DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Ứng dụng của hệ thống định vị toàn cầu gps trong tracking

Ứng dụng của hệ thống định vị toàn cầu gps
Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) là một hệ thống không gian của Mỹ cung cấp những thông tin đáng tin cậy về định vị, dẫn đường và các dịch vụ thời gian cho người sử dụng dựa trên hoạt động liên tục trên toàn thế giới. Đối với bất kỳ một ai sở hữu một máy định vị gps, hệ thống sẽ cung cấp một vị trí chính xác về không gian và thời gian của thiết bị trong bất kỳ hoàn cảnh nào về thời tiết, ngày và đêm, bất kỳ nơi nào trên thế giới.
 Hệ thống định vị GPS được tạo thành từ ba phần: các vệ tinh quay quanh trái đất, trạm kiểm soát giám sát trên trái đất, thiết bị thu sóng GPS thuộc quyền sở hữu của người sử dụng. Mỗi thiết bị gps sẽ cung cấp vị trí ba chiều (vĩ độ, kinh độ, và độ cao) cộng với thời gian chính xác của thiết bị.
Người dùng có thể mua thiết bị định vị GPS có sẵn qua các công ty và đại lý phân phối. Khi được trang bị máy thu gps, người dùng có thể xác định vị trí chính xác nơi mình đang ở đâu và dễ dàng điều hướng đến nơi mình muốn đến dù đi bộ, lái xe, đang bay hay ở bất kỳ trạng thái nào. Gps đã trở thành một hệ thống quan trọng của giao thông trên toàn thế giới, cung cấp hướng đi cho hàng không, mặt đất và hoạt động hàng hải. Các hoạt động hằng ngày như ngân hàng, giao thông, điện thoại di động đều được cung cấp chính xác bởi thiết bị gps. Các nhân viên, điều tra viên, ngành địa chất, vận tải và nhiều người khác có thể thực hiện công việc một cách hiệu quả, an toàn, kinh tế và chính xác bằng cách sử dụng hệ thống định vị toàn cầu gps.
http://www.mobilephonetrackingsoftware.org/wp-content/uploads/2011/09/photo_001.gif
Đối với các phương tiện giao thông vận tải, công ty TNHH Viễn Thông Khánh Hội cung cấp các thiết bị gps được thiết kế chuyên biệt để theo dõi quản lý các phương tiện vận chuyển, các thiết bị hay tài sản với các ứng dụng:
http://www.etic.com.vn/images/stories/muctin/gps_02.jpg
  • Quản lý xe ôtô, giám sát hành trình
  • Quản lý tài sản
  • Quản lý con người
  • Quản lý ...............
Mô hình quản lý:
  • Quản lý kinh độ, vĩ độ của xe
  • Thời gian dừng nghỉ của xe
  • Xem lại hành trình hoạt động của xe
  • Tổng số km mà xe đã đi
  • Vận tốc xe, các hoạt động trên xe qua Camera
  • tính khoảng cách
  • .........
Chi tiết tại đây: Hệ thống Tracking của Climate GIS

Liên hệ Climate GIS
Địa chỉ: 1A Trần Quang Diệu, P.Ô Chợ Dừa, Q.Đống Đa, Hà Nội
Email: climategis@gmail.com
Hotline:0979916482
Website: www.climategis.com

Hệ thống định vị toàn cầu của các quốc gia tiên tiến

Tính đến thời điểm hiện tại, hệ thống định vị toàn cầu không còn là “sân chơi” với một quốc gia quy nhất là Mỹ. Các cường quốc lớn về khoa học công nghệ như Nga, Nhật, Trung Quốc đã bắt đầu có hệ thống định vị toàn cầu riêng, cung cấp tín hiệu GPS chuẩn xác hơn cho người dùng.

