giáo dục, thực hiện việc giảng dạy về công nghệ GPS và GIS cho học viên dựa trên những công nghệ mới nhất của Trimble.
Chương trình hỗ trợ giáo dục được thiết kế với mục đích phục vụ cho các tổ chức giáo dục và đào tạo. Bằng cách cân đối nhu cầu giữa GPS/GIS các tổ chức này có thể được hưởng rất nhiều quyền lợi của chương trình, cũng như cơ hội lựa chọn thiết bị phần cứng và phần mềm với giá ưu đãi đặc biệt nhằm tiết kiệm nhất cho nguồn kinh phí đầu tư.
Đặc điểm chính của Chương trình thiết bị Bản đồ & GIS Giáo dục:
Lựa chọn bản quyền sử dụng phần mềm cho từ 2 đến 100 học viên
Nhiều giải pháp giảm giá thiết bị phần cứng
Bộ thiết bị cầm tay Juno™ ST cho lớp học
Dịch vụ hỗ trợ nhằm đảm bảo phần mềm luôn được cập nhật
Đào tạo cấp chứng chỉ chuyên nghiệp theo hệ thống Trimble

Ứng dụng GPS trong lĩnh vực Tài nguyên thiên nhiên

http://muare1.vcmedia.vn/images/42/gps9600_1277488441.jpg
Thế giới chúng ta đang sống không ngừng thay đổi. Bảo vệ môi trường và giữ gìn những nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày nay đang trở thành vấn đề quan trọng hơn bao giờ hết. Đây cũng chính là lý do tại sao rất nhiều các cơ quan tổ chức và cá nhân trên toàn thế giới lựa chọn sử dụng các công nghệ GPS và GIS tiên tiến của Trimble hàng ngày, để quản lý một cách có hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có. Hơn 25 năm qua, những công nghệ GPS và GIS đã cho phép con người có thể quản lý một cách có hiệu quả hơn, chi tiết và cụ thể hơn những nguồn tài nguyên thiên nhiên mà con người đang sở hữu.
Từ việc quản lý bền vững hệ thống rừng đến các hoạt động tìm kiếm thăm dò khai thác mỏ, những giải pháp GPS và GIS của Trimble làm cho mọi hoạt động quản lý trở nên dễ dàng hơn, giúp những nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên trong tất cả các công đoạn từ thu thập, lưu trữ, xử lý phân tích và ứng dụng những khối dữ liệu không gian lớn. Các lĩnh vực mà công nghệ GPS và GIS đã có những ảnh hưởng mạnh mẽ phải kể đến là quản lý môi trường, quản lý rừng, quy hoạch và phát triển nông nghiệp, điều tra và khai thác mỏ. Mỗi ngày, công nghệ GIS lại hỗ trợ đắc lực hơn cho con người trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp như bảo tồn động vật hoang dã, quản lý năng suất nông nghiệp, kiểm soát chất lượng nguồn nước và không khí, dịch bệnh và sự di chuyển cũng như phát triển của các thảm hoạ tiềm tàng.
Không phụ thuộc vào lĩnh vực môi trường nào mà bạn đang nghiên cứu hay khu vực phân bố của chúng, những giải pháp của Trimble luôn đảm bảo giá trị gia tăng cho bạn thông qua các thiết bị đơn giản khi sử dụng, hiệu quả, giá thành hợp lý và phương thức ứng dụng sẽ giữ cho số liệu GIS của bạn luôn được cập nhật và có độ chính xác cao

Ứng dụng GPS trong lĩnh vực Dầu & Khí đốt
http://www.southvietnam.com.vn/wp-content/uploads/2011/09/south-rtk-s82t.jpg
Ngày nay, các công ty dầu và khí luôn bị đặt dưới áp lực lớn nhất, tuân thủ và phù hợp với những yêu cầu và quy định quốc tế các công ty luôn phải duy trì số liệu cụ thể về hệ thống hạ tầng ống dẫn vô cùng phức tạp của họ.
Hơn bao giờ hết, các công ty dầu và khí đốt luôn là các công ty đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ GPS và GIS trong việc thành lập các bản đồ, thu thập giám sát và phân tích số liệu thực địa. Các giải pháp công nghệ không gian có thể làm đơn giản đi tất cả từ việc thành lập bản đồ các tài sản cố định như hệ thống đường ống và các đầu nối đường ống đến việc sử dụng chúng cho duy tu bảo dưỡng, để mở rộng hay triển khai các chương trình khắc phục khi có sự cố xảy ra. Các giải pháp của Trimble có độ chính xác tới một vài đềximét thực sự là những công cụ đắt giá và hiệu quả khi các công ty dầu khí muốn xây dựng bản đồ hay xác định vị trí của các tài sản ngầm.
Hầu hết các công ty dầu khí trên toàn thế giới đều đã lựa chọn sử dụng công nghệ và giải pháp GPS và GIS tiên tiến của Trimble để phục vụ cho việc đơn giản hoá các bước xử lý trong quá trình thu thập, lưu trữ và phân tích các dạng số liệu thực địa quan trọng. Với số liệu phân bố không gian các tài sản cố định rất chính xác, cho phép các công ty dầu khí hoạt động hiệu quả hơn, quản lý đơn giản hơn, giảm chi phí và ra tăng lợi nhuận.

