DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


MỘT CÁCH TIẾP CẬN KHÁC CHO PHÁT TRIỂN GIS Ở VIỆT NAM

 http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/ClimateGIS-1.jpg
Bối cảnh
Bối cảnh rộng lớn nhất, bao trùm lên mọi hạt động kinh tế và xã hội, khoa học và công nghệ là bối cảnh sáng sủa của thời kỳ toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Nói như Fridman là thế giới đang “phẳng hoá”, khoảng cách địa lý không còn là vấn đề quan trọng, giao lưu quốc tế, đặc biệt là trong thế giới “ảo” diễn ra vô cùng sôi nổi. Một trong những yếu tố góp phần làm nên diện mạo của thế giới ngày nay là sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT). Nhận thức được rằng CNTT là công nghệ cao đứng đầu trong các công nghệ cao với nghĩa là nó tạo ra những sản phẩm mới với những tính năng, phẩm chất đực biệt chưa từng có và nó tác động đến hầu hết các lĩnh vực của khoa học và đời sống, nên liên tục từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước đến nay CNTT được ưu tiên phát triển, ứng dụng. Một loạt các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, các luật và văn bản dưới luật về CNTT và ứng dụng CNTT được ban hành và triển khai thực hiện. Bộ Bưu chính Viễn thông trước đây và Bộ Thông tin và Truyền thông hiện nay và hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông ở các địa phương được được thành lập. Các chiến lược phát triển và chương trình hành động tổng thể và cho từng ngành, từng địa phương được xây dựng và phê duyệt. Có thể nói rằng, trong thời gian vừa qua, đã có một cuộc “đồng khởi” về phát triển và ứng dụng CNTT.
Vào các năm 1997-1998 Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) có một dự án lớn về GIS với mục tiêu xây dựng được “14 lớp bản đồ số hoá” và ở mỗi tỉnh và thành phố đều có một dự án nhánh. Đơn vị chủ trì ở các địa phương là các sở KHCNMT, sở Địa chính hoặc Văn phòng UBND tỉnh, tuỳ vào điều kiện cụ thể của các địa phương. Tuy nhiên, người thực hiện thực sự, đa số là các chuyên gia GIS từ các viện, trường. Đến nay, các thiết bị được mua sắm hồi đó là máy tính và máy in màu nay đã khấu hao hết. Không biết các tỉnh có còn sử dụng 14 lớp bản đồ kia không, chỉ biết rằng dự án để lại nhận thức sai lầm về GIS rằng GIS là các bản đồ số hoá.
May mắn là, cũng trong thời kỳ này, các dự án hỗ trợ kỹ thuật vào Việt Nam nhiều, và dù ở lĩnh vực nào thì hầu như tất cả các dự án nước ngoài đều có nội dung lập bản đồ GIS cho ngành hoặc địa phương. Mức độ thành công phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là dữ liệu đầu vào, mà đây là thứ Việt Nam thiếu nhất và yếu nhất. Vì vậy vai trò quan trọng nhất của các dự án này là là ảnh hưởng đến nhận thức về tầm quan trọng của GIS và khả năng ứng dụng tuyệt vời của chúng.
Từ những khởi đầu sơ khai như vậy, GIS đã bùng phát từ nhu cầu thực tiễn. Tất cả các ngành như quy hoạch, quản lý tài nguyên và môi trường, quản lý đô thị, giao thông, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, thông tin du lịch; tất cả các cấp từ quốc gia, tỉnh, huyện đến xã, thôn đều có nhu cầu ứng dụng GIS cho các hoạt động điều hành, quản lý.
Cũng trong thời gian này Nhà nước đã thực sự vào cuộc với công bố chuẩn quốc gia về lưới chiếu toạ độ VN2000 và phát hành chính thức bản đồ 364 số hoá về địa giới hành chính; thành lập trạm thu ảnh vệ tinh và tháng 3 năm 2008 sẽ phóng vệ tinh. Gần đây, Nhà nước đã thành lập Viện Công nghệ vũ trụ thuộc Viện Khoa học và Công nghệ VN, ban hành Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày của Chính phủ vềứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước và Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định 06/2007/QĐ-BTNMT về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia của thông tin địa lý cơ sở.
Bối cảnh quốc tế và trong nước đó là những tiền đề thuận lợi trong phát triển và ứng dụng GIS ở Việt Nam và thực sự các ứng dụng GIS đã “bùng nổ” (tại hội thảo GISnet’12: Hàng trăm công trình ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã tham dự và trình bày tại hội thảo). Một số dự án ứng dụng GIS đã thành công như UBND quận Gò Vấp, Sở KHCN Đồng Nai, UBND thành phốĐà Lạt, Sở Y tế Quảng Trị … Các ứng dụng GIS được triển khai ở tất cả các lĩnh vực giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường (thí dụ, giám sát sự biến động đa dạng sinh học bằng kết hợp các dữ liệu RS và quan sát của cộng đồng trong dự Hành lang Xanh, Thừa Thiên Huế), phòng trách và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp và nông thôn (trồng trọt, phòng trừ dịch bệnh), phát triển du lịch, qủan lý đô thị (thí dụđiển hình là quận Gò Vấp “muốn quản lý từng căn nhà, từng hộ gia đình” trong quận), quản lý quy hoạch và đầu tư (Nguyễn Bình - Việt kiều Canada, chuyên gia tư vấn GIS cho HCMC “GIS là công cụ cho phép lựa chọn phương án đầu tư”, quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản (dự án IMOLA, Thừa Thiên Huế).
Thành công chung của tất cả các dự án là các tổ chức, địa phương thụ hưởng có một số bản đồ GIS, một số ít cơ sở dữ liệu GIS, một đội ngũ nhân lực được đào tạo ở các trình độ khác nhau.