Bài viết sau thống kê các hệ thống định vị toàn cầu hiện có trên toàn thế giới. Trong đó, hệ thống sử dụng lâu nhất và đang được đánh giá cao nhất là hệ thống GPS - hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ. Hệ thống này bao gồm 32 vệ tinh quỹ đạo Trái đất (MEO) bên trong 6 tàu bay quỹ đạo khác nhau (orbital plane), số vệ tinh chính xác luôn thay đổi khi những vệ tinh cũ phải "nghỉ hưu". Hệ thống bắt đầu hoạt động từ năm 1978 và cung cấp dịch vụ toàn cầu vào năm 1994. GPS hiện là hệ thống vệ tinh định hướng được sử dụng nhiều nhất thế giới.
Một hệ thống định vị thứ 2 được khá nhiều quốc gia biết tới là GLONASS. Đây là chùm vệ tinh định hướng với đầy đủ chức năng mà Liên Xô xây dựng, tuy nhiên sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, GLONASS không được sửa chữa và chỉ hoạt động một phần. Việc phục hồi được tiến hành trong năm 2010. Theo dự báo của các nhà khoa học, hệ thống này sẽ là “đối thủ cạnh tranh” lớn với hệ thống GPS của Mỹ, đảm bảo đưa lại những thông tin về vị trí chính xác, nhanh chóng.

Hệ thống định vị thứ 3 có thể nhắc tới có tên gọi Compass, hệ thống định vị toàn cầu tương lai mà Trung Quốc dự kiến hoạt động vào năm 2020. Hệ thống này được mở rộng từ hệ thống định vị vùng Beidou. Hệ thống Compass sẽ bao gồm 30 vệ tinh MEO và 5 vệ tinh địa tĩnh.

Cuối cùng, phải kể đến cái tên Galileo - hệ thống định vị có trị giá ước tính 3 tỉ Euro do Liên minh châu Âu và Cơ quan vũ trụ châu Âu hợp tác phát triển bắt đầu từ tháng 3/2002 cùng với mong muốn thoát khỏi sự lệ thống vào GPS. Vệ tinh thử nghiệm đầu tiên được phóng vào 28/12/2005. Hệ thống gồm 30 vệ tinh MEO dự kiến hoạt động vào năm 2014 và cung cấp dịch vụ đầy đủ vào năm 2020.

