DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Ứng dụng công nghệ Lidar : Đi tìm cốt nền cho TPHCM

Triều cường vốn là nỗi ám ảnh của người dân TPHCM. Và trong khi cơ quan chức năng trên địa bàn TPHCM vẫn đang loay hoay tìm giải pháp khắc phục thì Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM đã tiến hành triển khai dự án ứng dụng công nghệ Lidar xây dựng mô hình 3 chiều phục vụ quản lý đô thị thành phố. Việc triển khai hoàn tất dự án có thể xác định chính xác cốt nền của thành phố, đồng thời đưa ra thông tin cảnh báo, dự báo chính xác nguy cơ bị ngập để người dân chủ động đối phó.
TPHCM sẽ có 3 tỷ điểm độ cao
Ứng dụng công nghệ Lidar: Đi tìm cốt nền cho TPHCM
Cuối năm 2009,người dân sẽ được cảnh báo để có thể tránh được cảnh lội nước như thế này. Ảnh: ĐỨC TRÍ
Nếu nhập vào phần mềm xử lý một thông tin là mức triều cường khu vực quận Bình Thạnh dâng lên vào ngày mai là 1,53m, bản đồ mô hình 3 chiều sẽ chỉ ra chính xác những khu vực dân cư, tuyến đường bị ngập.
Điều này sẽ hỗ trợ tích cực cho người dân chủ động ứng phó tình hình ngập lụt, còn những phương tiện khi tham gia giao thông cũng biết trước thông tin để chuyển hướng giao thông, tránh những trục đường bị ngập nước do triều cường gây ra…
Tương tự, đối với mực nước mưa hoặc nước biển dâng cũng có thể được xử lý như vậy.
Dữ liệu mà công nghệ Lidar thu thập được có độ chính xác và độ phân giải cao. Đặc biệt trong xây dựng mô hình ngập úng, công nghệ này giúp xác định chính xác ranh giới ngập úng; chỉ ra chính xác về thông tin những đối tượng trên địa vật chịu ảnh hưởng; thành lập bản đồ nguy cơ ngập úng; vùng ưu tiên sơ tán hoặc tiếp tục.
Ông Phan Minh Tân, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH-CN) TPHCM,  giải thích, sở dĩ có thể đưa ra được kịch bản ngập trên là dựa vào ứng dụng công nghệ Lidar để xây dựng bản đồ 3 chiều. Nói nôm na, đây là một loại công nghệ viễn thám mới.
Công nghệ này được gắn với một loại máy bay thích hợp. Khi bay, nó sẽ quét bề mặt đất bằng tia laser. Ưu điểm của việc sử dụng tia laser để quét xuống bề mặt địa hình là có thể ghi nhận mọi dữ liệu thông tin trong mọi điều kiện về thời tiết kể cả ban đêm hoặc có mây che phủ. Thậm chí, nó còn quét xuyên qua được cả bề mặt tán cây xuống mặt đất, đảm bảo xác định chính xác về độ cao bề mặt địa hình.
Trung bình mỗi m2, máy xác định 2 điểm độ cao. Mỗi điểm đều xác định 3 chiều. Sau đó, các thông tin thu thập được sẽ được chuyển vào hệ thống xử lý, xây dựng mô hình và cuối cùng chuyển vào bộ phận lưu trữ.
Dự kiến dự án ứng dụng công nghệ Lidar xây dựng mô hình 3 chiều bản đồ địa hình thành phố sẽ xác định khoảng 3 tỷ điểm độ cao trên tổng diện tích hơn 2.000km2. Trên cơ sở các điểm độ cao được xác định thì được đưa vào xử lý và xây dựng bản đồ 3 chiều.
Từ đó, chỉ cần nhập thông tin về mực nước thuỷ triều, nước biển dâng hoặc lượng mưa đo được, lập tức phần mềm công nghệ sẽ xác định chính xác từng chi tiết những khu vực sẽ bị ảnh hưởng.
Lời giải cho bài toán quy hoạch
Có thể nói, hiện trạng dữ liệu địa chính và địa hình của thành phố hiện chỉ có tính 2 chiều, tức chỉ thể hiện các đối tượng địa hình, địa vật trên mặt phẳng mà chưa thể hiện được thông tin về chiều cao/độ cao.
Mặt khác thời gian thu thập dữ liệu này lại không đồng nhất do thường được thu thập bằng phương pháp đo vẽ truyền thống nên có sự chênh lệch về tỷ lệ dữ liệu cũng như thời gian thu thập dữ liệu, dẫn đến tình trạng cập nhật bản đồ không đồng nhất, gây khó khăn cho công tác quản lý đô thị.
Cụ thể như Sở Quy hoạch Kiến trúc thiếu dữ liệu độ cao các công trình và độ cao cốt san nền để quy hoạch sử dụng đất, kiến trúc; theo dõi giám sát san nền, sử dụng trong các đề án thiết kế hạ tầng (cấp nước, thoát nước…); Sở Giao thông Vận tải khó nghiên cứu quy hoạch hệ thống thoát nước, hệ thống giao thông, dự báo và điều phối chống ngập úng đô thị…
Việc ứng dụng công nghệ Lidar tạo ra mô hình địa hình và địa chính 3 chiều sẽ cho phép khắc phục những nhược điểm trên.
Các kết quả thực nghiệm công nghệ Lidar trong nước thời gian qua, cho thấy tính ưu việt của nó so với phương pháp truyền thống là thời gian hoàn thành công tác thu thập dữ liệu rất ngắn, năng suất trung bình là 2.000 đến 5.000ha/giờ bay. Hơn nữa, dữ liệu mà công nghệ này thu nhận là 3 chiều trực tiếp nên những yếu tố về độ cao và cốt nền rất chính xác.
Theo ông Trần Bạch Giang, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ, việc ứng dụng công nghệ Lidar xây dựng mô hình 3 chiều phục vụ quản lý đô thị do Sở KH – CN triển khai có nhiều ưu điểm và thực sự là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Bởi mô hình trên rất dễ thường xuyên cập nhật thông tin mới, bảo đảm tính đầy đủ, chính xác, kịp thời nhằm phục vụ tầm nhìn quy hoạch dài hạn của cả nước; quản lý hiệu quả các đối tượng phân bố theo không gian địa hình; phân tích đúng các yếu tố quyết định của người lãnh đạo; bảo đảm điều kiện về hạ tầng thông tin trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Ông Phan Minh Tân cũng nhấn mạnh, tổng kinh phí đầu tư cho dự án trên khoảng 19 tỷ đồng. Dự kiến từ nay đến cuối năm 2009, sở sẽ chính thức cho ra mắt mô hình 3 chiều phục vụ quản lý đô thị. 
www.sggp.org.vn