Những khó khăn và tồn tại trong phát triển GIS ở Việt Nam
Trong quá trình phát triển và ứng dụng CNTT nói chung và GIS nói riêng ở Việt Nam, giới làm GIS và các địa phương muốn ứng dụng GIS đang gặp những khó khăn, từ nhiều phía, có cả những khó khăn do chính họ tạo ra như một thứ rào cản nhận thức không dễ vượt qua.
Cũng như giới KHCN nói chung, các nhà tư vấn GIS đang giới thiệu cho các tổ chức, các địa phương có nhu cầu (đang ở dạng tiềm năng) những gì họ có trong tay, có thể làm, mà không bắt đầu từ tìm hiểu nhu cầu của người dùng để tìm cách đáp ứng. Mặt khác, những người có thẩm quyền quyết định đầu tư, phê duyệt dự án thì hầu hết không có hiểu biết đầy đủ về GIS và khả năng ứng dụng của nó, cứ theo nhận thức cũ về “các lớp bản đồ số hoá” mà quyết định. Trong trường hợp nếu tư vấn đúng, thì lại gặp khó khăn muôn thủa: vốn. Cái khó bó cái khôn, nhiều địa phương không đủ vốn để thực hiện dự án ngay một lúc và ở quy mô lớn (toàn tỉnh).
Quốc gia vẫn chưa ban hành được các loại chuẩn CNTT (công việc được xác định phải tiến hành đầu tiên từ thời Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT giai đoạn một 1996-2000), bao gồm chuẩn thông tin, dữ liệu và quy trình và không có quy định buộc phải theo chuẩn, thí dụ về TCVN 6906 về mã tiếng Việt. “Thiếu chuẩn - lỗi của Nhà nước” – đó là nhận xét của ông Nguyễn Quang A trên tạp chí PCW (B) 5/07.
Trong mục tiêu của các chương trình CNTT từ cấp quốc gia đến các ngành, các cấp, hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, được xây dựng theo chuẩn thống nhất, phù hợp với chuẩn quốc tế nhằm chia sẻ, trao đổi được trong phạm vi quốc gia và quốc tế, tích hợp vào hệ thống chung toàn quốc chưa được chú trọng. Vì vậy các trang thông tin điện tử ít người truy cập, các xã lộ thông tin không có “xe chạy”. Gần đây, trong các cuộc hội thảo mới thấy công bố về việc xây dựng các CSDL quốc gia, như thế là ngược và chậm. Cho đến nay vẫn chưa có quy định của Nhà nước về xây dựng, cập nhật, nâng cấp, tiếp cận, sử dụng và quản lý các cơ sở dữ liệu tổng hợp và chuyên ngành.

Tính không chuyên nghiệp cũng là một rào cản lớn trên con đường phát triển GIS của Việt Nam: Các ngành, các địa phương vẫn chưa có chức danh CIO, chưa có lực lượng tư vấn xây dựng, thẩm định, giám sát và quản lý dự án CNTT. Có lẽđây là hậu quả của hệ thống quản lý hành chính nhà nước không chuyên nghiệp.
Khó khăn lớn nhất, khó vượt qua nhất trong việc phát triển và ứng dụng GIS là sự thiếu hợp tác của các tổ chức và cá nhân được giao trách nhiệm nắm giữ các loại thông tin, dữ liệu. GIS sẽ ra sao nếu không đủ thông tin, nếu dữ liệu không đáng tin cậy ? Ngoài ra, các nhà khoa học Việt Nam có tính “độc lập” hơi bị cao, nên các tổ chức làm GIS không được tập hợp lại thành một đơn vị mạnh, đủ năng lực làm được những việc lớn (trong lĩnh vực kinh tế người ta đang hình thành các tập đoàn, dù có thể chưa thểđúng tầm, và KHCN khi nào cũng phải chậm một vài nhịp ?) Chính vì thế, tại cuộc hội thảo quốc tế tại Hà Nội về viễn thám và GIS một chuyên gia nước ngoài đã nhận xét về tính manh mún, tản mạn, đơn ngành của GIS Việt Nam. Ít người nghĩ đến việc trao đổi, chia sẻ và tích hợp các dữ liệu và xây dựng những hệ thống thông tin quốc gia hoặc địa phương.
Những vấn đề của CNTT và GIS ở Việt Nam Cần một cách tiếp cận khác cho GIS Việt Nam
Rõ ràng là, từ những trình bày và phân tích trên có thể thấy ngay rằng cần thay đổi cách tiếp cận khi xây dựng và thực hiện một dự án ứng dụng GIS.
Đầu tiên là quy mô dự án, phạm vi ứng dụng, mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể phải lấy nhu cầu thực tiễn làm cơ sở. Lưu ý rằng, do nhiều lý do khác nhau, các nhu cầu ứng dụng GIS là có thật và cấp thiết, nhưng nhiều khi chưa xuất hiện ở dạng tường minh, mà còn ở dạng “tiềm năng” do người sử dụng chưa đủ kiến thức để nhận biết hoặc nhận biết được nhưng chưa đặt ra được các bài toán ứng dụng cụ thể. Trong trường hợp này vai trò tư vấn hết sức quan trọng, trong đó việc sử dụng các biện pháp kích cầu là cần thiết.
Bài toán chi phí - lợi ích là bài toán quan trọng cần giải khi muốn thuyết phục các nhà đầu tư (các ngành, các địa phương). Không cần tô hồng dự án, rằng dự án chỉ đưa đến toàn cái hay, cái lợi, thực hiện dự án rất thuận lợi, không có khó khăn gì, mà phải thấy trước các khó khăn (thí dụ không phải tất cả cán bộ, công chức đều muốn thông tin rõ ràng, minh bạch) và chi phí có thể là rất lớn. Quan trọng là thuyết phục được về sự cần thiết và chi phí dù lớn hay nhỏ cũng là xứng đáng. Có nghĩa là phải lấy hiệu quảứng dụng làm thước đo hiệu quả dự án.
