DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Không nên bí mật những bản đồ không còn là bí mật!

Ảnh minh họa
Những tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn mua bản đồ Việt Nam sẽ phải làm công văn, trong đó trình bày rõ, muốn mua bản đồ với mục đích gì, tỷ lệ cụ thể là bao nhiêu, khu vực cụ thể muốn mua là khu vực nào… Công văn đó sẽ phải qua rất nhiều cơ quan nhà nước liên quan duyệt: mục đích đó có chấp nhận được không, khu vực đó có phải vùng cấm không... LTS: Thông tin Việt Nam sắp có website chính thống về bản đồ trực tuyến đang được các nhà nghiên cứu địa lý, bản đồ và các nhà khoa học về Trái đất của Việt Nam hết sức quan tâm. Họ cho rằng cần thiết có một trang web riêng, chính thức của Nhà nước để công bố, cung cấp bản đồ với tỷ lệ thích hợp và tăng cường hợp tác trao đổi thông tin bản đồ với các tổ chức địa lý trên thế giới.

Tìm bản đồ trực tuyến Việt Nam ở đâu?

Hiện nay, quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa nước ta với các nước trên thế giới ngày càng mở rộng. Trong những lĩnh vực hợp tác phát triển, nhiều lĩnh vực có nhu cầu sử dụng bản đồ, bao gồm cả bản đồ địa hình Topo, các bản đồ chuyên đề và tập bản đồ của Việt Nam.

Song, hiện nay, theo thống kê,  trang web của Chính phủ có chuyên mục Bản đồ hành chính Việt Nam cung cấp các thông tin về hệ thống đơn vị hành chính của Việt Nam và ranh giới Quốc gia.  Bản đồ có dạng đa tỷ lệ, khi được phóng to nhất có tỷ lệ  khoảng 1/400.000.
Trên trang web của “Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” có tích hợp chuyên mục “Ranh giới lãnh thổ” của “Ủy ban Biên giới Quốc gia - Bộ Ngoại giao”. Chuyên mục này cũng công bố  bản đồ Hành chính Việt Nam với những thông tin cơ bản về hệ thống đơn vị hành chính, về ranh giới lãnh thổ Việt Nam.

Mục bản đồ trực tuyến (ô vuông đỏ) trong trang web của Bộ Tài nguyên Môi trường.
Mục bản đồ trực tuyến (ô vuông đỏ) trong trang web của Bộ Tài nguyên Môi trường.

Một số trang web khác cũng có chuyên mục bản đồ trực tuyến, ví dụ: trang web “Trung tâm GIS ứng dụng mới”, trang web của Bộ Tài nguyên và Môi trường có chuyên mục “Online Map”, website ”Hệ thống báo cáo thông tin xây dựng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” (của Bộ Giáo dục và Đào tạo) cũng công bố những thông tin cơ bản về hệ thống các đơn vị hành chính của Việt Nam.

Những địa chỉ này chỉ đáp ứng các nhu cầu tìm hiểu hệ thống các đơn vị hành chính và ranh giới lãnh thổ một cách khái quát (tỷ lệ nhỏ). Những bản đồ chi tiết phục vụ cho công tác điều tra, nghiên cứu, quản lý và quy hoạch thì chưa có trang web “Bản đồ trực tuyến” nào đáp ứng. Rất nhiều thể loại bản đồ cần thiết cho các công việc nghiên cứu, quy hoạch, quản lý thi không có địa chỉ chính thức cung cấp trực tuyến, nhất là những tư liệu bản đồ phổ biến ở những tỷ lệ trung bình và lớn.

Ngặt nghèo để có được tấm bản đồ giấy

Do không thể có bản đồ số để sử dụng cho các công trình, các dự án hay đề tài nghiên cứu, người dùng bản đồ thường phải thu thập bản đồ số từ những nguồn không chính thức, do đó chất lượng không bảo đảm, không thống nhất và thiếu chính xác. Trong nhiều trường hợp, người dùng phải tự tạo ra bản đồ số bằng cách số hóa các ảnh quét của bản đồ địa hình. Như thế vừa không bảo đảm tính thống nhất, chính xác, gây khó khăn cho trao đổi sử dụng tư liệu thành quả của các dự án.