Ứng dụng GPS trong Cơ quan chính phủ
Ngay từ những ngày đầu tiên phát triển công nghệ GPS, chính phủ vẫn luôn dẫn đầu trong việc khai thác và sử dụng. Từ cấp trung ương đến địa phương, từ đô thị tới nông thôn, GPS và GIS tạo điều kiện thực sự thuận lợi giúp các cơ quan công quyền hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Có thể bạn chỉ là người duy nhất trong bộ phận thành lập bản đồ của một tổ chức chính phủ chuyên trách về phòng cháy chữa cháy, hay bạn là thành viên của bộ lâm nghiệp chuyên quản lý rừng và các khu bảo tồn thiên nhiên rộng hàng nghìn héc ta, chúng tôi luôn có giải pháp tốt nhất dành cho bạn.
Những công nghệ thu thập số liệu Bản đồ và GPS/GIS của Trimble làm cho công việc của các cơ quan chính phủ trở nên đơn giản hơn rất nhiều mà không phụ thuộc vào kiểu, khối lượng số liệu được thu thập, lưu trữ, xử lý và phân tích cho dù đó có thể là một lượng số liệu không gian rất lớn. Các sản phẩm Bản đồ và GIS của Trimble đảm bảo cung cấp giải pháp hoàn chỉnh cho các cơ quan thành phố, các đơn vị quân sự, các cục bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và bất kỳ cơ quan chính phủ nào có nhu cầu quản lý số liệu nhằm mục đích hỗ trợ việc ra các quyết định nhanh chính xác nhất. Nếu bạn là nhân viên công quyền của chính phủ, không cần phải lo lắng, Trimble và chúng tôi có giải pháp công nghệ GPS và GIS dễ sử dụng, giá thành hợp lý dành riêng cho bạn.
Theo http://www.thietbidinhvi.vn

Nhận dạng những tác động của quá trình nước biển dâng đối với Đồng bằng sông Cửu long và định hướng những hành động ứng phó

Identification of Sea Level Rise impacts on the Mekong Delta and
Orientation of adaptation activities

TS. Trịnh Công Vấn
Viện Khoa học thủy lợi miền Nam,
28 Hàm tử, quận 5, TPHCM
Tóm tắt : Đồng bằng sông Cửu long bao gồm 13 tỉnh thành với diện tích trên đất liền 39.712 km2 chiếm 12,1% diện tích cả nước, dân số năm 2006 khoảng 17,4 triệu người, bằng 21% dân số cả nước, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Theo khuyến cáo của IPCC,2007 khi nước biển dâng cao 1m có tới 15-20 ngàn km2 đất tự nhiên của ĐBSCL bị ngập lụt, hàng triệu người dân phải di chuyển chỗ ở, sản xuất nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng. Trong phạm vi bài viết này tác giả trình bày một số ý kiến ban đầu phục vụ việc nhận dạng những tác động của quá trình nước biển dâng đối với ĐBSCL và định hướng những hành động ứng phó.

Abstract:  The Mekong Delta comprises 13 provinces with the land area of 39,712 km2 making up 12.1% of the whole country area. The population is about 17.4 million people in 2006, occupying 21% of the whole country population. According to the 2007 IPCC interim recommendation, in case of sea level rises-up to 1m, an area of 15,000 to 20,000 km2 in the Mekong Delta  would be flooded, resulting in millions of people having to move their housings and agricultural production being seriously  reduced. Within this article, it would only cover some initial ideas only for an identification of impacts of the sea level rising on the Mekong Delt and recommend orientation of adaptation activities. 