Khi tư vấn xây dựng dự án và cân nhắc quyết định đầu tư cần có tư duy về tầm ảnh hưởng và tác động tích cực của dự án. Chúng ta cần vượt ra khỏi “luỹ tre làng” để phối hợp các mục tiêu, các đối tượng sử dụng và hưởng thụ thành quả dự án (sẽ chia sẻ và trao đổi thông tin liên ngành với quốc gia, quốc tế). Dự án không nhắm đến một đối tượng riêng lẻ, cả người thực hiện dự án và người thụ hưởng dự án. Vì trong GIS việc khớp nối, liên kết các CSDL được xây dựng một cách độc lập là rất quan trọng và cũng không dễ dàng. Vì vậy, sự phối hợp giữa các đơn vị thực hiện lại càng quan trọng. Nếu được, cần lựa chọn tổ chức và cá nhân làm tư vấn xây dựng, quản lý và giám sát dự án là những người có tính chuyên nghiệp (một cách tương đối ở điều kiện Việt Nam).
Và cuối cùng cần có tiếp cận đúng về chia sẻ thông tin. Nhận thức của thời đại ngày nay về thông tin là nguồn lực cho phát triển và là tài sản chung phải được tuyên truyền phổ biến và luật hoá để nó trở thành nhận thức chung.
Lời kết

GIS và các ứng dụng của nó đang phát triển nhanh chóng: các dịch vụ gắn với địa điểm, kết hợp GIS và GPS hiển thị vị trí nhà hàng, khách sạn, tìm đường được cài vào thiết bị cầm tay (PDA, laptop, mobilephone); các ứng dụng bản đồ trên web (Google Maps, MapQuest, Yahoo! Maps…), truy cập tự do đến kho dữ liệu địa lý, đặc biệt là không ảnh, cho phép tạo lập các ứng dụng của riêng mình; nghiên cứu sự biến động các quá trình trên trái đất qua năm tháng (sự mở rộng bờ cõi trong lịch sử, biến động đường bờ, độ che phủ rừng), tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng.
Kinh nghiệm chỉ là kinh nghiệm. Chúng tôi có may mắn là người đi trước theo cách làm thông thường của thế giới với rất nhiều khó khăn của người đúng mũi chịu sào. Nhữnng người đi sau sẽ có lợi thế của người đi sau, các bạn sẽ có những kinh nghiệm mới để chia sẻ cho những người kế tiếp.
Những gì chúng tôi mạo muội gọi là “cách tiếp cận” không có gì mới so với thế giới, nhưng là “mới” ở Việt Nam, vì có những điều kiện khách quan và chủ quan chưa thực hiện được.
Chúng tôi sẵn sàng hợp tác khi các bạn cần vì hợp tác và chia sẻ thông tin là triết lý của chúng tôi.
Theo Đỗ Nam - Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế

Tạo style với ArcEngine

 http://img.alibaba.com/img/pb/439/768/373/373768439_190.jpg
http://gis.kent.edu/urbancrimesimulator/UCS_1.0/HTML/Software_files/image004.jpg
Style là gì?

Định nghĩa của ESRI  đó là những mô hình 3D của cây cối và nhà cửa mà chúng ta tạo ra và sau đó chuyển đổi thành 3D symbols để sử dụng trong ArcGlobe hoặc trong ArcScene.
http://harmonysoft.com.vn/haihoa/images/stories/3d/30_11_Cua_dai1.png
Nói một cách đơn giản thì style là các đặc trưng của mỗi đối tượng. Ví dụ như, có rất nhiều người trong thành phố Hà nội nhưng mỗi người đều khác nhau từ chiều cao, cân nặng, mà da cho tới cách ăn mặc. Tương tự, mỗi đối tượng địa lý đều có một đặc trưng riêng được quy định bởi style. ArcGIS quản lý style bằng các file *.style. Mỗi file style chứa một tập hợp các symbol.
Việc cho phép người sử dụng lựa chọn symbol nào cho từng đối tượng là một chức năng quan trọng của bất kỳ hệ thống GIS nào, nhờ đó mà bản đồ được trình bày rõ ràng hơn, dễ hiểu hơn. Đặc biệt là trong các bản đồ chuyên đề và trong in ấn.
Tuy style & symbol có tầm quan trọng như thế, nhưng trong ArcEngine lại không có lệnh nào để tạo file *.style. Mà nếu không có file này thì không thể lưu được symbol chúng ta vừa tạo. Chúng ta không thể cứ mỗi lần mở bản đồ lại tạo lại cùng một symbol. Việc tạo file style chỉ có thể thực hiện được nếu sử dụng ArcEngine kết hợp với thư viện framework của ArcGIS, nhưng nếu đã mua ArcGIS rồi thì ArcEngine có lẽ hơi thừa, mặt khác giá của ArcGIS khá cao nên không phải nơi nào cũng có điều kiện mua được.
Tài liệu của ESRI không đề cập đến chi tiết này.
Đặc điểm ArcGIS lưu nội dung (cụ thể là lưu các symbol) trong file style theo định dạng của MS Access. Đầu tiên, kiếm một file style, cái này thì có sẵn trong bất kỳ soft nào của ESRI. Mở nó ra bằng MS Access và xem nội dung của nó là gì.
Trong Access, ta có thể thấy ESRI lưu các symbol theo các loại style khác nhau gọi là styleclass. Mỗi styleclass được lưu trong một bảng, và mỗi hàng là một symbol. Ví dụ như: line, polygon, marker…
Công việc còn lại chỉ là xem nội dung của bảng chứa những gì.
Mỗi bảng sẽ có 4 trường: ID, Name, Category và một trường nhị phân BLOB để lưu nội dung của symbol. Như vậy ta đã có thể hình dùng ra các bước để tạo một file style.
- Tạo file Access với các bảng có sẵn như trên
- Với mỗi symbol, ta sẽ chèn vào một dòng với trường BLOB chính là nội dung của symbol đó.