Một cách làm khác là tìm kiếm theo con đường truyền thống - đến Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, hoặc liên hệ trực tiếp với Trung tâm Tư liệu đo đạc và bản đồ với đầy đủ các thủ tục được nhiều người đánh giá là khá ngặt nghèo, được giới thiệu tại trang web của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam.


Ví dụ: Khi triển khai dự án Hợp tác quốc tế nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến môi trường sinh thái nông nghiệp vùng ven biển miền Trung Việt Nam, cơ quan chủ trì thực hiện dự án cũng đã phải mua bản đồ với tất cả những thủ tục khá ngặt nghèo. Được biết, trong quá trình nghiên cứu tai địa phương, các tỉnh cũng cung cấp cho dự án các loại bản đồ số. Tuy nhiên mức độ thống nhất không cao, nên trong quá trình sử dụng, những người nghiên cứu phải xử lý khá mất công sức và thời gian.

Theo quy định hiện nay, những tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn mua bản đồ Việt Nam sẽ phải làm công văn, trong đó trình bày rõ, muốn mua bản đồ với mục đích gì, tỷ lệ cụ thể là bao nhiêu, khu vực cụ thể muốn mua là khu vực nào… Công văn đó sẽ phải qua rất nhiều cơ quan nhà nước liên quan duyệt: mục đích đó có chấp nhận được không, khu vực đó có phải vùng cấm không…

Người nước ngoài muốn sử dụng bản đồ Việt Nam thông thường chỉ có thể mua được các loại bản đồ du lịch hay bản đồ giáo khoa tỷ lệ nhỏ, mức độ khái quát cao, thông tin chậm cập nhật.

Không nên bí mật những bản đồ không còn là bí mật!

Theo PGS. TS Nguyễn Trần Cầu, nguyên Viện phó Viện Địa lý, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam, chúng ta thường căn cứ chủ yếu vào tỷ lệ bản đồ địa hình để phân loại mức độ bảo mật và đề ra những nguyên tắc, quy định, thủ tục cung cấp và sử dụng bản đồ. Những quy định và nguyên tắc đó ít nhiều vẫn còn vận dụng  đến ngày nay. Việc bảo mật tài liệu, thông tin bản đồ là rất cần thiết và vào thời nào cũng cần có những quy định cụ thể, chặt chẽ đối với cung cấp và sử dụng bản đồ.

Tuy nhiên, hiện nay những tư liệu bản đồ trực tuyến tỷ lệ lớn và rất lớn đã được công bố trên mạng toàn cầu. Có thể tìm thấy từng ngôi nhà, từng ngọn cây trên đường phố, như trên trang WEB “Google Map”, cũng có thể tìm thấy và nhìn rõ tòa nhà Đại sứ Việt Nam ở Mỹ có hình gì, ở phố nào. Vì thế nếu công bố bản đồ địa hình ở các tỷ lệ khác nhau với tư cách những bản đồ địa lý một cách chính thức là biện pháp tốt nhất để giảm bớt những sai sót. Hơn nữa công nghệ thông tin ngày nay cho phép các cơ quan cung cấp bản đồ quản lý khá chặt chẽ lượng thông tin, số lượng bản đồ, thể loại bản đồ đã cung cấp và quản lý khách hàng một cách chặt chẽ và hệ thống. 
   
Google map - bản đồ dạng ảnh vệ tinh - vùng Hà Nội: Giữa ảnh là Nhà hát lớn Hà nội - Nhìn rõ tòa nhà và các ôtô đỗ ở phía trước
Google Map - bản đồ dạng ảnh vệ tinh - vùng Hà Nội: Giữa ảnh là Nhà hát lớn Hà Nội - Nhìn rõ tòa nhà và các ôtô đỗ ở phía trước

Bí mật thông tin bản đồ không còn là các yếu tố hình dạng cấu trúc của địa hình, cấu trúc của lớp vỏ Trái Đất… Quan trọng là mục đích, phương thức sử dụng lãnh thổ như thế nào, để làm gì. Tất nhiên, những thông tin đó sẽ không thể hiện trên những  bản đồ công bố trên trang bản đồ trực tuyến..