Ứng dụng công nghệ LIDAR trong xác định thông số gió


Năng lượng gió - nguồn năng lượng quan trọng hiện nay phụ thuộc vào hoạt động tối ưu của thế hệ tuabin gió lớn mới nhất. Tính toán nguồn điện chính xác dựa trên tốc độ gió là một công việc đầy thách thức và với những mẫu tuabin mới lớn hơn, các phép đo tốc độ gió thông thường không thể thực hiện được do những lí do về chi phí và kỹ thuật.
lidar020408
Các nhà nghiên cứu tại Phòng Năng lượng gió (SWE) thuộc Trường Đại học Stuttgart đang kết hợp với các nhà nghiên cứu của trường ĐH Oldenburg và nhiều đối tác khác nghiên cứu kỹ thuật đo từ xa cho các ứng dụng năng lượng gió. Công nghệ LIDAR (Light Detection and Ranging) là kỹ thuật đo dựa trên lade với độ linh hoạt cao hơn và kinh tế hơn. Hiện LIDAR là công nghệ tốt nhất để thay thế các phép đo gió thông thường trong tính toán đặc tuyến công suất cho những trang trại gió ngoài khơi.

Hệ thống LIDAR phát hiện tốc độ và hướng gió dựa trên độ trễ thời gian của tia lade phát ra từ bình phun trên máy bay. Công nghệ này đã được sử dụng trong nhiều thập kỉ, chủ yếu trong nghiên cứu không khí. Trong những năm gần đây, công nghiệp năng lượng gió đã phát hiện ra những ưu điểm của công nghệ này. Dự án nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nhằm mục đích phát triển công nghệ LIDAR trong các ứng dụng năng lượng gió. Mục tiêu là thiết lập kỹ thuật đo này như một tiêu chuẩn về chất lượng trong phép đo gió.

SWE đã tập hợp một nhóm các đối tác để đánh giá hệ thống LIDAR thương mại do Leosphere cung cấp. Trung tâm nghiên cứu ForWind của trường ĐH Oldenburg sẽ nghiên cứu để tìm ra các phương pháp mới trong việc tính toán đặc tuyến công suất hay thay đổi. Các phép đo đặc tuyến công suất sẽ được thực hiện trên mẫu tuabin gió 5MW của Multibrid GmbH ở Bremerhaven.

hiendaihoa.com

Lập bản đồ về nguy cơ lở đất với công nghệ LiDAR

Cục Địa chất và Khoáng sản Công nghiệp thành phố Oregon (DOGAMI), Clackamas, Mỹ vừa phát hành hai bản đồ hiển thị các di tích lịch sử và các vụ lở đất lịch sử ở phía Tây khu vực núi Bull Washington và phần phía tây bắc của thành phố Oregon.
Với việc sử dụng công nghệ LiDAR, các nhà địa chất của DOGAMI đang tiến hành công việc với chính quyền địa phương tại Oregon nhằm tạo ra một thế hệ bản đồ kiểm kê mới cho các vụ lở đất sẽ được chi tiết hóa, chính xác và toàn diện hơn bất cứ một phiên bản nào trong quá khứ.
Ngoài ra, các giao thức lập bản đồ mới cũng sẽ được sử dụng và như vậy tất các các bản đồ lở đất trong tương lai tại Oregon sẽ được nhất quán và tiêu chuẩn hóa.

Một phần bản đồ lở đất của Oregon với các loại hình lở đất: sạt lở đất, sạt lở đá và những luồng mảnh vỡ….

Trên cơ sở thực tế hàng năm cho thấy thiệt hại từ các vụ lở đất là tốn kém nhất trong các mối hiểm họa tự nhiên tại Oregon, thậm chí một vài năm mức độ thiệt hại vượt trên cả 100 triệu đô. Năm 2005, DOGAMI đã bắt đầu thực hiện chương trình hợp tác nghiên cứu về nguy cơ lở đất với Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) nhằm xác định một cách toàn diện và nắm bắt tốt hơn về các vụ lở đất tại Oregon. Phần mềm lập bản đồ mới này sử dụng dữ liệu LiDAR sẽ giúp xác định chính xác hơn 200 lần số lượng vụ lở đất ở những nơi mà trước đây đã sử dụng các phương pháp truyền thống để lập bản đồ. 
vidagis

PARTNER

ESRI Việt Nam

ESRI là hãng cung cấp các giải pháp phần mềm GIS, công cụ phát triển, nền phát triển ứng dụng GIS hàng đầu thế giới Climate GIS hợp tác với ESRI để cung cấp:
- Các phần mềm GIS: ArcGIS Desktop, ArcGIS Server
- Các giải pháp phần mềm ứng dụng GIS

http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/GTOSoftware.jpg
http://www.gto-software.com/
GTO Software