             
1.     Nước biển dâng
Hình 1: Mực nước biển dâng trong quá khứ và
 Dự báo  (IPCC, kịch bản  A1B, 2007)
Biến đổi khí hậu đang làm cho các đại dương ấm lên. Theo quan trắc trong thời gian từ năm 1961 đến năm 2003 nhiệt độ đại dương tòan cầu tăng bình quân 0,100C, trong đó tốc độ tăng trong thập kỷ từ 1993 đến 2003 cao hơn mức bình quân. Nhiệt độ tăng làm cho tăng dung tích nước vốn có của các đại dương đồng thời làm cho băng tan từ các vùng cực Bắc và Nam cực, từ các khối băng tiềm tàng trên các núi cao. Hệ quả của các hiện tượng này là quá trình nước biển dâng.  Từ năm 1961 đến 2003 tốc độ bình quân mực nước trung bình của các đại dương nâng lên khỏang 1,8±0,5 mm/năm. Tốc độ biển dâng từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX quan trắc được có chiều hướng ngày một gia tăng. Kết quả quan trắc bằng thiết bị vệ tinh cho thấy trong thập niên 1993-2003 tốc độ nước biển dâng bình quân khỏang 3,1±0,7 mm/năm. Theo báo cáo của IPCC, 2007 với kịch bản biến đổi khí hậu A1B mực nước biển dâng vào năm 2090 so với năm 1990 bình quân từ 22 đến 44 cm, với tốc độ khỏang 4mm/năm. Hình 1 trình bày quá trình biển dâng trong quá khứ (quan trắc được và ước đóan) và dự tính cho tới cuối thế kỷ XXI với kịch bản A1B của biến đổi khí hậu. Mức độ biển dâng trên từng vùng không đều nhau, căn cứ vào tài liệu thực đo được trình bày tại hình 2, cho thấy vùng biển Việt nam và châu Á trong thập niên từ 1993-2003 nước biển dâng cao bình quân trên 3mm/năm trong khi tốc độ bình quân trong thế kỷ XX khỏang 1,7 – 2,4 mm/năm cho thấy nguy cơ nước biển dâng sẽ nhanh hơn trong tương lai. Số liệu của trạm quốc gia Hòn Dấu ghi nhận được trong vòng 50 năm mực nước biển dâng khỏang 20 cm. Tại Vũng tàu, trong vòng thời gian từ 1979 đến 2006 mực nước trung bình tăng khỏang 9,5 cm trong khi mực nước cao nhất tăng gần 13 cm (hình 2). Cũng cần lưu ý, ngoài sai số chủ quan trong quan trắc, ghi chép…, kết quả ghi lại từ các trạm đo nước còn bao gồm sai số do sự biến dạng (nâng lên hay hạ xuống) của vỏ trái đất.
Hình 2: Mực nước tại Vũng tàu quan trắc từ 
1979 đến 2006 (Theo Trương Văn Hiếu,
 Phân viện khí tượng thủy văn phía nam)
Những nghiên cứu của cộng đồng quốc tế từ nhiều thập niên cho đến nay đã khẳng định sự tất yếu của quá trình biển dâng, một trong những hệ quả của biến đổi khí hậu tòan cầu. Tốc độ biển dâng ngày một tăng lên và là xu hướng không thể đảo ngược.
Biến đổi khí hậu và vấn đề nước biển dâng mới chỉ được nhắc đến tại Việt nam vào mấy năm gần đây, thậm chí còn có những nghi vấn phải chăng mực nước biển đang dâng cao? Các nhà khoa học và quản lý trên thế giới đã quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu từ nhiều thập kỷ trong đó, mốc quan trọng là việc thiết lập cơ quan liên chính phủ về Biến đổi khí hậu gọi tắt là IPCC (Intergovenmental Panel on Climate Change) bởi Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, UNEP (the United Nations Environmetal Programme) và Tổ chức khí tượng thế giới WMO (the World Meteorological Organization) từ năm 1988 nhằm nghiên cứu và cung cấp những hiểu biết về tình trạng biến đổi khí hậu, những nguyên nhân và hậu quả và cùng tìm các giải pháp ứng phó nhằm giảm thiểu và thích ứng. Biến đổi khí hậu là vấn đề mang tính tòan cầu và rất phức tạp. Hệ quả của biến đổi khí hậu đối với biển lại bao gồm rất nhiều các vấn đề liên quan đến sự thay đổi của các dòng hải lưu, thay đổi sinh hóa của đại dương, độ mặn, hệ sinh thái… và nước biển dâng chỉ là một trong những hệ quả được nhắc đến trong bài viết này.
Nước biển dâng vừa là vấn đề có tính tòan cầu nhưng thực sự là vấn đề của mỗi quốc gia. Nước biển dâng sẽ gây tổn thương nhiều nhất cho các vùng đất thấp ven biển, trong đó có Việt nam. Nhận biết, đánh giá những tác động của quá trình nước biển dâng đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước nói chung và ĐBSCL nói riêng trên cơ sở đó có những hành động ứng phó phù hợp và kịp thời là công việc cần được thực hiện cấp bách một cách nghiêm túc, có hệ thống.