Ứng dụng viễn thám phục vụ cho công tác đánh giá tác động môi trường

Trong công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM), việc cần có những thông tin đy đủ, nhanh chóng và có độ tin cậy cao về hiện trạng cũng như biến động của môi trường do tác động của con người hoặc do tai biên thiên nhiên gây ra là hết sức cn thiết. Hiện nay, vin thám đang được coi là giải pháp công nghệ thích hợp nht đ giải quyết bài toán này.
Xin giới thiệu khái quất về một s ứng dụng viên thám phục vụ công tác ĐTM và giám sát môi trường được thực hiện trong những năm qua ở Trung tâm Viên thám quc gia.
ng dụng viễn thám để xác định ô nhiễm và ĐTM do sự c tràn dầu
Trong khuôn khổ Dự án "Đánh giá hiểm họa về môi trường biển" được thực hiện năm 1994 - 1995, Trung tâm Viễn thám (Tổng cục Địa chính cũ) đã tiến hành thành lập bộ bản đồ nhạy cảm môi trường đối với sự cố tràn dầu ở tỷ lệ 1: 100.000 bằng tư liệu ảnh vệ tinh SPOT 4. Nội dung chính của bản đồ bao gồm các vùng có mức độ nhạy cảm ở các cấp độ khác nhau đối với ô nhiễm dầu, phân theo 3 nhóm vùng:
Nhóm vùng nhạy cảm của các hệ sinh thái ven biên: Rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển, vùng nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp, đầm lầy, khu dân cư, bãi bồi, đầm phá, sông suối, ao hồ, bãi nông ven bờ, bãi cát, ruộng cói, rừng, ruộng muối, đảo nhỏ, vùng biển nông cồn cát, đất trống.
Nhóm vùng nhạy cảm của cấc loại đường bờ: Đường bờ được che chắn kín, trung bình và thuộc các bãi cát thô, cát mịn, cát lẫn cuội, đá cuội, bãi bùn, bãi phù sa, bờ đá, vách đá.
Nhóm vùng nhạy cảm của các khu đặc dụng: Vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn loài và nơi cư trú, khu bảo vệ cảnh quan và các khu du lịch, nghỉ mát.
Bộ bản đồ này lần đầu tiên được thành lập ở Việt Nam cũng như trong khu vực, cho phép sử dụng để xây dựng kế hoạch ứng phó, đánh giá những tác động về môi trường và lượng tính được những thiệt hại kinh tế do sự cố tràn dầu gây ra.
Năm 2007, dọc ven biển Việt Nam xuất hiện các vệt dầu loang trôi dạt vào bờ không rõ nguyên nhân. Theo sự chỉ đạo của Bộ TN&MT, Trung tâm Viễn thám quốc gia đã tiến hành nghiên cứu xác định nguồn gốc phát sinh dầu tràn bằng việc sử dụng các loại ảnh radar (ảnh vệ tinh Envisat Asar và Alos Palsar). Bằng việc phân tích ảnh đa thời gian có tính đến tác động của sóng, gió, thủy triều đã xác định được vị trí không gian của vệt dầu và đưa ra kết luận: Nguồn gây ô nhiễm dầu từ các mỏ khai thác, giếng khoan thăm dò của Trung Quốc ở khu vực phía Tây Bắc đảo Hải Nam, ở tọa độ 108°45 kinh tuyến Đông, 20°50 vĩ tuyến Bắc và từ điểm cố định nằm ở phía Tây Nam đảo Hải Nam (có thể là dàn khoan) ở tọa độ 109°0047 kinh tuyến Đông, 17°2957 vĩ tuyến Bắc. Nguồn gây ô nhiễm dầu từ phía Nam đảo Đài Loan ở tọa độ 115° 15 kinh tuyến Đông, 19°31 vĩ độ Bắc. Nguồn gây ô nhiễm dầu do tàu xả dầu trên vùng biển miền Trung (trên tuyến đường hàng hải quốc tế), điển hình là vệt dầu cách bờ biển Bình Định 40 km ngày 22/4/2007, dài khoảng 57 km.
ng dụng viễn thám trong quy trình ĐTM
Năm 2003 - 2004, Trung tâm Viễn thám đã tiến hành thực hiện Dự án sử dụng viễn thám phục vụ công tác ĐTM đi vi các dự án đầu tư. Công việc này được tiến hành ở khâu "sàng lọc" còn gọi là "lược duyệt" Dự án. Trong thực tê, có 2 cách được dùng để "sàng lọc" Dự án, đó là xác định theo danh mục các dự án và xác định theo bộ chỉ tiêu. Trong bộ chỉ tiêu gồm có chỉ tiêu về ngưỡng, kiểu Dự án và chỉ tiêu về các vùng nhạy cảm môi trường. Như vậy, việc ứng dụng viễn thám ở đây chỉ dừng lại ở việc xác định chỉ tiêu về vùng nhạy cảm môi trường đôi vói các dự án đầu tư. Chỉ tiêu này không những xác định được thông tin thuộc tính, mà còn cả thông tin về phân bố không gian.
Kết quả thử nghiệm Dự án tại khu vực Hải Phòng đã xác định được các vùng nhạy cảm môi trường theo 4 nhóm, vùng sau đây:
Nhóm các vùng sinh thái quan trọng d bị tn thương: Vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài và noi cư trú, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng, rừng ngập mặn, rừng tự nhiên nguyên sinh, khu vực có các loài động, thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, bãi triều lầy, bãi bồi cửa sông - ven biển, vùng nước cửa sông, rạn san hô, thảm cỏ biển, hệ thống đảo nhỏ, đầm phá, hồ lớn.