GTO là hãng chuyên phát triển các ứng dụng  giải pháp phần mềm GIS, phát triển các tool ứng dụng và các hệ thống phần mềm lập trình bằng Arcgis. Climate GIS hợp tác với GTO để cung cấp:
- Các tool GoogleMapDownload, hệ thống quản lý mạng lưới điện, hệ thống quản lý ống dẫ dầu...
- Các giải pháp phần mềm ứng dụng GIS

http://2.bp.blogspot.com/-99aX60DOhYU/T07q-qCbhDI/AAAAAAAABKU/kwjNrfml-To/s190/rachatdecredit_banner.png
http://www.rachatdecredit.net
   
RACHAT

RACHAT là hệ thống GIS tại Pháp có trang web:  http://www.planet-gis.com
Climate GIS hợp tác với RACHAT nhằm phát triển hệ thống đối tác trên toàn cầu.

http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/VietAnLOGO-V3.jpg
http://vietan-enviro.com
VIET AN ENVIRO

VietAn ENVIRO là đại lý chính thức của Bentlay tại Việt Nam, cung cấp các phần mềm của hãng.
Climate GIS hợp tác với Viet An Enviro:
- Cung cấp các phần mề chính hãng Bentlay
- Tư vấn và cung cấp giải pháp quan trắc tối ưu
-  tư vấn và lắp đặt hệ thống GIS
Skysoft là nhà cung cấp giải pháp về định vị và theo dõi, phát triển sản phẩm NAVIBOX được sản xuất bởi công ty PAYRING tại Việt Nam.
 Climate GIS hợp tác với Skysoft:
- Cung cấp thiết bị , dịch vụ định vị toàn cầu qua vệ tinh GPS Navibox
- Cung cấp giải pháp trong lĩnh vực quản lý , giám sát các phương tiện vận tải từ xa như: Điều hành taxi ; Điều hành xe khách , xe tải ; Quản lý phương tiện cá nhân ; Quản lý tàu thuyền .. Bằng cách áp dụng những công nghệ hiện đại nhất như: Công nghệ 3G (GPRS, GIS, GPS); Internet ; và Webbase System.
VIEDRAGON CORPORATION là công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ phần mềm, giải pháp truyền hình, xây dựng và bất động sản.
Climate GIS hợp tác với Rồng Việt:
- Cung cấp thiết bị truyền hình và các gói dịc vụ truyền hình.
- Cung cấp các giải pháp về công nghệ truyền hình
- Cung cấp thông tin về bất động sản
- Cung cấp giải pháp và các phần mềm ứng dụng.
http://i298.photobucket.com/albums/mm269/trantoan822003/climategiscom2577.png
http://svquanlydat.com
Climate GIS tạo kết nối với SVquanlydat:
- Phục vụ độc giả tốt hơn với lượng kiến thức nhiều hơn
- Chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau trong nghiên cứu khoa học
- Cùng hợp tác và phát triển mạng lưới

Khám phá công nghệ do thám siêu việt của Mỹ

Trong một vài năm trở lại đây, phương tiện bay không người lái (UAV) ngày càng tham gia nhiều hơn vào các chiến dịch quân sự trên thế giới. Đặc biệt, quân đội Mỹ đã đưa máy bay không người lái có vũ trang vào các chiến trường.

UAV giống máy bay truyền thống trên nhiều phương diện, song buồng lái của chúng chứa những thiết bị do thám và thường được trang bị tên lửa cũng như bom.

UAV được phóng lên không trung gần những khu vực chiến sự. Sau khi cất cánh chúng được điều khiển từ xa thông qua tín hiệu vệ tinh. Người điều khiển chúng là những phi công ở cách xa chiến trường hàng nghìn km.
Sự xuất hiện của UAV giải quyết được hai yêu cầu hàng đầu của quân đội hiện đại: hạn chế thương vong và giảm thiểu chi phí. Thứ nhất, nếu chúng bị bắn hạ thì sẽ chẳng có phi công nào thiệt mạng. Thứ hai, chi phí để sản xuất và vận hành UAV thấp hơn nhiều so với phản lực cơ chiến đấu truyền thống. Hiện nay quân đội Mỹ có hơn 7.000 UAV.

Hãy cùng tạp chí Discovery khám phá một số đại diện tiêu biểu nhất cho công nghệ UAV siêu việt của Mỹ:

Eagle Eye

Eagle Eye

Với sải cánh khoảng 7,5m và chiều dài khoảng 5,5m cùng với một động cơ Allison 250-C20 GT 420 shp, Eagle Eye có thể bay lượn ở độ cao hơn 6.000m và bay liên tục trong 8 giờ đồng hồ mà không cần nạp nhiên liệu. Chiếc máy bay do thám không người lái này có khả năng tải khoảng hơn 90kg. Được trang bị đồng thời các bộ cảm biến SAR/FLIR/TV và hệ thống ngắm mục tiêu laser, Eagle Eye có thể tìm kiếm, khóa chặt và thả vũ khí để tiêu diệt mục tiêu. Các hoạt động bay và do thám của loại UAV này được điều khiển thông qua một ăng-ten và trạm điều khiển tại mặt đất. Trong tương lai, Eagle Eye có thể được lập trình để tự điều khiển và hoạt động tự động trên các chiến trường.

Hunter

Hunter là một máy bay không người lái được Israel Aircraft Industries, công ty tư nhân lớn nhất của Israel, thiết kế cho quân đội Mỹ. Nó có các chức năng điều chỉnh pháo, đánh giá mức độ thiệt hại trên chiến trường, do thám và giám sát, xác nhận mục tiêu cũng như quan sát nắm tình hình chiến trường. Loại UAV này sẽ lượn lờ trên các chiến trường, quan sát mọi động tĩnh diễn ra bên dưới, tìm kiếm và xóa sổ mục tiêu.