Được biết, Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam có xí nghiệp số hóa bản đồ địa hình và những đơn vị sản xuất bản đồ, hiện đã sản xuất bản đồ số với nhiều tỷ lệ khác nhau: 1/100.000, 1/50.000. 1/25.000 và 1/10.000. Nhưng loại  bản đồ này đã  phủ trùm toàn quốc là điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp trực tuyện các bản đồ chuẩn, giúp cho người sử dụng bản đồ không phải tìm kiếm khó khăn, không phải sử dụng những bản đồ không chuẩn xác, bảo đảm độ tin cậy và độ chính xác khoa học của các kết quả nghiên cứu. Đối ngoại thì những tư liệu chính thống này được công bố, sẽ là cơ sở để chúng ta đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, hải phận và không phận của nước nhà.

Với trình độ hiện nay của ngành bản đồ Việt Nam, có thể công bố cả các dạng bản đồ đa phương tiện (Multimedia). Ngoài những thông tin bản đồ cơ bản, dạng bản đồ này còn cho phép đưa những tư liệu, ảnh và các video clip giải thích về địa danh, những chứng minh lịch sử khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước ta.

Đấu tranh bằng ngoại giao để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nước nhà là rất cần thiết. Song các nước trên thế giới đã tận dụng các trang bản đồ trực tuyến để kinh doanh và để truyền bá quan điểm của họ về chủ quyền lãnh thổ thì Việt Nam cũng cần công bố bản đồ trực tuyến ở những tỷ lệ thích hợp, để người dân và các tổ chức quốc tế, các quốc gia có thể dễ dàng tiếp cận với quan điểm chính thống của Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ của mình một cách cụ thể trên bản đồ...
bee.net.vn

Thiết bị GPS - Công nghệ giám sát tốc độ, đảm bảo an toàn chạy tàu

Ảnh minh họa
Tốc độ tàu hỏa trên Đường sắt Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào việc vận hành, điều khiển của lái tàu. Việc tăng, giảm tốc độ của đầu máy (ĐM) cũng đồng nghĩa với việc tăng, giảm tốc độ của đoàn tàu. 
Với đoàn tàu có tổng trọng tới hàng ngàn tấn như hiện nay, động năng của đoàn tàu rất lớn, nếu không xử lý tốt, tốc độ đoàn tàu rất dễ ở ngoài tầm kiểm soát của lái tàu và rất có thể sẽ xảy ra tai nạn.
Để quản lý tốt tốc độ đoàn tàu, khi điều khiển ĐM, lái tàu phải nắm vững và thực hiện nghiêm Công lệnh tốc độ (CLTĐ) và Biểu đồ chạy tàu (BĐCT). Hiện nay, trên ĐM mới lắp thiết bị chống lái tàu ngủ quên, còn khi lái tàu khiển ĐM chạy quá tốc độ quy định trong CLTĐ thì chưa có thiết bị nào giám sát, cảnh báo, xử lý...

Đường sắt Việt Nam hiện đang quản lý, khai thác trên 300 ĐM, gồm 12 chủng loại, cũng còn một số loại ĐM như D4H, D5H, D10H... chưa được trang bị đồng hồ tốc độ có khả năng ghi băng (hộp đen); còn việc ghi lại các dữ liệu và giám sát hành trình đoàn tàu bằng công nghệ định vị vệ tinh GPS thì chưa có.