2.     Nhận dạng những tác động của quá trình nước biển dâng đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu long
Những tác động của nước biển dâng đến vùng ven biển
Vùng ven biển được hiểu là những dải đất gần biển nhất, hòan tòan bị chi phối bởi nước mặn quanh năm, không thể cung cấp nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp, chịu tác động trực tiếp của biển như sóng, gió, bão…. Bề rộng dải đất này được xác định một cách tự nhiên hoặc được giới hạn bởi đường biên cuối cùng của các dự án thủy lợi đang làm nhiệm vụ ngăn mặn và giữ ngọt. Ở đây người dân chủ yếu sống bằng nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, làm muối, trồng rừng và các dịch vụ liên quan đến du lịch, vận tải sông – biển…. Biến đổi khí hậu đã được dự báo sẽ dẫn đến hậu quả gia tăng số lượng các cơn bão biển, các lốc xoáy đồng thời cường độ các hiểm họa này cũng có thể gia tăng bất thường. Thời tiết những năm gần đây ở nước ta cũng như ĐBSCL đã có những biểu hiện phù hợp với cảnh báo của các nhà khoa học.  Cùng với nước biển dâng, tác động xâm thực bờ biển trong khu vực sẽ tăng lên đột biến. Sự phát triển các hồ chưa nước phát điện trên dòng chính của Mê công do các quốc gia thượng nguồn như Trung quốc, Miến điện, Lào.. đang làm biến đổi chế độ dòng chảy mùa cạn và mùa lũ đồng thời làm giảm nghiêm trọng lượng phù sa xuống ĐBSCL. Tình trạng này không chỉ là tác nhân làm cho quá trình xói lở bờ biển trầm trọng thêm mà còn làm suy thoái hệ sinh thái ven biển. Rừng tràm, đước ven biển còn tồn tại rất ít như hiện nay sẽ có nguy cơ mất đi do ngập sâu hơn, nền đất bị xói trôi hoặc không còn đủ lượng dinh dưỡng. Những năm gần đây sự phát triển “hướng ra biển” càng ngày càng gia tăng vì vậy các thiệt hại tiềm ẩn do thiên tai vùng ven biển đối với con người và của cải ngày càng lớn, đặc biệt đối với nước ta khi còn chưa có những quy họach phát triển bền vững vùng ven biển có xét đến quá trình biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Sự xói lở mất đất ở một số khu vực như Gò công, Gành hào sẽ gia tăng đột biến. Kết quả một số nghiên cứu cho rằng khi mực nước biển dâng lên 30 cm thì bờ biển có nguy cơ xói lở mất đi khỏang 45m. Những công trình bảo vệ bờ biển gồm kè, cảng và đê biển sẽ phải chịu tác động gia tăng nhiều của sóng biển khi chiều sâu nước trước công trình tăng lên và mất bãi do xói lở hoặc biến mất của dải rừng phòng hộ. Rất nhiều trường hợp kết cấu đê biển không còn đảm bảo an tòan không chỉ do cao trình đỉnh đê không đảm bảo mà các lực tác động lên thân đê, dòng thấm qua đê… sẽ vượt quá khả năng thiết kế ban đầu. Tuyến đê biển hiện nay tại Tiền giang, một số đọan đê biển của Cà mau, Bạc liêu sẽ là những ví dụ điển hình cho hòan cảnh này. Các kết cấu hạ tầng khác như nhà cửa, đường giao thông, cầu cống… sẽ bị ngập trong tương lai nếu ngay từ bây giờ nó không được xây dựng trên tính tóan có xét đến yếu tố nước biển dâng. Nước biển dâng cũng sẽ tác động tiêu cực đến môi trường dải đất ven biển.
 Những tác động của nước biển dâng đến xâm nhập mặn
Hình 3: Các hệ thống thủy lợi tại 
ĐBSCL và ranh giới măn hiện tại  
 (Theo Phân viện QHTL Miền nam)

Dưới tác động của thủy triều nước mặn xâm nhập vào nội đồng và có xu hướng đi xa hơn do tình trạng nguồn nước ngọt từ thượng lưu Mê công ngày càng bị giảm vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Mặn trên sông Hậu lên quá Đại ngãi 8-10 km; trên sông Cổ Chiên mặn 1 g/l cũng đi quá rạch Vũng liêm; trên sông Hàm luông trong tháng 2, 4 nhiều năm tại vị trí thượng lưu rạch Bến tre 5-10 km cũng đã từng không thể sử dụng nước cho sinh họat; trên sông Tiền ranh mặn 4 g/l vượt quá Mỹ tho 10 km. Sản xuất nông nghiệp trong thập kỷ qua ở ĐBSCL đạt được những thành tựu to lớn một phần quan trọng nhờ vào các biện pháp thủy lợi, trong đó các dự án ngọt hóa (ngăn mặn, giữ ngọt) đóng vai trò rất quan trọng, chiếm tới 21,7% diện tích tự nhiên tòan đồng bằng. Các dự án ngọt hóa được xây dựng bao gồm hệ thống đê biển, đê sông và các cống làm nhiệm vụ ngăn mặn-giữ ngọt-tiêu úng (hình 3). Nguồn nước ngọt được lấy từ cửa về phía thượng lưu vùng xâm nhập mặn. Khi nước biển dâng, mặn truyền sâu hơn trên các sông chính dẫn đến nguy cơ phá vỡ các dự án ngọt hóa do các cửa “lấy ngọt” của các dự án sẽ bị nhiễm  mặn. Dự án ngọt hóa Nam mang thít với diện tích khu vực hưởng lợi lên đến 225.682 ha thuộc hai tỉnh Vĩnh long và Trà vinh được xây dựng bằng nguồn vốn của Chính phủ và vay của Ngân hàng thế giới 


từ những năm 1990. Dự án đã đem lại hiệu quả to lớn về kinh tế, xã hội nhờ sản xuất nông nghiệp, cải thiện môi trường nông thôn…. Dự án bao gồm các công trình ngăn mặn như đê biển, đê sông Hàm luông, đê sông Hậu, các cống ngăn mặn như Láng thé, Cần chông…và các kênh chuyển nước ngọt từ sông Mang-thít cung cấp nước tưới cho tòan dự án. Khi nước biển dâng, mặn trên 4g/l sẽ vượt qua cửa sông Mang - Thít thì tòan bộ dự án sẽ không còn đảm bảo chức năng “ngọt hóa” (hình 4). Việc dẫn nguồn ngọt từ xa hơn (dù chấp nhận chi phí lớn hơn) sẽ rất khó khăn không chỉ vì khó tìm cửa lấy nước ngọt mà còn do chênh lệch đầu nước không đủ để vận chuyển nước qua một chặng quá dài. Dự án Qủan lộ - Phụng hiệp cũng được xây dựng từ những năm đầu 1990 phục vụ cho diện tích vùng hưởng lợi của các tỉnh Sóc trăng, Bạc liêu, Cà mau lên tới 263.743 ha. Nguồn nước ngọt dự kiến chuyển từ sông Hậu hiện không thể tới được Cà mau do khỏang cách chuyển nước quá lớn, phân ranh mặn – ngọt vẫn là bài tóan phức tạp của khu vực. Trong tương lai nước biển dâng, khả năng cấp ngọt từ sông Hậu trở nên khó khăn hơn trong khi mặn truyền sâu hơn vào trung tâm bán đảo Cà mau. Các dự án ngọt hóa thuộc Tiền giang và Bến tre cũng sẽ phải đối diện với nguy cơ mất nguồn cấp nước ngọt tương tự.