Cách này có một nhược điểm là không tạo được thumbnail cho symbol. Nhưng dù sao nó cũng giúp cho tao đạt được mục đích là tạo ra file style để dùng cho lần sau mà không cần đến ArcGIS.

Chuyển đổi font chữ TCVN3 sang Unicode trong ArcGIS

Quá trình đồng bộ, xây dựng CSDL chúng ta không tránh khỏi công việc chuyển đổi dữ liệu. Thường găp phải trường hợp dữ liệu các bạn đang có ở dụng (*TAB) Mapinfo phải chuyển qua dữ liệu (*SHP) Shapefile Esri, bởi lẽ dữ liệu Shapefile thông dụng hơn và sử dụng rất linh hoạt trong bộ sản phẩn phần mềm của Esri.
Khi chuyển đổi luôn găp phải tình trạng lỗi font trong dữ liệu mà cụ thể là dữ liêu Shapefile sau khi chuyển mở trên Arcmap font chữ bị lỗi không đọc được hoặc biến thành ô vuông...v.v
Trước hết chúng ta tìm hiểu lỗi này do đâu? Đơn giản là trong Mapinfo khi các bạn chưa có tác động gì thì nó chỉ hỗ trợ hiển thị font tiếng việt dạng TCVN3 (Vn.time...) trừ một vài trường hợp các bạn biết add thêm Unicode vào hệ thống. Chính điều này là thủ phạm gây ra lỗi trên, bởi lẽ dữ liệu Shapefile Esri lại không hỗ trợ TCVN3 mà sử dụng hệ thống Unicode.
Để khắc phụ trình trạng nên trên và giúp các bạn chuyên viên thực hiện công việc thuận lợi mà không phải bận tâm đến lỗi font như vậy Climate GIS xin gửi tặng các bạn script nhỏ dùng để chuyển đổi encoding tiếng việt cho dữ liệu Shapefile Esri.
Hi vọng rằng với công cụ này sẽ giúp ích các bạn rất nhiều trong biên tập và xây dựng CSDL GIS và đặc biệt các bạn sẽ không phải tìm kiếm nguyên nhân tại sao khi chuyển dữ liệu chữ thành ô vuông, và không phải bấp máy alo cho Climate GIS hỏi cách sử lý tình huống này.
Hướng dãn sử dụng công cụ này Climate GIS đã để sẵn trong file nén cùng, các bạn download về giải nén và thưởng thức cùng Climate GIS nhé.
Chúc các bạn luôn thành công
Pass Unlock Mediafire: climategis

Ứng phó với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng (Dự báo các tác động về kinh tế-xã hội)

 Vùng duyên hải miền Trung                                GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN
Do tính không ổn định của địa mạo, hơn những địa bàn khác, ở khu vực duyên hải miền Trung tác động về mặt tự nhiên và kinh tế-xã hội gắn chặt và trực tiếp với nhau. Những địa bàn chịu ảnh hưởng mạnh nhất là các đồng bằng ven biển và ở cuối các con sông, nơi mật độ dân số rất cao và phải chịu sức ép từ hai phía biển và núi. Sa cấu (thành phần cơ giới), độ phì của đất, xâm nhập mặn thay đổi sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng. Kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, xã hội, văn hóa và du lịch tập trung phần lớn ở vùng đồng bằng và ven biển, các cảng biển đã xây dựng dọc miền Trung sẽ chịu sự uy hiếp mạnh mẽ từ mực nước biển dâng (MNBD).
Nhìn tổng thể, kinh tế-xã hội vùng duyên hải miền Trung sẽ chịu sự tác động trên các mặt:
- Biến động về mặt tự nhiên tác động lên kết cấu hạ tầng, lên kinh tế biển và du lịch; sức hút đầu tư cho các khu vực II và khu vực III của nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng trong một chừng mực nhất định;
- Xây dựng và bảo vệ kết cấu hạ tầng tốn kém hơn;
- Sẽ diễn ra sự dịch chuyển dân cư, lao động, các đô thị và cơ sở kinh tế trong nội vùng, từ vùng thấp lên vùng cao và ra ngoài vùng. Biến động này, đến lượt nó, có thể tác động đến sự ổn định địa mạo nếu không tính toán và chuẩn bị kỹ vị trí các địa bàn tiếp nhận. Khi người dân chưa “an cư” thì khó mà thoát nghèo một cách bền vững, và càng khó để vươn tới “lạc nghiệp”.
Những biến động sâu sắc về môi trường tự nhiên và về kinh tế-xã hội nêu trên đây không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của vùng duyên hải miền Trung, mà còn với cả nước khi mà kết cấu hạ tầng nối liền Bắc Nam hiện nay đều đi qua khu vực này.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Dựa trên các kết quả điều tra cơ bản tổng hợp mà Chương trình khoa học cấp Nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long” đã tiến hành trong các năm 1983-19908 và đối chiếu với thực tế sản xuất, kinh tế-xã hội, Đồng bằng sông Cửu Long gồm có ba tiểu vùng: tiểu vùng mà quá trình sông chiếm ưu thế (A), tiểu vùng nơi quá trình biển chiếm ưu thế (C), và tiểu vùng chịu ảnh hưởng của cả hai quá trình sông và biển (B). Có thể dự báo định tính tác động của MNBD lên ba tiểu vùng như sau:
Tiểu vùng nơi ảnh hưởng nguồn chiếm ưu thế (A)
Đó là các tỉnh giáp biên giới Campuchia, là nơi hai nhánh sông Mekong và sông Bassac đi vào lãnh thổ Việt Nam và lũ sông Mekong tràn bờ và tràn vào Đồng bằng sông Cửu Long.
Với kịch bản nguồn nước từ thượng nguồn chảy về đồng bằng như hiện nay, tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của MNBD nhưng không mạnh như hai tiểu vùng B và C. Do quá trình nước biển dâng, ranh giới của tiểu vùng sẽ lùi về phía nguồn, độ sâu ngập vào mùa lũ sẽ sâu hơn và thời gian ngập cũng có thể kéo dài hơn; bồi lở bờ sông, cồn bãi hoạt động mạnh hơn.