Hunter

Được trang bị động cơ piston 2X Mercedes-Benz, hệ thống quan sát và truyền hình hồng ngoại cho phép Hunter có thể thực thi nhiệm vụ do thám/giám sát cả ban ngày lẫn ban đêm. Nó còn có thể phát hiện và đuổi theo một mục tiêu di động trên mặt đất, khóa mục tiêu và rọi tia laser dẫn đường để đơn vị chỉ huy tại mặt đất có thể phóng tên lửa tìm và diệt kẻ tình nghi.

Hunter không phải là máy bay hoàn toàn tự động nên mọi chức năng chính của nó đều được điều khiển từ xa thông qua một trạm điều khiển mặt đất. Các chức năng được con người điều khiển bao gồm lên kế hoạch tác chiến, thao diễn trên không và phóng vũ khí. Loại UAV này đã phục vụ trong quân đội Mỹ suốt từ năm 1993 và sẽ tiếp tục được sử dụng trong tương lai.

Reaper

Đây là mẫu máy bay không người lái có tầm bay cao và xa, là một “kẻ rình mò” tinh quái trên bầu trời. Reaper được thiết kế và chế tạo tại hãng General Atomics. Nó có khả năng đạt tốc độ hành trình 480 km/h, thời gian hoạt động trên không đến 36 giờ. Loại UAV này được trang bị một loạt các thiết bị cảm biến và radar khẩu độ lớn, trên thân có bảy điểm treo cho tên lửa không đối đất và bom, trọng lượng tổng cộng 1,7 tấn.

Reaper

MQ-9 là phiên bản nâng cấp mới nhất của dòng Reaper. Chiếc UAV này cần tới 2 người điều khiển: một người điều khiển chính và một người điều khiển riêng bộ phận cảm biến. Căn cứ chính của Reaper đặt tại vùng xa mạc gần Las Vegas. Được trang bị động cơ tua-bin phản lực cánh quạt Honeywell TP331-10 nên MQ-9 Reaper có thể mang theo một trọng lượng lên tới 1,5 tấn. Do đó, không quân Mỹ thường sử dụng chiếc UAV này để mang bom và tên lửa hành trình. Camera của MQ-9 Reaper có thể đọc được chữ trên tấm bảng cách đó 3,2km.

Trong tương lai, không quân Mỹ sẽ thêm tính năng cho Reaper để loại UAV này có thể chở theo tên lửa “không đối không”.

ScanEagle

Chiếc Boeing/Insitu ScanEagle là mẫu máy bay do thám nhỏ, với thiết kế không đuôi và cánh chỉa theo hình mũi tên. Mẫu UAV này được trang bị động cơ 2 kỳ gắn ở phía sau, có khả năng thực hiện các nhiệm vụ do thám ở độ cao gần 5.000m và thời gian tối đa cho mỗi nhiệm vụ là khoảng 19 giờ đồng hồ.

ScanEagle

ScanEagle sẽ cất cánh nhờ vào sự hỗ trợ của một bệ phóng khí nén, sau đó động cơ của nó mới bắt đầu hoạt động. Khi hạ cánh, ScanEagle sẽ được một hệ thống gọi là Skyhook – gồm một sợi dây buộc vào một cái cọc – tự động tóm lấy nó. Nhờ vào hệ thống dẫn đường GPS (hệ thống định vị toàn cầu) mà UAV này có thể hoàn toàn tự chủ trong mỗi lần thực thi nhiệm vụ, tức là nó sẽ tự động bay theo những điểm đã được GPS xác định trước, và đồng thời sẽ thu lại hình ảnh toàn cảnh trên hành trình bay của mình nhờ sử dụng hoặc là camera điện quang, hoặc là camera hồng ngoại.

Các đội trinh sát ScanEagle đã được quân đội Mỹ triển khai tại chiến trường Iraq để làm nhiệm vụ tuần tra, thu thập dữ liệu do thám rồi sau đó gửi thông tin về các căn cứ mặt đất.

Vigilante

Thiết kế của Vigilante được lấy cảm hứng từ máy bay trực thăng mô hình được sản xuất dành cho mục đích giải trí. Mẫu Vigilante đầu tiên vẫn chừa không gian cho một phi công, nhưng những mẫu sau này, như mẫu 502, được thiết kế hoàn toàn cho các chuyến bay không người lái.

Vigilante 502 có thể đạt độ cao tối đa gần 4.000m và vận tốc 117 hải lý/giờ. Với kích thước cao 2,4m, rộng 0,6m và dài 8m, phiên bản 502 khá nhỏ so với các mẫu trực thăng khác và là một trong những mẫu hoạt động linh hoạt và hiệu quả nhất trong các dòng UAV. Nó có thể lật, lượn, xoay vòng, bổ nhào … vô cùng dễ dàng với tải trọng đến hơn 180kg dành cho các thiết bị cứu hộ hoặc vận tải hàng hóa.

Vigilante

Để cất/hạ cánh, Vigilante chỉ cần một khu vực có đường kính khoảng 6m. Đây là một ưu điểm của mẫu UAV này, nó đặc biệt có ích cho Hải quân vì có thể thực thi nhiệm vụ trên các tàu khu trục cỡ nhỏ và các loại tàu chiến cỡ nhỏ khác.

Mẫu 502 được trang bị động cơ tăng áp 4 thì 4 xy-lanh Rotax 115-hp. Với thời gian hoạt động 4 giờ đồng hồ, Vigilante 502 có thừa năng lực và thời gian để truy tìm mục tiêu và “đánh nhanh rút gọn”. Ngoài ra, mẫu 502 này có thể thực hiện các chuyến bay do thám tầm thấp ở những khu vực dân cư đông đúc mà không bị phát hiện cũng như có thể bay giữa các thân cây ca hay những tòa nhà cao tầng.