Nhóm các vùng ý nghĩa quan trọng về kinh tế - xã hội: Khu di tích lịch sử - văn hóa, khu danh lam thắng cảnh, khu vục khai quật khảo cổ, làng nghề truyền thống, khu có di sản văn hóa, trung tâm các tôn giáo, khu dân cư đô thị đông đúc, khu vực quân sự - an ninh quốc gia, khu vực có xung đột về phân chia tài nguyên - tranh chấp lãnh thổ, nguồn nước chính cho sinh hoạt, vung có tiềm năng cao về khoáng sản, vùng có cây dược liệu - cây đặc sản quý hiếm, khu công nghiệp -khu chế xuất, sân bay, bến cảng.
Nhóm các vùng có địa hình đặc biệt, các vùng d xảy ra tai biến thiên nhiên: Vùng núi đá, vùng địa hình có độ dốc cao, vùng dễ bị ngập lụt, vùng thường xuyên bị khô hạn, vùng bị xói lở - xói mòn - trùm đất.
Nhóm các vùng bị ô nhim vượt quá tiêu chun môi trường cho phép: Vùng có môi trường nước, không khí, đất bị ô nhiễm hoặc thoái hóa nghiêm trọng.
Trong số các nhóm vùng nêu trên, 3 nhóm vùng đầu tiên được xác định chủ yếu bằng tư liệu ảnh vệ tinh SPOT 5 và kết quả điều tra ở ngoài thực địa kết họp với các nguồn tài liệu khác; còn nhóm vùng thứ 4 chủ yếu là dùng các tài liệu điều tra về ô nhiễm môi trường có sẵn ở dạng bản đồ hoặc ở dạng tài liệu khác (trong thực tế, loại tài liệu này có rất ít và thiếu đồng bộ).
Các vùng nhạy cảm môi trường đối vói Dự án đầu tư còn được phân cấp theo mức độ nhạy cảm, trên cơ sở đánh giá theo các thang điểm và sử dụng phép phân tích nhân tố (Factor score).
ng dụng viễn thám để giám sát và ĐTM của các hoạt động công nghiệp đến môi trường sinh thái
Trong khuôn khổ các đề tài khoa học công nghệ và dự án sản xuất thử nghiệm năm 2009 - 2010, Trung tâm Viễn thám quốc gia đã thực hiện một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến việc ứng dụng viễn thám để giám sát tài nguyên và ĐTM.
Hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là khai thác lộ thiên luôn gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường và các hệ sinh thái xung quanh. Bằng thông tin ảnh viễn thám đa thòi gian có thể giám sát nhanh, thường xuyên để đưa ra những đánh giá về những tác động như biến động của địa hình, lóp phủ rừng, mạng lưới thủy văn, cảnh quan - sinh thái; phát hiện các sự cố sạt lở, trôi trượt đất, lún sụt bờ moong, sườn bãi...; tình trạng đất đai bị suy thoái, hoang hóa; xác định và tính toán được phạm vi các khu vực đất canh tác, đất ở bị lấn chiếm; theo dõi được quá trình hoàn thổ và hoàn nguyên môi trường sau khai thác. Ngoài ra, còn có thể phát hiện và giám sát được những khu vực khai thác nhỏ lẻ, phân bố không tập trung như các điểm khai thác khoáng sản trái phép nằm sâu trong vùng rừng núi, vói diện tích khoảng vài trăm m2 trở lên.
Ngoài việc sử dụng viễn thám để tham gia vào phát hiện nguồn nước thải bị ô nhiễm tại các khu công nghiệp, khu đô thị đưa đặt ra trong Dự án, theo nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường được triển khai năm 2010 - 2011. Bằng việc sử dụng phép tổ hợp ảnh theo nhiều mức khác nhau để tìm ra hàm tuông quan giữa bức xạ phổ ảnh với mức độ ô nhiễm được đo theo mẫu lấy ngoài thực địa, cho phép tìm ra các hệ số để xác định các vùng nước bị ô nhiễm. Kết quả ban đầu cho thấy, có khả năng xác định được trên ảnh vệ tinh SPOT 5 các vùng nước mặt có chỉ tiêu BOD, COD, TSS vượt tiêu chuẩn cho phép.
ng dụng ảnh viễn thám để nghiên cứu ô nhiễm không khí lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam trong khuôn khổ của 1 đề tài khoa học - công nghệ cấp Bộ. Bản chất của phương pháp là xác định sự tương quan giữa các thành phần ô nhiễm không khí từ số liệu quan trắc hoặc đo được ở ngoài thực địa, vi giá trị soi khí (bụi khí) bằng phép hồi quy tuyên tính. Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể xác định được mức độ ô nhiễm không khí của 4 thành phần là TSP, CO, SO2, NO2 bằng tư liệu viễn thám, đảm bảo được độ tin cậy cần thiết. Từ đây, đặt ra Ì vấn đề, có thể sử dụng kết họp phương pháp viễn thám với phương pháp truyền thống, quan trắc tại các trạm mặt đất để tăng cường chất lượng giám sát, đáp ứng yêu cầu nhanh và giảm được chi phí.
Việc ứng dụng viễn thám ở Việt Nam phục vụ các lĩnh vực quản lý của Bộ TN&MT được lãnh đạo Bộ rất quan tâm và ủng hộ. Hiện nay, trạm thu ảnh vệ tinh của Việt Nam do Trung tâm Viễn thám quản lý hoàn toàn có thể đáp ứng được các yêu cầu về ảnh vệ tinh độ phân giải từ 2,5 - 300 m với các loại ảnh quang học và ảnh radar, cho phép sử dụng với nhiều mục đích khác nhau
Vũ Đình Thảo - Trung tâm Viễn thám quốc gia