Hình 4: Cống Láng thé, Trà vinh
(tổng khẩu diện 100m) có nhiệm 
vụ ngăn mặn, lấy ngọt và tiêu úng, 
trong tương lai  nước biển dâng sẽ 
làm mất khả năng lấy ngọt cho dự án NMT
Triều biển Đông thuộc chế độ bán nhật triều với hai đỉnh xấp xỉ nhau và hai chân triều thấp khác nhau, mực nước cao khỏang từ +1,0 đến +2,14m, trong khi mực nước thấp dao động từ -2,68 đến -1,99m. Dạng triều chữ M có một chân cao tạo nên thế khó tiêu nước cho nội đồng. Triều biển Tây có biên độ nhỏ (khoảng 1m) với cao độ mực nước cao khỏang +0,7 đến +1,1m trong khi chân triều chỉ vào khỏang -0,4 đến -0,5m. Khi nước biển dâng, cả hai chế độ thủy triều đều có tác động xấu đến ĐBSCL. Dự báo (Chen, 1991 và Zang và Du,2000) cho rằng sự dâng cao của bình quân mực nước đỉnh triều nhiều hơn tốc độ nâng lên của mực nước trung bình. Số liệu thực đo tại trạm Vũng tàu cũng thể hiện điều này, có nghĩa là nguy cơ đối với ĐBSCL càng lớn hơn. Nước biển dâng còn làm cho quy mô các tuyến đê sông, đê biển hiện hữu có thể không đủ để đảm bảo nhiệm vụ  ngăn mực nước cao nhất của thủy triều. Có những đọan đê thậm chí còn phải dịch tuyến vào sâu hơn trong đất liền do xâm thực đường bờ biển. Các cống ngăn mặn–tiêu úng sẽ phải làm việc với mực nước thủy triều đã dâng cao hơn thiết kế ban đầu cho nên khả năng tiêu thóat nước sẽ giảm đi đáng kể so với dự kiến. Các cống ven biển Tây do chịu tác động của triều có biên độ nhỏ, khi mực nước biển dâng lên khả năng tiêu thóat giảm đi rất nhiều, nhiệm vụ của dự án sẽ không còn được đảm bảo. Nhìn chung, hầu hết các dự án ngọt hóa hiện nay ở ĐBSCL sẽ đối diện với nguy cơ bị phá vỡ rất nghiêm trọng dưới tác động của nước biển dâng trong tương lai.
Vùng thượng lưu (tạm được hiểu) là phần diện tích không bị nhiễm mặn nằm sâu trong đất liền gần biên giới Việt nam – Campuchia, hiện nay có diện tích tự nhiên vào khỏang 45% diện tích tòan đồng bằng. Nước biển dâng sẽ mở rộng vùng xâm nhập mặn, thu hẹp diện tích vùng nước ngọt. Theo tính tóan sơ bộ, nếu không có biện pháp giảm thiểu thì nước mặn có thể bị đẩy lên An giang trên sông Hậu. Nước mặn xâm nhập sâu hơn không chỉ làm thu hẹp diện tích có nước ngọt mà còn làm mất cơ hội lấy nước ngọt cấp cho diện tích của các dự án ngọt hóa đã trình bày ở trên. Dòng chảy mùa cạn trên sông Mê công về tới ĐBSCL sẽ giảm mạnh do tác động của các dự án sử dụng nước và phát điện của các nước thượng lưu cũng như sự biến đổi bất lợi chế độ mưa trong khu vực. Trong hòan cảnh này nước biển dâng sẽ gây những tác động nghiêm trọng đối với vùng sản xuất lúa lớn nhất Việt nam, cản trở phát triển kinh tế xã hội tòan đồng bằng và ảnh hưởng đến an ninh lương thực khu vực và thế giới.