Về mặt kinh tế-xã hội, khu vực I của nền kinh tế biến động nhưng việc khắc phục không quá khó, vì chủ yếu vẫn còn là các hệ canh tác nước ngọt. Cơ cấu mùa vụ, hệ thống canh tác có thể xảy ra tại một số địa bàn và sự điều chỉnh các công trình thủy lợi ở những địa bàn này là cần thiết. Khu vực II và khu vực III của nền kinh tế có thể nhận phần dịch chuyển đầu tư và phát triển đô thị từ hai vùng B và C. Mật độ dân số và quá trình đô thị hóa chịu tác động từ sự dịch chuyển một phần dân cư, lao động và các cơ sở kinh tế của hai vùng B và C.
Tiểu vùng nơi ảnh hưởng biển chiếm ưu thế (C)
Đây là vùng duyên hải của các tỉnh giáp với biển Đông và vịnh Thái Lan. Tiểu vùng này chịu tác động về môi trường tự nhiên của MNBD trực tiếp nhất. Hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn qua gánh chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò “đệm” giảm sóng, phòng hộ và giữ đất. Tình hình xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn, tình hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Đường ranh với tiểu vùng (B) sẽ bị “đẩy lên” về phía nguồn. Quy hoạch thủy lợi, chương trình ngọt hóa vùng trung tâm bán đảo Cà Mau, chương trình đê bao ven biển cần được tính toán lại với những tham số mới của phân vùng thủy văn thủy lực trong đồng bằng.
Về mặt kinh tế-xã hội, khu vực I tại đây, đã thích ứng từ trước với điều kiện ngập theo triều và nhiễm mặn hầu như quanh năm, sẽ thay đổi theo hướng “kinh tế nước mặn” là chính. Vùng sản xuất lúa sẽ bị thu hẹp lại. Khu vực II, khu vực III và đời sống, sinh hoạt của người dân sẽ khó khăn hơn do độ ngập tăng và khan hiếm nguồn nước ngọt. Nguồn nước ngọt tại đây chỉ trông chờ vào nước mưa và nước ngầm. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng để tôn cao và bảo vệ công trình sẽ tốn kém không ít. Vì những lý do đó, một bộ phận dân cư có thể sẽ dịch chuyển ra ngoài tiểu vùng. Vấn đề lớn nhất của tiểu vùng là bảo vệ các thành quả của lao động quá khứ.
Tiểu vùng chịu ảnh hưởng hỗn hợp biển và nguồn (B)
Đây là địa bàn thể hiện rõ rệt nhất sự giao thoa, tranh chấp và đi đến một thế cân bằng giữa hai quá trình sông và biển. Cũng với kịch bản nguồn nước từ thượng nguồn chảy về đồng bằng như hiện nay, tiểu vùng chịu sự tác động về môi trường tự nhiên mạnh dần theo hướng từ nguồn ra biển vì quá trình MNBD; diện tích của tiểu vùng bị thu hẹp lại.
Ảnh hưởng đến kinh tế-xã hội ở tiểu vùng này rất to lớn do đây là vùng tập trung dân cư đô thị, có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng, mà sinh hoạt và các hoạt động kinh tế-xã hội cho tới nay đều dựa vào nguồn nước ngọt dồi dào hầu như quanh năm.
Đối với khu vực I, ở một số địa bàn giáp với tiểu vùng (C), các hệ thống canh tác trên nền nước ngọt như canh tác lúa, vườn cây ăn trái bị tác động về mặt năng suất, về diện tích canh tác; chăn nuôi gia súc gia cầm giảm mạnh; diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt bị thu hẹp do bị nước lợ và mặn xâm lấn.
Khu vực II, khu vực III, đô thị và dân cư bị ảnh hưởng và có thể bị xáo trộn khá nhiều. Một bộ phận sẽ dịch chuyển về tiểu vùng A hoặc ra ngoài vùng do thiếu nguồn nước ngọt, do ngập lụt hoặc do xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước ngọt và chống ngập quá tốn kém. Cũng vì những lý do này, khả năng thu hút đầu tư đã khó sẽ càng khó.
Nhìn tổng thể, kinh tế-xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ chịu tác động trên các mặt:
- Biến động trong sản xuất: Nếu không có giống mới chịu được mặn, kinh tế lúa và kinh tế vườn sẽ giảm sút; kinh tế biển sẽ tăng trưởng nhanh nhưng chưa chắc bù đắp được hai sự sụt giảm trên; đầu tư trong lĩnh vực công-thương nghiệp càng khó thu hút hơn.
- Kinh phí xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng lớn.
- Biến động về phân bố dân cư, đô thị và các trung tâm, cơ sở kinh tế sẽ diễn ra sự dịch chuyển trong nội vùng và ra ngoài vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Những biến động về môi trường tự nhiên và về kinh tế-xã hội trên đây sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long nếu không kịp thời có sự ứng phó thích hợp.
- Cuộc sống của hàng chục triệu người dân sẽ bị xáo trộn lớn.
- Vai trò vựa lúa của cả nước, nguồn đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu và ngân sách Nhà nước mà Đồng bằng sông Cửu Long đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng.
- Nhiều khía cạnh về an ninh quốc phòng sẽ được đặt ra, trước tiên là an ninh lương thực cho cả nước.
Những dự báo tác động trên đây nằm trong kịch bản nguồn nước sông Mekong từ thượng nguồn đổ về như hiện nay. Nếu nguồn nước này thay đổi theo một kịch bản bất lợi cho các nước ở hạ lưu, đặc biệt đối với Việt Nam ở tận cuối nguồn, thì những thách thức sẽ còn lớn hơn nhiều. Một công cụ mô hình hóa để có thể mô phỏng bức tranh thủy văn thủy lực và các tác động nảy sinh là không thể thiếu.