Sử dụng công nghệ GPS để theo dõi, giám sát tốc độ tàu hỏa

Thiết bị hỗ trợ giám sát tốc độ và khống chế khi đoàn tàu vượt tốc (thiết bị GPS) được lắp trong ca-bin ĐM tại vị trí lái tàu dễ quan sát và nghe rõ tín hiệu cảnh báo. Các thông số, lý trình hiện tại của đoàn tàu (km, m), tốc độ đoàn tàu theo quy định của CLTĐ, tốc độ tức thời (hiện tại), tốc độ sắp tới (theo quy định của CLTĐ), khoảng cách đến đoạn đường phía trước có thay đổi tốc độ, ga (trạm) gần nhất đều đồng thời hiển thị trên dãy đèn led và trên màn hình LCD của thiết bị GPS. Ngoài ra là các thông tin: mác tàu (ký hiệu), thời gian đến ga, ký hiệu ga dừng tàu hay thông qua theo BĐCT; thời gian dự kiến nhanh hoặc chậm so với BĐCT. Đồng hồ thời gian thực: giờ, phút, giây (hh:mm:ss) luôn đồng bộ với giờ chuẩn (giờ GMT) và được hiển thị 1 giây/lần.
Chức năng cảnh báo, xử lý lái tàu được thể hiện bằng đèn, loa và có khả năng đóng mở các rơ-le tải ngoài bất kỳ. Khi vận tốc tức thời (tốc độ hiện tại) < 98% tốc độ quy định trong CLTĐ, đèn vàng và đèn đỏ tắt, màn hình LCD trắng, kim chỉ tốc độ nằm dưới đèn vàng. Khi vận tốc tức thời bằng 98% vận tốc quy định, đèn vàng nhấp nháy. Khi vận tốc tức thời > 98% vận tốc quy định trong CLTĐ, cảnh báo bằng đèn đỏ, chuông reo. Khi vận tốc tức thời > 100% tốc độ quy định trong CLTĐ, đèn đỏ sẽ cảnh báo, chuông reo, quá 15 giây mà tốc độ không trở về tốc độ quy định, thiết bị sẽ tự động hãm tàu. Ngoài ra, thiết bị có chức năng tự động tính toán thời gian tới ga kế tiếp, dự báo thời gian bị chậm (nếu có) để lái tàu có biện pháp "gỡ chậm", đảm bảo thực hiện đúng BĐCT.
Thiết bị GPS còn có các tính năng khác như: Thiết bị đầu trục (được lắp vào trong đầu trục bánh xe) để lấy tín hiệu ĐM khi tàu chạy trong hầm, cầu sắt hình hộp... Thiết bị đầu trục sẽ tự động thay thế thiết bị GPS trong các địa hình mà vệ tinh không đảm bảo báo độ chính xác; tự động hiệu chỉnh sai số vòng bánh xe theo tín hiệu GPS khi số lượng vệ tinh đảm bảo độ chính xác. Ngoài ra, thiết bị GPS nạp được số hiệu ĐM, số tàu. Có đèn báo khi thiết bị hỏng, card đầy. Ghi được áp suất ống hãm đoàn xe. Trang bị bảng hiển thị phụ cho buồng lái thứ 2 của ĐM có tác dụng lặp lại các hiển thị tại buồng lái chính, kết nối với đồng hồ ghi băng mà không cần trang bị máy tính và lưu trữ dữ liệu. Có khả năng kết nối được với thiết bị thông tin liên lạc giữa trưởng tàu với lái tàu. Lưu lại tất cả các thông số lý trình, thời gian, vận tốc, áp lực ống gió đoàn xe, các lỗi vi phạm. Cung cấp các bằng chứng pháp lý khi có sự cố, tai nạn, khi lái tàu vi phạm CLTĐ... Xử lý số liệu sau một hành trình bằng phần mềm, vẽ biểu đồ tốc độ, biểu đồ áp lực ống gió của đoàn xe theo thời gian và lý trình đoàn tàu.

Bản đồ số và phần mềm hỗ trợ lái tàu thực hiện đúng CLTĐ

Bản đồ số phù hợp với CLTĐ trên toàn mạng Đường sắt Việt Nam có độ chính xác cao (sai số 1 điểm chuyển đổi tốc độ < 20 mét), có chức năng mở để cập nhật thông tin khi CLTĐ thay đổi, nạp sẵn cho các thiết bị và mô-đun thiết lập công lệnh số, bản đồ số, các thông tin về tuyến đường, giới hạn tốc độ, mác tàu, ga, hành trình... Bản đồ số bao gồm các tọa độ, cụ thể: cột tín hiệu vào ga, tâm phòng trực ban, ghi yết hầu ra ga, đường chính và đường trong khu gian liên tục với tọa độ cách nhau 25 mét trên ray. Các hầm và tọa độ vào, ra hầm. Các cầu, cống trong CLTĐ, các đường cong trên tuyến có trong CLTĐ. Các điểm thay đổi tốc độ được ghi trong CLTĐ; các đường ngang có cảnh báo tự động trở lên, các ghi trung gian và ngoài ga và các khu vực có đá lở, sụt trượt, lũ quét (tọa độ 2 đầu khu vực có nguy hiểm). Khả năng bắt sóng vệ tinh GPS tại mỗi địa hình sai số không quá 25 mét. Ngoài ra, thiết bị định vị GPS còn có cơ chế chuyển đổi tọa độ kinh tuyến, vĩ tuyến toàn cầu (lat-long) sang tọa độ tuyến lý trình hiện tại đang được sử dụng trên Đường sắt Việt Nam. Có khả năng sửa đổi, viết tên lý trình, tọa độ GPS.