Những tác động của nước biển dâng đối với thóat lũ và tiêu thóat nước mưa khu vực  Đồng bằng sông Cửu long.
Quy họach lũ ĐBSCL đã được chính phủ phê duyệt nhằm từng bước xây dựng các dự án (công trình và phi công trình) khắc phục các thiệt hại do lũ lụt gây ra. Trên thực tế chúng ta cũng mới chỉ thực hiện được phần cơ bản của dự án kiểm sóat lũ vùng tứ giác Long xuyên (hay còn gọi là dự án thóat lũ ra biển Tây) bao gồm tuyến kiểm sóat lũ tràn biên giới và các công trình ngăn mặn, thoát lũ ven biển Tây thuộc tỉnh An giang và Kiên giang. Ngay sau khi hoàn thành giai đọan này vào năm 2000, tứ giác Long xuyên không chỉ phát triển mạnh mẽ về sản xuất nông nghiệp mà còn cải thiện rất lớn về môi trường nước, cải tạo đất, nâng cấp hạ tầng cơ sở nông thôn…Kiểm sóat lũ vùng Đồng Tháp Mười vẫn còn trong giai đọan nghiên cứu và xây dựng thử nghiệm một số rất ít các dự án tạo hành lang thóat lũ. Diện tích ngập lũ tại ĐBSCL bao gồm vùng ngập sâu và ngập nông được quy họach các giải pháp tương ứng là kiểm sóat lũ theo thời gian và kiểm sóat lũ cả năm (triệt để). “Sống chung với lũ” ở khu vực ngập sâu chính là “né lũ đầu vụ” bằng hệ thống bờ bao nhằm kịp thu họach lúa hè thu trước khi xả lũ chính vụ vào đồng và gạn nước lũ cuối vụ ra sớm hơn để có thể xuống giống Đông-Xuân kịp thời.
Hình 5: Ngập do thủy triều tại TPHCM
Nước biển dâng cản trở trực tiếp lũ thóat ra biển làm cho mực nước trên các sông chính nâng cao gây ngập trên diện rộng hơn và nguy hiểm còn ở chỗ nó làm kéo dài thời gian ngập. Lũ sớm trong tương lai sẽ cao hơn và thời gian thóat lũ về cuối vụ cho tòan đồng bằng sẽ dài hơn ảnh hưởng trực tiếp đến kế họach canh tác vụ Đông-Xuân trên diện rộng. Rất có thể quy mô các khu dân cư vượt lũ hiện nay sẽ bị đe dọa khi mực nước dâng cao hơn dự kiến. Mực nước các sông, rạch dâng cao cũng dẫn đến việc tiêu thóat nước mưa trong các khu vực, đặc biệt các đô thị, khu dân cư khó khăn hơn.
Theo tính tóan của IPCC vào cuối thế kỷ 21 với kịch bản A1B, mực nước biển bình quân có thể dâng lên khỏang 50 cm so với mực nước năm 1990 trong khi còn có những kịch bản và dự báo cực đoan hơn. Với cao độ mặt đất tự nhiên thấp, nhanh chóng bị tổn thương ngay cả khi mực nước tăng lên vài centimetre, ĐBSCL sẽ chịu tác động rất lớn của hiện tượng nước biển dâng. Nhiều khu vực có thể tiêu thóat nước mưa tự nhiên hiện nay sẽ có nguy cơ ngập úng nếu không có được bơm tiêu ra sông chính. Khu vực ven biển Tây sẽ chịu úng ngập thời gian dài vì biên độ triều nhỏ, mực nước chân triều (giúp cho tiêu thoát ra biển) vốn hiện nay chỉ vào khỏang -0,50m, khi nước biển dâng thêm 50 cm sẽ có nhiều diện tích đất không thể tự thóat nước.
Nhìn chung nước biển dâng sẽ tác động mạnh và làm giảm khả năng thóat lũ ra biển, gây úng ngập nghiêm trọng ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL trong tương lai. Những đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần thơ, Long xuyên… sẽ bị úng ngập trầm trọng do mưa kết hợp với triều cường, nhiều cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, tiêu nước, thủy lợi sẽ không còn phù hợp.(hình 5)

3.     Định hướng hành động thích nghi với những tác động của quá trình nước biển dâng
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã được khẳng định là nguy cơ lớn nhất mà con người phải đối diện trong thế kỷ 21. Xu hướng gia tăng các hệ quả tiêu cực của biến đổi khí hậu trong đó bao gồm nước biển dâng là không thể đảo ngược và đã có những cảnh báo là nghiêm trọng hơn những gì được dự báo bởi IPCC, 2007. Việt nam là một trong những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất của hiện tượng nước biển dâng trong đó ĐBSCL sẽ bị tổn thương rất lớn nếu không có biện pháp ứng phó phù hợp và kịp thời.