Những nhiệm vụ cần triển khai
Ứng phó với MNBD là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu chẳng những của vùng duyên hải miền Trung và của Đồng bằng sông Cửu Long mà còn của cả nước.
Mực nước biển dâng là một quá trình tiệm tiến. Nếu nhân loại không có biện pháp ngăn chặn quyết liệt sự BĐKH ở quy mô toàn cầu, quá trình MNBD sẽ diễn ra ngày càng nhanh, do vậy cần có sự chuẩn bị ứng phó đúng mức và ngay từ bây giờ.
Tổng kết từ nhiều địa bàn trên thế giới, có ba cách ứng phó với MNBD: bảo vệ (hay chống đỡ, đương đầu), thích nghi và rút lui về phía sau. Ba cách này đều áp dụng đối với các đối tượng: các công trình kiên cố, hệ thống sản xuất nông nghiệp và các hệ sinh thái, đặc biệt các hệ sinh thái đầm lầy. Không có một cách ứng phó duy nhất cho mọi đối tượng, ở mọi nơi, mọi lúc. Để ứng phó tốt nhất cần nắm rõ tình hình cụ thể của địa bàn, khả năng bảo vệ có hay không, tính khả thi và hiệu quả tổng hợp kinh tế, xã hội, văn hóa của phương án ứng phó.
Ứng phó không thể riêng lẻ từng tỉnh, từng ngành mà phải theo quy luật tự nhiên, kinh tế-xã hội, mục đích và yêu cầu của sự ứng phó. Yêu cầu đối với ứng phó là gìn giữ tối đa trong chừng mực có thể được thành quả của lao động quá khứ, sinh mạng, tài sản và đời sống của người dân và vì sự phát triển bền vững. Chính vì vậy, phải tranh thủ thời gian để điều tra nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa, điều gì sẽ đến tương ứng với các phương án BĐKH và MNBD, từ đó chuẩn bị phương án ứng phó tốt nhất.
Để ứng phó có hiệu quả với BĐKH và MNBD, theo chúng tôi cần:
+ Hiểu rõ mối quan hệ hệ thống và cơ chế tác động giữa khí hậu và các yếu tố liên quan đến sự sống và sản xuất, và sự thể hiện trên một vùng lãnh thổ;
+ Hiện trạng môi trường tự nhiên và hoạt động kinh tế và đời sống xã hội trên vùng lãnh thổ đó;
+ Dự báo các kịch bản BĐKH và MNBD cũng như các kịch bản nước từ thượng nguồn về;
+ Định lượng các tác động về tự nhiên và kinh tế-xã hội trên từng tiểu vùng;
+ Đề xuất các phương án ứng phó có hiệu quả nhất trong vùng lãnh thổ, theo thời gian, trong từng kịch bản có chú ý đến sử dụng các công nghệ mới thích hợp.
Theo các công bố mới nhất có được, kịch bản MNBD vào năm 2100 đối với Việt Nam là 0,69m theo IPCC (2007); là 1m theo WB (2007). Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), MNBD nằm trong khoảng giữa 0,74m (giới hạn dưới) và 1m (giới hạn trên); nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng 3oC vào năm 2100; lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng (từ 0% đến 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô, tính biến động của mưa tăng lên. Về phía thượng nguồn, chắc chắn Thái Lan, Lào, Campuchia sẽ sử dụng nguồn nước sông Mekong nhiều hơn cho thâm canh và tăng vụ trong thời gian tới, nhiều đập thủy điện đã được dự kiến xây dựng trên lưu vực sông Mekong, trong đó 4 đập thủy điện trên đất Trung Quốc đã được hoàn thành và đi vào vận hành9.
Để góp phần vào việc chuẩn bị ứng phó, xin gợi ý một số nhiệm vụ cần triển khai:
(1) Làm cho cả xã hội nhận thức đầy đủ về tính tất yếu Việt Nam phải ứng phó với BĐKH và MNBD, và tác động của nó, từ tự nhiên đến kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng. Nhận thức về các tác động của BĐKH phải toàn diện và toàn cầu, nhưng cần được liên hệ đến từng địa bàn để hoạch định hành động cụ thể phù hợp với bối cảnh và quy luật chung.
(2) Xác định và tiến hành sớm những nội dung nghiên cứu triển khai cần thiết trong đất liền, bờ biển, vùng cận duyên và ngoài biển khơi làm cơ sở khoa học cho các quyết định ứng phó với các tình huống BĐKH và MNBD.
+ Lập bản đồ địa hình tỷ lệ lớn của các vùng ven biển, các vùng trũng; lập bản đồ các vùng địa mạo không ổn định do phá rừng và do MNBD. Hiện nay đã có bản đồ ngập ở ĐBSCL ứng với các mực nước biển dâng 1 - 5m. Nhưng bản đồ ngập sẽ có ích hơn nếu các MNBD cụ thể hơn vì MNBD từ 20 đến 40cm đã tác động rất nhiều đến ĐBSCL10.
+ Để có thể tiên đoán những gì có thể xảy đến trong kịch bản BĐKH và MNBD, việc xác lập, lựa chọn các công cụ mô hình hóa để mô phỏng là không thể thiếu.
+ Phân vùng thủy văn - thủy lực các tiểu vùng theo các kịch bản thủy văn thủy lực; mô phỏng các tác động về tự nhiên, kinh tế-xã hội phục vụ cho việc ứng phó trên từng địa bàn trong từng kịch bản.
Trên cơ sở đó tính toán thời gian ngập, độ sâu ngập, quá trình xâm nhập mặn, chất lượng nước mặt. Tự động hóa các tính toán này và tích hợp các kết quả để đi đến bản đồ tài nguyên nông nghiệp phục vụ cho việc xác định cơ cấu mùa vụ.