Giám sát tốc độ hiệu quả, đúng Luật ĐS

Cuối năm 2009, Liên hiệp Sức kéo ĐS đã thành lập tổ theo dõi đánh giá hoạt động của bộ đồng hồ tốc độ ghi băng bằng công nghệ GPS. Sau quá trình kiểm tra toàn bộ 33 bộ đồng hồ tốc độ lắp trên các ĐM của Xí nghiệp Đầu máy Yên Viên, Hà Nội; kết quả cho thấy các thiết bị GPS hoạt động ổn định, chính xác; giúp lái tàu giám sát, quản lý được tốc độ ĐM, tốc độ đoàn tàu theo CLTĐ, đảm bảo không bị lái tàu vượt tốc độ quy định. Dự báo được thời gian chậm giờ để ban lái máy có biện pháp "gỡ chậm"... Thiết bị GPS hoạt động được trong môi trường nhiệt độ từ 0oC tới 50oC, độ ẩm 15% đến 95%, chịu được tác nhân môi trường như rung động, thay đổi khí hậu, các xung nhiễu... Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng, bộ thiết bị GPS cũng đã phát sinh một số hư hỏng như hỏng sensor áp lực, bộ nguồn, tín hiệu có lúc bị chập chờn khi tàu qua hầm, núi... Những sự cố này đang được Liên hiệp Sức kéo ĐS phối hợp với nhà sản xuất, phân phối khẩn trương tìm nguyên nhân khắc phục.
Tiếp tục triển khai chỉ thị của Đường sắt Việt Nam về việc trang bị bộ đồng hồ tốc độ ghi băng bằng công nghệ GPS, đến tháng 12-2010, Liên hiệp Sức kéo ĐS đã phân bổ 67 bộ thiết bị GPS cho các Xí nghiệp ĐM (Yên Viên 55 bộ, Hà Nội 6 bộ, Vinh 6 bộ) để lắp trên các ĐM vận dụng kéo tàu khách, tàu hàng. Các bộ đồng hồ tốc độ ghi băng bằng công nghệ GPS hiện đang khai thác ổn định, hiệu quả. Việc Đường sắt Việt Nam đầu tư, trang bị bộ đồng hồ tốc độ ghi băng bằng công nghệ GPS đã thể hiện sự chấp hành nghiêm Luật ĐS; cảnh báo, ngăn chặn, hạn chế được việc lái tàu vi phạm vượt tốc độ, đảm bảo an toàn chạy tàu.