Các biện pháp ứng phó bao gồm 2 nhóm hành động chính là “làm giảm nhẹ” (mitigation) và ‘thích nghi” (adaptation). Những hành động “làm giảm nhẹ”, có tính toàn cầu, đã được khuyến cáo như hạn chế sử dụng nhiên liệu có nguồn gốc hóa thạch (như dầu mỏ, than đá), tránh phát thải khí mêtan…Những hành động “thích nghi” có thể nhiều lựa chọn, ví dụ như khi nước biển dâng cao vùng ven biển có thể di dời dân cư vào sâu trong đất liền, dịch tuyến đê biển vào xa hơn vùng xói lở hoặc có thể gia cố, nâng cao đê biển đủ khả năng chống đỡ với những tác động mới gia tăng của sóng, gió do nguyên nhân nước biển dâng gây ra. Tương tự như vậy, khi nước biển đẩy vùng xâm nhập mặn vào sâu hơn cũng có thể “thích nghi” bằng việc chuyển diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản, hoặc bảo vệ vùng trồng lúa bằng cách nâng cao đê bao, mở rộng kích thước cống tiêu và chuyển dịch cửa lấy nước ngọt xa hơn về thượng lưu, hoặc phối hợp cả 2 để có lựa chọn thứ 3.
3.1     Định hướng hành động thích nghi đối với phát triển vùng ven biển
Để hạn chế tối đa những thiệt hại đối với kinh tế xã hội, giảm thiểu những rủi ro cho con người và tài sản, ngay từ bây giờ vùng ven biển cần được xem xét quy họach phát triển một cách cẩn trọng có xét đến các yếu tố biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Các công trình hạ tầng xây dựng mới cần được xem xét lựa chọn vị trí xây dựng, tiêu chuẩn thiết kế…phù hợp với những yếu tố tác động do mực nước biển dâng cao hơn. Các công trình hiện hữu phải được xem xét, đánh giá và có kế họach nâng cấp hay di dời trong lộ trình thích ứng. Cần có kế họach xây dựng “nhà tránh bão, lũ” cho cộng đồng dân cư vùng ven biển. Trồng rừng bảo vệ dải ven biển cần được xác định không phải chỉ cho sự an tòan của mỗi địa phương mà phải là công việc phục vụ cho lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia từ đó có chính sách chia sẽ hợp lý về kinh tế giữa các cộng đồng dân cư.
3.2     Định hướng hành động thích nghi trong sản xuất nông nghiệp.
Trước hết cần có những khảo sát, nghiên cứu nghiêm túc, có hệ thống để đánh giá một cách cụ thể những tác động của quá trình nước biển dâng đối với từng hệ thống sản xuất nông nghiệp đang được ngọt hóa, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp ứng phó. Mặc dù nước biển dâng trong những thập kỷ tới đang được cảnh báo là sẽ có những gia tăng đột biến nhưng đây là hiện tượng diễn biến trong nhiều năm. Chúng ta hòan tòan có thể giả thiết một tốc độ dâng cao của nước biển cùng với những kịch bản dòng chảy từ thượng lưu và sử dụng các mô hình tóan (SAL, VRSAP, MIKE…) để dự báo sự diễn biến (gia tăng) của vùng bị xâm nhập mặn, trên cơ sở đó chỉ ra những nguy cơ của các hệ thống thủy lợi “ngọt hóa” hiện hữu theo thời gian. Thông thường các dự án ngọt hóa không chỉ lấy ngọt từ một vị trí. Độ mặn trên sông chính thay đổi theo các tháng, trong những tháng kiệt (tháng 2-tháng 4) mặn xâm nhập sâu hơn. Ngay trong một tháng thì những khi triều cuờng, kèm theo gió chướng, mặn cũng bị đẩy sâu hơn khi triều kém. Các cống ven sông chính làm nhiệm vụ lấy ngọt cho khu vực dự án khi nước tại cửa sông nhánh đó chưa bị nhiễm mặn và sẽ đóng cửa cống ngăn mặn vào những tháng mặn xâm nhập tới. Vì vậy khi nước biển dâng thì các cống phía gần biển hơn sẽ bị mất khả năng lấy nước ngọt trước, các cống tiếp theo sẽ giảm dần thời gian và tổng lượng nước ngọt có thể lấy để cấp cho sản xuất nông nghiệp. Mô hình tóan cho phép tính tóan dự báo sự suy giảm khả năng cấp nước ngọt của các hệ thống thủy lợi, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp ứng phó: chuyển đổi mùa vụ hay cây trồng, vật nuôi (thủy sản) phù hợp hoặc tăng cường lượng nước ngọt từ thượng lưu bằng biện pháp công trình. Chúng ta có thể dự báo về diễn tiến của sự mất an tòan theo thời gian của dự án thủy lợi ngăn mặn và giữ ngọt Nam Mang-thít nhưng khi mặn vượt qua sông Mang-thít thì khả năng cấp ngọt cho trên 200 ngàn ha đất nông nghiệp sẽ giảm đột biến. Vào thời điểm đó người dân cần được sẵn sàng cho sự “thích nghi” về canh tác hoặc là các công trình kiểm sóat mặn mới đã