+ Phân định các tiểu vùng A, B, C của Đồng bằng sông Cửu Long; dự báo các tác động về tự nhiên, kinh tế, xã hội trên từng địa bàn trong mỗi phương án MNBD để từ đó hoạch định việc ứng phó.
+ Nghiên cứu các giống cây con, đặc biệt các giống lúa có gien chịu mặn cao, cao thân,...; thử nghiệm những hệ thống sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, phù hợp với bối cảnh mới trong từng tiểu vùng.
+ Dự báo các công trình trong kết cấu hạ tầng bị đe dọa do biển dâng; hợp lý hóa hệ thống giao thông thủy bộ, kết hợp với các nhiệm vụ xây dựng cụm, tuyến dân cư và thủy lợi.
+ Nâng cao năng lực xây dựng nhằm hạn chế xâm thực bờ biển, xây dựng trên nền đất yếu, bị ngập nước với những công nghệ mới về các vật liệu nhẹ, chịu tải trọng cao, bền trong môi trường nước lợ và mặn.
+ Đề xuất những mô hình công nghiệp hóa trong bối cảnh mới (diện tích đất không bị ngập giảm, khan hiếm nước ngọt,...) vì sự phát triển bền vững.
+ Đề xuất các phương thức quần cư thích hợp với tập quán và bối cảnh mới. Ngoài phương thức quần cư trong đê bao (như ở Sa-rài), trong cụm dân cư vượt lũ, nghiên cứu hiện đại hóa nhà sàn, thiết kế các nhà nổi và khu dân cư nổi là những việc cần triển khai.
+ Dự báo các luồng dịch chuyển dân cư và lực lượng sản xuất khác; dự kiến các địa bàn có thể tái bố trí.
+ Xây dựng một chương trình nghiên cứu biển dưới tác động của MNBD, nhất là vùng cửa sông, nghiên cứu biến động của đường bờ, xác định những vùng địa mạo ổn định, bán ổn định, không ổn định là tối cần thiết để bố trí đúng vị trí các công trình.
(3) Phát huy và đào tạo nguồn nhân lực
+ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH cần huy động đội ngũ cán bộ khoa học hiện có thông qua một chương trình khoa học và công nghệ đi từ dự báo, đến mô hình hóa và mô phỏng, và tìm các biện pháp thích hợp nhằm tích cực khắc phục các thách thức.
+ Thiết lập ở các trường đại học các khoa, bộ môn đào tạo liên thông và liên kết từ hải dương học, địa chất, động lực học ven biển và vùng cửa sông, toán ứng dụng và cơ học đi sâu về BĐKH và MNBD nhằm đào tạo một nguồn nhân lực lâu dài cho đất nước.
+ Đào tạo thông qua giảng dạy và thông qua nghiên cứu thực hiện các đề tài mà thực tế đặt ra.
(4) Về mặt quản lý nhà nước
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu (bản đồ, số liệu, ảnh vệ tinh phục vụ cho công tác ứng phó với BĐKH và MNBD) hoặc xây dựng danh mục các dữ liệu hiện có ở các cơ quan và quy chế sử dụng chung các dữ liệu này.
+ Có chương trình bảo vệ và trồng rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển.
+ Thống kê số hộ và số dân hiện đang cư trú dọc bờ biển miền Trung những nơi bị đe dọa xâm thực, và cần được bố trí đến nơi cư trú mới an toàn mà không làm tổn hại đến sự ổn định của địa mạo.
+ Xác định các địa bàn cư trú mới tiềm năng, mô hình canh tác và kết cấu hạ tầng.
+ Quản lý nghiêm việc khai thác và bảo vệ các tầng nước ngầm ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Tổng kết việc xây dựng các cảng biển trong thời gian qua dọc duyên hải miền Trung; đề xuất xây dựng đồng bộ một số cảng biển nước sâu, được che chắn tốt, tồn tại bền vững.
+ Cần quy định từ nay mọi quy hoạch, dự án ở những vùng ven biển, cửa sông đều phải tính tới yếu tố ổn định của địa mạo và yếu tố MNBD một cách tường minh.
+ Rà soát lại các quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành tại các địa bàn phải đối mặt với MNBD.
+ Cần có tầm nhìn và quy chế phối hợp hành động liên ngành, liên vùng, trung ương-địa phương (nhất là giữa Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, giữa duyên hải miền Trung với Tây Nguyên,...) để chủ động có lộ trình biến sự dịch chuyển một bộ phận nguồn lực một cách tự phát trở thành sự phân bố lại lực lượng sản xuất.
Thách thức của BĐKH và MNBD chính là thời cơ thúc đẩy các thiết chế Nhà nước nâng cao chất lượng của sự phối hợp trong thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình, và mặt khác suy tính sâu sắc hơn nữa việc quản lý kinh tế theo vùng lãnh thổ.
+ Mọi quy hoạch cần được phản biện nghiêm túc, đặc biệt các quy hoạch các vùng duyên hải và cận duyên, các công trình đầu tư từ vốn ngân sách Nhà nước tại những địa bàn được dự báo có nhiều khả năng bị tổn thương do MNBD, bảo đảm công trình bền vững, đạt hiệu quả tổng hợp cao.
(5) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để kịp thời có thông tin, số liệu được cập nhật liên quan đến BĐKH và MNBD ở Việt Nam; hợp tác trong công tác đào tạo nguồn nhân lực và trong điều tra, nghiên cứu những đề tài khoa học liên quan đến biển Đông, cho khu vực và thế giới.
Sông Mekong là mt trong nhng con sông ln nht trên thế gii, bt ngun t Trung Quc, chy qua Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia và đ ra bin Đông Vit Nam. Trong bối cảnh BĐKH và MNBD, bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với sử dụng nước sông Mekong ở thượng nguồn đúng với quy định của luật pháp quốc tế là một nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước mà trước tiên là Ủy ban quốc gia sông Mekong. Các kết quả điều tra nghiên cứu cần thiết là một công cụ mạnh để đàm phán, bảo vệ quyền lợi chính đáng của quốc gia.