Một số thủ thuật làm nổi bật đường bờ và đường mực nước

Sự thay đổi đường bờ là một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm. Ngoài việc đo đạc thực tế ngày nay chúng ta có những phương pháp ít tốn kém hơn nhờ vào công nghệ GPS và viễn thám, một trong những vấn đề được đặt ra khi sử dụng ảnh viễn thám nghiên cứu đường bờ là xác định được ranh giới giữa đường bờ và đường mực nước, bằng 1 ít kiến thức nhỏ bé và kỹ năng sưu tầm tài liệu mình xin được tổng hợp một số phương pháp làm nổi bật đường bờ và đường mực nước từ ảnh Lansat (một số cách có thể chỉ mang tính tham khảo, cần các pro vào tư vấn thêm)

Tổ hợp kênh 4,5,7:
  • Kênh 4 chia kênh 2: B4/B2
  • (Kênh 4 chia kênh 2) cộng (kênh 5 chia kênh 2): (B4/B2)+(B5/B2)
  • Lansat TM: (B5+B7)/B2 Lansat MSS (B6+B7)/B4
Nguồn: "TRÍCH RÚT ĐƯỜNG MỰC NƯỚC TỪ ẢNH LANSAT", Phạm Thị Phương Thảo,Hồ Đình Duẫn, Đặng Văn Tỏ
  • Bảng đánh giá khả năng sử dụng ảnh viễn thám trong nghiên cứu ven biển
Nguồn: Internet