WASP

Bộ tư lệnh Không quân đặc biệt Mỹ (gọi tắt là AFSOC) và Hải quân Mỹ đã đạt được bước tiến mới trong công nghệ do thám trên không nhờ vào thiết bị không người lái mini Wasp III. Với sải cánh chỉ 72cm và cân nặng chưa đến 0,5kg, Wasp III và mô-đun điều khiển của nó có thể được gói gọn trong một chiếc ba lô học sinh.

WASP

Chiến trường luôn là nơi nguy hiểm và thời gian luôn là yếu tố quyết định. Wasp III được thiết kế để đối đầu với “sự sợ hãi” này. Khi có nhiệm vụ, Wasp III sẽ được gắn lên bệ phóng, chỉ với vài thao tác đơn giản kéo/thả là nó đã lao đi làm nhiệm vụ. Thời gian cho mỗi nhiệm vụ là 45 phút ở độ cao tối đa 182m. Một khi đã ở trên không, nó gần như trở nên vô hình nếu nhìn bằng mắt thường.

Wasp III được trang bị 3 camera cho các nhiệm vụ quan sát thăm dò, trong đó có 1 camera hồng ngoại phục vụ cho các nhiệm vụ do thám ban đêm hay các nhiệm vụ đặc biệt khác.
Theo Vietnamnet

Những tính năng nổi bật trong ArcGis 10

 Trong quá trình nghiên cứu và trải nghiệm cùng ArcGIS 10, Climate GIS xin có 1 vài chia sẻ cùng bạn đọc về các tính năng nổi bật của Version này.

Hiển thị không gian 3D đẹp mắt với phần view trong ArcScene
http://www.gmat.unsw.edu.au/currentstudents/ug/projects/Hosking/image002.jpg 
http://landtrustgis.org/images/GIS%20Technology/Advanced%20GIS%20techniques/Create%20a%203D%20image%20of%20a%20property/5arcscene3dimage.jpg/image
Tăng năng suất
·
Tìm kiếm theo từ khóa hoặc loại dữ liệu để tìm dữ liệu, biểu tượng và bản đồ một cách nhanh chóng.
·
Duyệt và thêm dữ liệu trực tiếp từ cửa sổ Catalog trong ArcMap
·
Đơn giản hóa việc thành lập và tạo các sản phẩm bản đồ bằng công cụ sketch được bố trí hợp lý trên Desktop (2D/3D) và biên tập Web.
·
Tự động hóa việc tạo các sản phẩm bản đồ bằng Python và Map books.
· Tiết kiệm thời gian thông qua khả năng hiển thị nhanh hơn, chuyển hướng dễ dàng hơn, và khả năng xử lý dữ liệu chạy ở chế độ nền.

Phân tích không gian mạnh mẽ
· Tự động hóa các thao tác và phân tích phổ biến với Python scripting.
· Kết hợp ArcGIS với các chương trình khoa học khác để đưa ra câu trả lời thích hợp nhất.
· Tận dụng được các ưu điểm của các công cụ phân tích mới như fuzzy overlay và  location /allocation.
· Tạo, quản lý, và hiển thị dữ liệu biến đổi theo thời gian cho nhiều phân tích có chiều sâu.
· Thực hiện trong môi trường 3D hầu hết mọi thao tác bạn có thể làm trong một môi trường 2D: tạo mô hình, chỉnh sửa, hiển thị, và phân tích

Cải thiện khả năng truy cập ảnh
· Sử dụng và quản lý ảnh (dữ liệu dạng ảnh) hiệu quả hơn trên Desktop và trên Server.
· Trải nghiệm tốc độ làm việc nhanh hơn với khả năng hiển thị ảnh nhanh.
· Tiết kiệm thời gian bằng cách sử dụng cửa sổ phân tích ảnh để giải đoán và xử lý ảnh.
· Dễ dàng quản lý các bộ ảnh có dung lượng lớn bằng tính năng ghép ảnh và xử lý on-the-fly.
· Cung cấp khả năng ghép ảnh linh động cho rất nhiều ứng dụng
Phương thức mới để chia sẻ
· Tăng cường khả năng cộng tác thông qua việc tích hợp chặt chẽ với công cụ tìm kiếm ArcGIS Online và khả năng chia sẻ.
· Dễ dàng tạo ra và phân phối các dự án có thể bao gồm dữ liệu, các lớp, bản đồ, công cụ, scenes, globes, sơ đồ, và add-ins.
· Khám phá và sắp xếp dữ liệu địa lý trên toàn tổ chức thông qua dịch vụ tìm kiếm mới trong ArcGIS Server.
· Cho phép thực hiện tính năng biên tập đến từng đối tượng (feature - level) thông qua các ứng dụng Web.

DỮ LIỆU NỀN TRONG ARCGIS

Lớp nền: - Chọn màu xanh rêu cho vùng địa hình khu vực quận Bình Thạnh
               - Màu xám ứng với đường giao thông
- Nhà cửa: Được hiển thị ứng với các bản màu từ xanh nhạt đến xanh đậm là độ cao tăng theo mét

Số liệu từ phần mềm AERMOD  xuất ra được đưa vào ArcGis qua các bước thực hiện (Sơ đồ)
Sơ đồ

Dử liệu từ dạng text xuất sang ArcGis có dang điểm ô nhiễmcó tọa độ. Xử lý các điểm ô nhiễm sang dạng vùng.

Xử lý các điểm ô nhiễm sang dạng vùng.

Chọn thang màu theo tiên chuẩn để so sánh.

Từ đó ta dề dàng tính được diện tích vùng bị ô nhiễm theo m2 mà mặc này trong phần mềm AERMOD bị hạn chế.