(6) Việt Nam đã tham gia Nghị định thư Kyoto, Công ước quốc tế về đa dạng sinh học và những điều ước quốc tế khác có liên quan. Vì vậy, về mặt đối nội, để thực thi các nội dung đã được đề cập trên đây, cần thể chế hóa các chính sách liên quan đến giảm thiểu BĐKH, MNBD và các hệ quả của chúng vào các luật và bộ luật; giám sát việc thực thi pháp luật đã ban hành. Về mặt đối ngoại, cần triển khai hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững của quốc gia, của khu vực và cả thế giới.
[8] Chương trình khoa học kỹ thuật cấp Nhà nước “Điều tra cơ bản tổng hợp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”. Báo cáo tổng hợp của Chương trình “Đồng bằng sông Cửu Long, tài nguyên, môi trường, phát triển”, NGUYỄN NGỌC TRÂN chủ biên, Ủy ban Khoa học&Kỹ thuật nhà nước, 1991, Hà Nội.
[9] Đó là các đập thủy điện Manwan (công suất 1.500 MW, tổng lượng nước trữ 258 triệu m3), Dachoshan (1.350 MW, 240 triệu m3), Jinghong (1.500 MW, 230 triệu m3) và Xiaowan (4.200 MW, 9.800 triệu m3). Theo chuyên gia các nước, các đập này, nhất là đập Xiaowan là một thách thức lớn đối với các nước trong hạ lưu sông Mekong.
[10] Trong “Sea level rise affecting the Vietnamese Mekong delta: Water elevation in the flood season and implications for rice production”, Climatic Change 66: 89–107, 2004. Kluwer Academic Publishers Netherlands. Các tác giả REINER WASSMANN, NGUYEN XUAN HIEN, CHU THAI HOANH và TO PHUC TUONG, đã tính toán tác động của mực nước biển dâng 20cm và 45cm đồng đều như nhau giữa biển Đông và vịnh Thái Lan, đến sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL.

Ghi dữ liệu GPS vào Shapefile trong ArcPad

http://www.lybrary.com/images/1589482891.jpg
Qua tìm hiểu Climate GIS thấy "Ghi dữ liệu GPS vào Shapefile trong ArcPad" rất quan trọng đối với các bạn làm trong ngành công nghệ GIS nhất là với điều tra thực địa. Climate GIS xin viết những bước thao tác cần thiết để dữ liệu thu được từ GPS sẽ được lưu vào shapefile. Những bước này thực hiện với phần mềm ArcPad 7.0.
Trước hết, các bạn cần khởi tạo 1 (hoặc nhiều) shapefile để lưu trữ dữ liệu khi đi thực địa. Bạn cần thực hiện những bước sau trước khi đi để khởi tạo shapefile.
  1. Mở thiết bị GPS lên, ví dụ GeoXH.
  2. Chọn Start > Programs > ArcPad 7.0.
  3. Chọn Save Map As và nhập vào tên file để lưu.
  4. Chọn New > Shapefile.
  5. Chọn Type (kiểu đối tượng), ví dụ là Point (điểm)
  6. Click vào dấu + để thêm 1 field mới vào shapefile..
  7. Đặt tên cho field và loại thuộc tính bạn cần lưu trữ.
  8. Click vào nút Keyboard (có hình bàn phím góc dưới bên phải màn hình) để mở bàn phím lên.
  9. Tiếp tục bổ sung các field cần thiết.
  10. Click OK khi hoàn tất.
  11. Chọn tên thư mục và tên file shape để lưu và bộ nhớ.
  12. Bây giờ bạn sẽ được hỏi có cần tạo QuickForm không. Chọn Yes.
  13. Chọn bảng Controls và nhập vào các giá trị minimum, maximum, list values, và tooltip cho mỗi field.
  14. Chọn OK.
Đến đây các bạn đã hoàn tất việc khởi tạo 1 shapefile, sẵn sàng cho chuyến đi thực địa thu thập dữ liệu rồi đấy. Tiếp theo, khi đến vị trí cần thu thập dữ liệu, các bạn sẽ thao tác những bước sau.
  1. Mở thiết bị GPS lên, ví dụ GeoXH.
  2. Chọn Start > GPS Controller.
  3. Kéo thanh trượt ở cuối trang hết về bên trái để đạt hiệu quả thu tối đa.
  4. Chọn Start > Programs > ArcPad 7.0.
  5. Bạn mở file bản đồ đã lưu trong phần trên lên.
  6. Trong menu GPS Position Window (có hình vệ tinh GPS), bạn kiểm tra lại là chức năng GPS ActiveGPS tracklog phải đang được bật (tức là có viền đỏ xung quanh).
  7. Chọn nút Table of Contents (có hình giống nhiều mảnh giấy xếp chồng nhau).
  8. Bạn kiểm tra xem có đúng là lớp dữ liệu cần thu thập đang được chọn không (tức là ô vuông trước tên shapefile phải được đánh dấu) và có đang trong tình trạng cho phép soạn thảo không (tức là ô vuông hình bút chì phải được đánh dấu).
  9. Click vào nút Capture Point Using GPS (có hình vệ tinh và 1 điểm) để bắt đầu thu dữ liệu điểm.
  10. Nhập dữ liệu vào các field bạn đã tạo.
  11. Nếu bạn đã bật chế độ Enable Averaging trong menu GPS Preferences thì hãy chờ đến khi giá trị 100% xuất hiện ở trên cùng cửa sổ trước khi click OK.
Đến đây, bạn đã hoàn tất việc thu 1 điểm GPS. Bạn có thể lặp lại các bước trên để thu những điểm GPS khác. Bạn có thể tham khảo thêm hướng dẫn sử dụng ArcPad của ESRI tại đây.
Dựa theo: gis-home.net

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482