Ứng dụng GIS trong nghiên cứu địa mạo





Viễn thám và GIS trong dự báo ngập lụt


Trong nghiên cứu này, mô hình số độ cao (DEM) được nội suy từ bản đồ địa hình có đường đẳng cao là 20m. Toàn bộ lưu vực sông được chia thành các lưu vực phụ sau đó mô hình hóa thủy văn.
Mức độ ngập lụt được dự báo bằng mô hình SCS TR-55 (Soil Conservation Service Technical Release 55). Công việc tính dòng chảy tràn dựa trên phương pháp Runoff Curve Number, một phuơng pháp dựa trên hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu.
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được thành lập từ ảnh vệ tinh SPOT-XS và dữ liệu về lượng mưa được sử dụng làm dữ liệu để tính toán.
1. Giới thiệu
Lưu vực sông Klang thuộc khu vực bờ biển phía Tây của bán đảo Peninsular Malaysia. Hầu hết diện tích của lưu vực đã bị đô thị hoá và vẫn đang tiếp tục đô thị hoá với tốc độ cao trong đó bao gồm cả thủ đô Kuala Lumpur. Việc đô thị hoá nhanh có thể là nguyên nhân gia tăng quá trình lắng cặn và ô nhiễm. Đã có nhiều dự án di dân được thực hiện, khi mà vấn đề lũ lụt vấn đang là một loại thiên tai tự nhiên đe doạ tới khu vực này
Lũ lụt là một trong những mối hiểm hoạ tự nhiên phổ biến và là nguyên nhân mất hàng tỷ đô la mỗi năm. Việc chuyển đổi sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất đô thị có thể nguyên nhân chính. Theo JICA (1989), có hai yếu tố tự nhiên gây lũ lụt tại vùng này là bão gió mùa và bão có kèm mưa to. Nghiên cứu rõ nét nhất là hiện tượng khi có bão kèm mưa rất to thường hay xảy ra lũ quét. Chính vì đặc tính của lũ quét, xảy ra trong khu vực nhỏ và thời gian ngắn (3-5 giờ), nên việc nghiên cứu dự báo là rất quan trọng và việc xác định loại hình của lũ dẽ dàng hơn xác định phạm vi chịu ảnh hưởng của lũ.
Viễn thám và GIS được sử dụng rộng rãi, đặc biệt nhất là trong đánh giá các vấn đề liên quan đến thiên tai vì đây là nhu cầu để xác định phạm vi và thông tin chi tiết về khu vực, diện tích bị ảnh hưởng từ thiên tai cũng như các hoạt động cứu trợ, khôi phục. Thông tin viễn thám rất phù hợp các biện pháp thông thường trong việc tiếp cận, điều tra khu vực đang bị lũ lụt.
Bài viết này sẽ thảo luận về việc sử dụng DEM và ảnh vệ tinh SPOT làm thông số cơ sở cho mô hình thuỷ văn SCS TR-55) làm dự báo lũ thông qua 4 điểm đo trên sông.
2. Mô hình số độ cao
Mô hình số độ cao DEM được tạo lập từ bản đồ địa hình 1:50 000, khoảng cao đều 20 mét theo 2 bước. Bước 1 là chuyển đổi bản đồ địa hình từ dạng đường sang dạng điểm độ cao. Bước thứ 2 là nội suy địa hình theo phương pháp TIN (triangulated irregular network).
Thông tin được chiết xuất bằng 2 cách, bằng phân tích định tính hoặc định lượng trên dữ liệu số độ cao. Tù mô hình số độ cao có thể tạo các hướng nhìn khác nhau, phân tích độ dốc, địa hình, thuỷ văn và mô phỏng lũ.
3. Lưu vực
Với mục đích mô hình hoá thuỷ học thì việc chia lưu vực là cần thiết. Theo Mc Cuen, (1998), ranh giới của một lưu vực được định nghĩa là tập hợp của tất cả các điểm thu nước chạy về 1 cửa song và nước sẽ chạy theo hướng có độ dốc lớn nhất. Trong phương pháp này DEM được sử dụng thay thế các đường đẳng cao.
Những điều kiện cần của phương pháp Graphical Peak Discharge là khu vực nghiên cứu được chia thành những lưu vực nhỏ đồng nhất.
4. Phân tích dữ liệu Viễn thám
Ảnh vệ tinh SPOT-XS được nắn chỉnh bằng thuật toán đa thức với 20 điểm khống chế. Sử dụng phương pháp phân loại có kiểm định ảnh để phân loại hiện trạng sử dụng đất trong khu vực có 4 trạm đo. Khu vực thử nghiệm được giới hạn bằng bản đồ địa hình (1991) khu vực Kuala Lumpur. Khu vực đồng nhất được xác định tại 4 điểm đo là tất cả khu vực đô thị.
5. Mô hình hoá thuỷ văn
Mô hình SCS TR55 (USDA, 1986) làm đơn giản hoá việc đánh giá khả năng tiêu thoát và dòng chảy tràn trong một lưu vực nhỏ. Chúng được nhấn mạnh đối với khu vực đô thị và những lưu vực đang đô thị hoá.
Có hai phương pháp được sử dụng trong mô hình này là:
  1. Phương pháp số đường cong tiêu thoát
  2. Phương pháp dòng chảy tràn. Xem chi tiết công thức tại http://www.gisdevelopment.net/aars/acrs/1999/ts14/ts14106.shtml
6. Thảo luận
Qua phân tích sơ bộ bằng mô hình TR55 cho thấy đây là mô hình dự báo ngập lụt có thể áp dụng được trong lưu vực thành thị như Kuala Lumpur, Malaysia. Việc sử dụng DEM để phân loại các khu vực đồng nhất rất dễ dàng bởi hầu hết các phần mềm GIS. Sự thay đổi sử dụng đất có thể dễ dàng ghi nhận bởi ảnh vệ tinh.
Mô hình thuỷ văn được sử dụng trong bài viết này dựa trên hệ thống phân loại đất của Mỹ và khả năng thích hợp khi ứng dụng vào Malaysia vẫn còn chưa chắc chắn. Cần đầu tư cho nghiên cứu để làm cơ sở lý luận và thực tiến trong các tình huống thực tế.
Có thể thấy việc tích hợp Viễn thám và GIS có triển vọng rất cao trong việc dự đoán ngập lụt. Trong quản lý thiên tai chúng có thể chỉ ra các khu vực bị ảnh hưởng và sẽ dễ dàng hành động  để giảm thiệt hại cho cộng đồng.
Nguồn ĐH Huế

Hướng dẫn tạo Geodatabase sử dụng ArcCatalog, ArcMap và Visio


Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482