KẾT QUẢ SAU  KHI ĐƯỢC BIÊN TẬP TRÊN ARCGIS 10
Kịch bản 7h

CHUYỂN DỮ LIỆU TỪ FILE *.TXT HOẶC FILE *.DXF SANG MAPINFO

Trong quá trình tiếp cận công nghệ GIS điểm khúc mắc lớn nhất với các bạn chuyên viện GIS là xây dựng cơ sở dữ liệu. Climate GIS có nhiều bài viết về xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ bạn đọc với mong muốn hỗ trợ các bạn tiếp cận có bài bản với ngành công nghệ mới này.
Khi xây dựng cơ sở dữ liệu việc chuyển đổ dữ liệu từ GPS vào hệ thống GIS gây không ít khó khăn cho các chuyên viên. Nếu sử dụng DNR Garmin thì công việc này trở nên đơn giản hơn khi dữ liệu chúng ta chuyển có dạng Esri Shape (.shp) đây là dữ liệu chuẩn trong GIS và có khả năng chuyển đổi sang tất cả các định dạng dữ liệu GIS khác. Khó khăn lớn nhất với cá bạn sử dụng Mapsource hoặc DNR Garmin trút dữ liệu nhưng để định dạng .TXT hoặc .DXF, khi trút dữ liệu định dạng này chuyên viên không hiểu làm sao để sử dụng trong hệ thống GIS, làm sao hiển thị dữ liệu không gian cụ thể trong phần mềm Mapinfo. 
Climate GIS nhận được rất nhiều thư của độc giả và đồng thời gửi kèm rất nhiều file dữ liệu .TXT và .DXF, nhờ Climate GIS chuyển đổ giúp. Để giải quyết bài toán đặt ra cho các bạn Climate GIS xin gửi tới cá bạn bài viết này với mong muốn giúp các bạn gặp phải bài toán nêu trên giải quyết được vấn đề của mình.
Chuyển dữ liệu từ file *.dxf sang dữ liệu file .TAB (Mapinfo):
Chú ý: trước khi chuyển đổ dữ liệu từ .DXF sang Mapinfo phải đẩm bảo file .DXF này không được mở bởi bất kỳ chương trình nào.
Sau đây Climate GIS xin hướng dẫn cụ thể: khởi động Mapinfo chọn Table\Import sẽ xuất hiện cửa sổ sau:
Ta chọn file .DXF muốn xuất sang Mapinfo chương trình sẽ xuất hiện màn hình sau:
Trong ô DXF Layers to Import xuất hiện các dạng dữ liệu muốn xuất sang Mapinfo, chọn tất cả hoặc chọn một phần dữ liệu muốn xuất sang Mapinfo.
- Chọn ô Projection để chọn lưới chiếu cho dữ liệu tốt nhất chọn theo lưới chiếu chuẩn của của bản đồ nền địa hình khu vực nghiên cứu. Xuất hiện màn hình sau:
Chúng ta chọn OK cho cả 3 cửa sổ hiện ra như trên. Sẽ xuất hiện màn hình tiếp theo như sau:
Chọn OK và đặt tên file chọn thư mục và save lại, như vậy là đã hoàn thành rồi đó.
Chuyển dữ liệu từ file *.txt sang dữ liệu file .TAB (Mapinfo):
Vớ dữ liệu file .TXT đầu tiên cá bạn phải mở file .TXT này bằng Excel như hình bên dưới:
Do dữ liệu chúng ta trút từ máy GPS sang chưa có cấu trúc chuẩn nên phải sử lý dữ liệu đưa về cấu trúc file như hình bên dưới:

Sau đó lưu file dữ liệu dạng .slx của Excel.
Tiếp theo chúng ta khởi động Mapinfo
Chọn menu File / Open / trong files of type chúng ta chọn Microsoft Excel các file Excel sẽ hiển thị và ta chọn file Excel mà ta vừa lưu để làm việc sau đó chọn nút Open.
Xuất hiện cửa sổ sau thì ta chọn OK
Dữ liệu bảng trong mapinfo xuất hiện trong hình dưới.
Tiếp theo chọn menu Table / Create Points xuất hiện cửa sổ sau:
Chọn Projection để chọn hệ bản đồ cho table Test.
- Các dòng Get X, Get Y chọn tọa độ XY cho tọa độ của điểm.
- Chọn OK
- Chọn menu File / Open / chọn table: Test.tab
Và đây là kết quả đạt được
Chúc các bạn gặp phải bài toán như thế này sẽ thực hiện thành công. Xin gửi lời chúc sức khỏe đến toàn thể độc giả Climate GIS.

Các phần mềm mã nguồn mở cho GIS chuyên nghiệp

 http://aloxoposter.com/wp-content/uploads/2011/11/hosting.jpg
Những thông tin chung nhất…

Các phần mềm mã nguồn mở đã thực sự trưởng thành trong những năm qua và đã trở thành những công cụ thiết thực và hỗ  trợ tốt cho người dùng. Các phần mềm mã nguồn mở cho GIS cũng không nằm ngoài xu hướng đó và ngày nay đã có thể đáp ứng được nhu cầu của dân chuyên nghiệp GIS trên toàn thế giới.

Phần mềm mã nguồn mở có thể được định nghĩa như là những phần mềm mà tác giả của nó cho không người dùng bao gồm cả việc có quyền xem xét cách thức mà phần mềm hoạt động để có thể hiệu chỉnh hay phát triển thêm theo ý mình, có thể được sử dụng dưới nhiều mục đích, dưới nhiều máy khác nhau hay có thể phân phối lại tuỳ ý.

Điều thuận lợi chính của việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở là chúng được cung cấp miễn phí thay vì phải mua giấy phép như các phần mềm thương mại, tính uyển chuyển cao, có thể truy cập vào mã nguồn của chương trình và khả năng tích hợp tốt hơn vào những kỹ thuật chuẩn.