                                                                                                                             Nguồn: khcn.mt.gov.vn

Gò Vấp “GIS hóa” quản lý nhà đất

 
Trong các nội dung quản lý của chính quyền hiện nay, có lẽ việc quản lý nhà đất là có nhiều tiêu cực, khó khăn, bất cập nhất. Hơn 80% vụ việc khiếu kiện hiện nay là xung quanh tranh chấp về nhà đất. Có nhiều nguyên nhân gây nên như: phẩm chất của công chức; luật pháp chồng chéo không rõ ràng; phương pháp, biện pháp, phương tiện quản lý còn thủ công lạc hậu.
Sự biến động về đất đai tác động trực tiếp đến quyền lợi người dân là căn nhà (thửa đất) nên nếu nắm được thông tin đầy đủ, chính xác từng diện tích cụ thể, có thể đưa ra các quyết định đúng đắn nhất. Từ hộ gia đình có thể đi sâu tìm hiểu nghề nghiệp việc làm của các thành viên, tính chất riêng và mối liên quan của mỗi gia đình, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo, giải quyết việc làm, thực hiện các chính sách...
Từ căn nhà sẽ có các thông tin cần trong xây dựng quy hoạch phát triển các yêu cầu kỹ thuật khác; nắm được các đặc tính riêng, các quy chuẩn về xây dựng phát triển trong từng địa bàn; nắm được các đặc tính riêng, các quy chuẩn về xây dựng phát triển trong từng địa bàn, trong từng khu vực, đảm bảo các yêu cầu về phát triển cả về hạ tầng cơ sở kỹ thuật lẫn các kết cấu không gian phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị.
“GIS hóa”
GIS (Geographic Information System - Hệ thống thông tin (HTTT) địa lý) là lựa chọn công nghệ của Gò Vấp vì các đối tượng quản lý phân bổ trong không gian vật lý trên địa bàn quận nên phương pháp quản lý bằng GIS là tốt nhất. Việc chọn đối tượng hộ gia đình trên từng căn nhà là chủ thể quản lý của HTTT quản lý Nhà nước (QLNN) trên địa bàn đã tạo những nền tảng cơ bản để phát triển khả năng tích hợp thông tin nhiều chiều trong QLNN của Quận (quy hoạch, xây dựng, phát triển kinh tế, giáo dục, an ninh quốc phòng).
GIS là một HTTT tích hợp trên nền quản lý thông tin chặt chẽ. Vì đầu vào của hệ thống này là thông tin rất đặc thù, phải chính xác, đầy đủ và kịp thời. Lượng thông tin đầu vào càng lớn thì càng khó thỏa mãn các tiêu chuẩn đó. Quận Gò Vấp chia quá trình xây dựng và phát triển này thành 3 giai đoạn: Giai đoạn xây dựng nền, giai đoạn mở rộng và giai đoạn phát triển.
- Giai đoạn 1: xây dựng hạ tầng kỹ thuật cơ bản; xây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL) cơ bản (CSDL dân cư theo hộ gia đình và CSDL căn nhà trên không gian vật lý của Quận) và hình thành nhóm cán bộ tin học hạt nhân nòng cốt.
- Giai đoạn 2: mở rộng miền ứng dụng của hệ thống ban đầu theo hướng lan tỏa dần; phát triển đội ngũ cán bộ sử dụng, làm chủ các phương tiện mới và trang bị thêm thiết bị ở những khâu cần thiết.
- Giai đoạn 3: phát triển, tích hợp nhiều ứng dụng trên các lĩnh dụng khác nhau vào 1 hệ thống chung thống nhất; xây dựng mạng thông tin cấp quận và phát triển hệ thống các ứng dụng toàn diện trên hạ tầng kỹ thuật chung này.
UBND Quận đã cấp hơn 53.000 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất với sai sót thấp hơn rất nhiều so với làm thủ công trước đấy ( làm thủ công như trước đây thì cùng thời gian này.Quận chỉ cấp được khoảng 4.000 giấy chủ quyền, sai sót lại nhiều, dẫn đến kiện cáo, tranh chấp).
Khi bắt tay xử lý thông tin từng căn nhà mới thấy hết sự phức tạp của bài toán: nguồn gốc căn nhà, lịch sử mua bán (toàn bộ hay một phần), trạng thái ngôi nhà, hạ tầng ở khu vực (điện, nước, viễn thông...), diện giải tỏa - quy hoạch, thông tin về chủ hộ và những người trong hộ sống trong căn nhà... Rất nhiều thông tin không chuẩn, cũ, nhiều văn bản chồng chéo... Việc đầu tiên là phải tập hợp, chuẩn hóa, hệ thống hóa lại toàn bộ dữ liệu liên quan để chuẩn bị cho việc xây dựng hệ thống các CSDL về các đối tượng quản lý.