kịp xây dựng và đưa vào sử dụng. Đánh giá “sự không phù hợp” của hệ thống công trình, của từng thành phần hay hạng mục công trình, của từng lọai kết cấu công trình (ví dụ cửa van cống, kết cấu thủy công) theo thời gian và kịch bản nước biển dâng. Trên cơ sở đánh giá sự suy giảm năng lực của các hệ thống công trình, chúng ta có thể đề xuất các ứng phó bao gồm các giải pháp làm giảm tổn thương của các hệ thống hiện hữu hoặc thiết lập hệ thống kiểm sóat mới. Trong tương lai, khi nước biển dâng cao, dòng chảy trên sông chính bị giảm do sử dụng nước thượng lưu, rất có thể cần thiết lập hệ thống mới bằng cách xây dựng các công trình tại cửa các sông lớn ở ĐBSCL nhằm kiểm sóat mực nước, tránh cho khu vực phía trong đồng bằng không bị ngập lụt và không bị xâm nhập mặn quá mức cần thiết, hạn chế sự thất thóat nước ngọt ra biển trong những thời gian dòng chảy kiệt… Để có thể áp dụng những công trình như vậy trong tương lai thì ngay từ bây giờ chúng ta phải nghiên cứu và trả lời được câu hỏi về sự cần thiết xây dựng? thời điểm nào thì cần sự tham gia của công trình? Những tác động (không mong muốn) của công trình đối với môi trường và phát triển bền vững… Quy hoạch chuyển đổi mùa vụ, cây trồng… nhằm thích nghi với điều kiện mới đối với các diện tích vùng không bị xâm nhập mặn sẽ bị thu hẹp trong tương lai và tình trạng bị hạn hán về mùa khô, bị úng ngập trong mùa mưa có thể sẽ nghiêm trọng và kéo dài hơn trước. Điều chỉnh, nâng cấp hệ thống đê bao, bờ bao chống lũ phù hợp với mực nước gia tăng vào mùa lũ tại các địa phương.
3.3     Định hướng hành động thích nghi trong phát triển hạ tầng và môi trường
Nước biển dâng không chỉ đơn giản làm cho mực nước triều cao hơn hiện nay mà còn cản trở sự thóat lũ ra biển gây ngập lụt do triều nặng nề hơn đối với vùng ven biển và ngập lũ khu vực trung tâm ĐBSCL nghiêm trọng hơn. Đòi hỏi nâng cấp các công trình hạ tầng hiện hữu như đường giao thông, hệ thống tiêu thóat nước đô thị để đáp ứng yêu cầu khi mực nước trên sông rạch gia tăng trong mùa mưa lũ hay triều cường. Quy họach phát triển các khu dân cư, đặc biệt các đô thị lớn được xây dựng mới nhất thiết phải được xét đến các yếu tố của biến đổi khí hậu và hậu quả của nước biển dâng. Tình trạng tiêu thóat nước kém và úng ngập trên diện rộng, kéo dài làm khó khăn cho công tác xử lý môi trường sinh họat, công nghiệp vì vậy, ngay từ bây giờ cần kiên quyết không bố trí các khu công nghiệp có tính xả thải lớn ở trung tâm ĐBSCL. Mô hình tóan cho phép dự báo mực nước trên tòan ĐBSCL với các kịnh bản về lũ, mưa tại chỗ…cùng với nước biển dâng sau từng thập niên. Nếu như trong sản xuất nông nghiệp sự thích nghi có thể áp dụng từng bước theo lộ trình tương ứng nước biển dâng thì xây dựng các công trình hạ tầng cần có quy định áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế cho các dự báo 20-50 năm hay 100 năm.
4.     Kết luận
(1)   Nước biển dâng, hệ quả của biến đổi khí hậu toàn cầu, có xu hướng tăng nhanh vào những thập niên tới sẽ tác động mạnh mẽ đến các yếu tố thủy hải văn và chế độ dòng chảy trên hệ thống sông rạch vùng ĐBSCL, làm gia tăng xâm nhập mặn, úng ngập nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội và môi trường.  
(2)   Ứng phó với quá trình nước biển dâng trước hết là nhận thức từ các cấp quản lý cao nhất của nhà nước tới người dân về những thách thức trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp. Những tác động cần được đánh giá và “lượng hóa” một cách khách quan, tòan diện và cụ thể làm cơ sở hoạch định chiến lược cho thích ứng trong dài hạn và ứng xử phù hợp đối với xây dựng và phát triển trong ngắn hạn.
Bài viết đầy đủ độc giả tải về tại đây: Download
Tài liệu tham khảo:
  1. IPCC, 2007: Climate Change 2007, Impacts, Adaptation and Vulnerability.
  2. Bryson Bates, Zbigniew W.Kundzewicz, Shaohong Wu, Jean Palutikof. Climate Change and Water, IPCC, 2008
  3. Trương Văn Hiếu, 2008: Đánh gía ảnh hưởng của mưa,triều, lũ thượng nguồn đến tình hình ngập và biện pháp thoát nước mưa đô thị khu vực tp. Hồ chí minh, hội thảo tại UBND TPHCM.

 

Lập trình ArcGIS Engine Control