Một báo cáo của UNU-Merit về sự tác động của các phần mềm mã nguồn mở đối với kinh tế Châu Âu được thực hiện bởi Cộng đồng Châu Âu, kết luận rằng các phần mềm miễn phí và mã nguồn mở cũng như các dịch vụ liên quan có thể đạt tới 32% trong tất cả các dịch vụ IT nói chung và 4% GDP Châu Âu vào năm 2010. Cũng theo báo cáo nói trên, Châu Âu là khu vực đi đầu trong lĩnh vực hợp tác toàn cầu về các dự án phần mềm miễn phí, mã nguồn mở, thư viện miễn phí và theo sau đó là các nước Bắc Mỹ, Châu Á và Châu Mỹ Latin.

Được xây dựng trên các hệ điều hành mã nguồn mở, dựa trên các cơ sở dữ liệu, dịch vụ web và các kỹ thuật phát triển phần mềm, ngày nay chúng ta tìm thấy những hệ thống mã nguồn mở tồn tại vững chắc trong lĩnh vực ứng dụng GIS. Những hệ thống này có thể là những hệ quản trị cơ sở dữ liệu không gian (như POSTGIS), môi trường phân tích dữ liệu (như GRASS), kỹ thuật máy chủ cho web (như MapServer, Geoserver, Deegree), những công cụ cho máy trạm (như MapBuilder, MapBender), những công cụ GIS chuyên nghiệp cho máy desktop thông thường (như gvSIG). Nếu nói về vấn đề tích hợp dữ liệu thì các phần mềm mã nguồn mở có khả năng hỗ trợ mạnh mẽ đối với chuẩn OGC bao gồm cả các dịch vụ web về dữ liệu không gian.

Phần lớn những phần mềm mã nguồn mở về GIS đáp ứng cả nhu cầu của cộng đồng mã nguồn mở lẫn các công ty tư nhân để phát triển, tích hợp, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo. Nhờ vào tính mở của các phần mềm loại này, các công ty loại nhỏ và trung bình có thể dễ dàng cung cấp các giải pháp và dịch vụ của họ sau khi phát triển thêm từ các mã nguồn mở.

GvSIG và một điển hình
http://csgis.de/joomla/images/stories/logo_gvsig.png
Sử dụng hạ tầng dữ liệu không gian nghĩa là phải truy cập vào các geoportal để tìm kiếm, thể hiện và có thể là download dữ liệu từ một dịch vụ trên mạng. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện các dự án, chúng ta thấy rằng những người dùng GIS chuyên nghiệp muốn kết hợp việc truy cập dữ liệu hạ tầng không gian với quy trình làm việc đòi hỏi một máy trạm cấu hình mạnh và một phần mềm GIS cho desktop của họ. Trong tương lai, một số quá trình phân tích có thể được thực hiện từ xa và biên tập dữ liệu vector có thể được thực hiện hiệu quả và đáng tin cậy hơn nhờ vào các dịch vụ web nhưng hiện nay những công việc này đang vẫn được thực hiện bằng các công cụ GIS trên máy desktop, đặc biệt là khi nó có thể tách rời riêng biệt và được hiệu chỉnh để phù hợp với nhu cầu người dùng và được sao chép với số lần nhiều bao nhiêu tuỳ ý mà không cần phải quan tâm tới chi phí phải trả cho giấy phép sử dụng.
http://gvsig.files.wordpress.com/2010/07/testeo_colaborativo.jpg?w=407&h=395
Một ví dụ rất điển hình về các phần mềm GIS mã nguồn mở là gvSIG, một hệ thống phát triển theo dạng từng modul riêng lẻ và hiện nay nó đã có thể đáp ứng nhu cầu cho nhiều người dùng khác nhau. GvSIG đã tích hợp dễ dàng với các hạ tầng dữ liệu không gian bằng cách kết nối tới bản đồ chuẩn, các đối tượng, các tập hợp dữ liệu raster của dịch vụ web xuyên suốt nhiều giao thức khác nhau kể cả dịch vụ thương mại ArcIMS. Nó có thể chồng lớp các dữ liệu từ xa với những dữ liệu của người dùng ở khu vực của họ ở dạng các tập tin riêng lẻ hoặc là các cơ sở dữ liệu không gian như PostGIS hay Oracle. Thêm nữa, nó còn bao gồm một môi trường biên tập giống như các môi trường biên tập CAD, các chức năng xử lý dữ liệu không gian vector và các công cụ phân tích ảnh. Điều này có nghĩa là những phiên bản của gvSIG đã đi ra ngoài khả năng của những phần mềm GIS thương mại ở các phiên bản cơ bản. Chúng ta cũng nhận thấy rằng, người dùng GIS thường rất ngạc nhiên về những tính năng mà gvSIG có được mà không có một tính năng nào bị giới hạn. GvSIG cũng là một hệ thống mà rất nhiều công ty cũng như các viện nghiên cứu đào tạo và phát triển thành những ứng dụng quan trọng cho trường học, quản lý đất đai, hạ tầng cơ sở, rừng và quản lý tài nguyên nước, chăm sóc sức khoẻ, geomarketing…
…và các phần mềm mã nguồn mở từ Châu Âu

Các dự án mã nguồn mở như Deegree, Mapbender hoặc gvSIG được phát triển chủ yếu ở Châu Âu nhưng cũng như nhiều dự án khác, có xu hướng được sử dụng và phát triển từ nhiều nơi trên thế giới. Những chương trình hỗ trợ quốc tế của Châu Âu ngày nay thường hoàn toàn hay đôi khi là rất rõ ràng thu hút người dùng sử dụng các phần mềm mã nguồn mở, cho thấy rằng các phần mềm mã nguồn mở về GIS đã đóng góp nhiều cho các lĩnh vực phát triển:

- Chúng được phân phối dễ dàng hơn vì chúng không cần phải mua và vì chúng có thể được nâng cấp và hiệu chỉnh bởi mọi người.
- Cho phép phân phối lại các công cụ tuỳ ý. Không có một giới hạn nào về số lượng người dùng hay chịu chi phối bởi chi phí mua phần mềm.
- Chi phí kinh tế đầu từ vào GIS được “giải phóng” bởi sự vắng mặt của chi phí bản quyền, có thể được đầu tư vào sự tìm hiểu và thực hiện những công trình lớn về GIS.
- Đem lại một quá trình chuyển giao công nghệ hoàn thiện và hiệu quả hơn bởi vì người dùng và người phát triển có thể thật sự làm công nghệ cho riêng mình và thích nghi với công nghệ đó theo nhu cầu của riêng họ.

Thực tế thì các phần mềm mã nguồn mở GIS đã được sử dụng rất rộng rãi ở các nước phát triển vào các mục đích giáo dục và các dự án phi lợi nhuận, ở các mục đích khác thì cũng nhanh chóng phát triển.

Một câu hỏi thường thấy của người dùng sản phẩm mã nguồn mở là khả năng và chất lượng của các chương trình đào tạo và hỗ trợ.

Hiện có rất nhiều chương trình loại này trong thế giới của những phần mềm mã nguồn mở, những sản phẩm này đã lôi cuốn người dùng và cộng đồng những người phát triển phần mềm những người mà họ có thể hỗ trợ miễn phí, nhanh chóng và dễ thuyết phục hơn. Không những thế, các phần mềm này còn lôi cuốn một mạng lưới những công ty phát triển phần mềm những người sẽ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và các chương trình đào tạo chất lượng cao như những sản phẩm thương mại. Các phần mềm mã nguồn mở không còn là các dự án trong các trường đại học. Nó đã rõ ràng trở thành một lĩnh vực kinh doanh thực sự.

Rò ràng, qua những phân tích trên chúng ta có thể tin tưởng rằng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, các phần mềm mã nguồn mở về GIS ngày nay là sự thay thế cho các phần mềm thương mại. Nó cũng có thể tích hợp thành công với các hệ thống thương mại hiện có. Giống như mọi phần mềm khác, các tính năng của nó, chi phí lợi nhuận của đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật phải được xem trọng khi quyết định thích nghi với chúng.
_____________________
Tác giả: Mr. Phương

Giới thiệu hệ quản trị CSDL PostgreSQL

 http://mrhien.info/wp-content/uploads/postgresql-object-rdms-logo.gif
PostgreSQL là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ và đối tượng dựa trên POSTGRES, bản 4.2, được khoa điện toán của đại học California tại Berkeley phát triển. POSTGRES mở đường cho nhiều khái niệm quan trọng mà các hệ quản trị dữ liệu thương mại rất lâu sau mới có. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính PostgreSQL đang phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trên thế giới và là đối thủ cạnh tranh với hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính PostgreSQL. Đặc biệt trong lĩnh vực GIS thì hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính PostgreSQL có lợi thế hơn hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính MySQL vì nó có khả năng tích hợp với hệ quản trị cơ sở dữ liệu bản đồ PostGIS.
http://www.datanamic.com/images/dez_ss_mainwindow400x318.jpg
PostgreSQL là một chương trình mã nguồn mở xây dựng theo chuẩn SQL99 và có nhiều đặc điểm hiện đại:
·         Câu truy vấn phức hợp (complex query)
·         Khóa ngoại (foreign key)
·         Thủ tục sự kiện (trigger)
·         Các khung nhìn (view)
·         Tính toàn vẹn của các giao dịch (integrity transactions)
·         Việc kiểm tra truy cập đồng thời đa phiên bản (multiversion concurrency control)
Hơn nữa, PostgreSQL có thể dùng trong nhiều trường hợp khác, chẳng hạn như tạo ra các khả năng mới như:
·         Kiểu dữ liệu
·         Hàm
·         Toán tử
·         Hàm tập hợp
·         Phương pháp liệt kê
·         Ngôn ngữ theo thủ tục
PostgreSQL được phổ biến bằng giấy phép BSD cổ điển. Nó không quy định những hạn chế trong việc sử dụng mã nguồn của phần mềm. Bởi vậy PostgreSQL có thể được dùng, sửa đổi và phổ biến bởi bất kỳ ai cho bất kỳ mục đích nào.
Cơ sở dữ liệu Postgresql là một dạng cơ sở dữ liệu quan hệ. Nó rất mạnh về lưu trữ theo dạng bảng quan hệ, một điều khá thú vị nữa là nó chạy trên nền hệ điều hành linux và miễn phí, chạy rất ổn định và không thua kém những cơ sở dữ liệu thương mại, Nếu bạn lập trình mạng thì lựa chọn cơ sở dữ liệu Postgresql là khuyên dùng.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL có đầy đủ tính năng của một cơ sở dữ liệu quan hệ như sử dụng các câu truy vấn SQL, các bảng quan hệ, các khóa,…và đặc biệt ở đây là tốc độ của Postgresql là rất cao và cho phép nhiều người truy cập cùng một lúc, nó thích ứng cho bạn xây dựng những ứng dụng trên mạng Internet.
Từ những lí do nêu trên  tôi khuyến cáo nên sử dụng PostgreSQL. Qua bài viết tôi mong muốn cung cấp cái nhìn tổng thể tới hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL và cái nhìn tương quan với hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL nhằm lựa chọn hệ quản trị cơ sở dữ liệu thuộc tính thích hợp nhất cho hệ thống GIS-Viễn Thám.
Software download