Để ứng dụng GIS hiệu quả, Gò Vấp đã nghiên cứu, lựa chọn các chuẩn và giải pháp, tiếp thu những tư vấn, gợi ý của các chuyên gia ở Sở KHCN TP.HCM. Gò Vấp đã chọn Hệ tọa độ VN 2000 (là chuẩn quốc gia) cho phát triển các lớp bản đồ số; Chọn giải pháp của hãng ESRI làm chuẩn công nghệ vì có trên 70% số người sử dụng GIS trên thế giới đang dùng cấu trúc dữ liệu ESRI; Sử dụng các bản đồ kỹ thuật số do Sở Địa chính phát hành thống nhất trên địa bàn TP.HCM. Cuối cùng Gò Vấp đã chọn hệ quản trị CSDL SQL làm chuẩn dữ liệu để phát triển các cơ sở dữ liệu của mình.
Gò Vấp phát triển ứng dụng hệ thống hỗ trợ quy trình cấp giấy chứng nhận nhà ở và đất ở bằng Visual Basic. Việc quản lý từ khâu tiếp nhận, thụ lý, luân chuyển hồ sơ cho đến in giấy chứng nhận tự động bằng máy đã thúc đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận nhà ở, đất ở theo kế hoạch của thành phố. Gò Vấp đã thiết lập GIS mang tên GOVAGIS bằng phần mềm Arc-view, thực hiện hoàn chỉnh việc cập nhật dữ liệu với hệ thống bản đồ số có đầy đủ các thông tin về nhà đất, cầu đường, các hẻm, các thông tin về lộ giới, quy hoạch, các cơ sở kinh tế xã hội, dân cư...
GOVAGIS đã giúp quản lý quy hoạch và cấp số nhà (họ và tên chủ hộ, số nhà cũ, số nhà mới, khu phố, số tờ địa chính, số thửa địa chính, diện tích khuôn viên, diện tích phạm quy hoạch, loại đất...). Chương trình cũng giúp: Cập nhật bản đồ (thêm thửa, tách thửa, ghép thửa, cập nhật diện tích khuôn viên); Tìm kiếm (số nhà, số tờ, số thửa, số nhà cũ, tên chủ hộ); Thống kê (diện tích, số hộ, doanh nghiệp, trường học, chùa, nhà thờ... đã được cấp giấy chứng nhận nhà đất, cấp phép xây dựng); Biểu đồ (diện tích, số hộ phạm quy hoạch)...
Kết quả
Được đưa vào phục vụ từ năm 2003, vừa phát triển vừa khai thác, mở rộng, GOVAGIS đã giúp Gò Vấp quản lý tốt diện tích đất công, đất dân cư, các thông tin địa lý gắn liền với thửa đất hiệu quả và kịp thời... Hiệu quả làm việc tăng rõ: Từ xét duyệt hồ sơ đến in giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất là hàng loạt tác vụ có so sánh đối chiếu được tin học hóa... Bằng hệ thống này, từ đầu năm 2003 đến nay, UBND Quận đã cấp hơn 53.000 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất với sai sót thấp hơn rất nhiều so với làm thủ công trước đấy (làm thủ công như trước đây thì cùng thời gian này, Quận chỉ cấp được khoảng 4.000 giấy chủ quyền, sai sót lại nhiều, dẫn đến kiện cáo, tranh chấp).
Khi cần mở đường, giải phóng mặt bằng, Gò Vấp nhờ áp dụng lưới chuẩn quốc gia và hệ thống GIS nên tính toán nhanh chóng, chính xác diện tích cần giải tỏa, số tiền cần đền bù.Tiến độ công việc triển khai nhanh.
Ngoài ứng dụng GIS vào quản lý nhà đất, UBND quận Gò Vấp còn chú trọng việc chuẩn hóa, hệ thống hóa và mã hóa toàn bộ kho lưu trữ hồ sơ công việc của UBND Quận từ trước đến nay. UBND Quận đã hợp đồng với cơ quan chuyên môn hệ thống hóa lại toàn bộ kho tài liệu lưu trữ theo các tiêu thức chuyên ngành lưu trữ (thời gian, lĩnh vực...) và nhập liệu cuốn chiếu theo thời gian từ gần đến xa (Tài liệu hồ sơ từ năm 1975 đến nay. Riêng hồ sơ hộ tịch đã mã hóa tài liệu từ năm 1954 đến nay). Khi tích hợp được “kho lưu trữ số hóa” này với hệ thống CSDL trên nền GIS đã xây dựng và đang sử dụng, Gò Vấp sở hữu một kết cấu hạ tầng thông tin xã hội phong phú và đầy đủ.
UBND quận Gò Vấp đang hướng đến phát triển “mạng thông tin quản lý nhà nước” toàn quận: Tổ chức điều tra xã hội học chi tiết đến từng hộ gia đình (bảng điều tra gồm 49 câu hỏi về toàn bộ các khía cạnh quản lý nhà nước yêu cầu), từ đó cập nhật chi tiết cho từng nhóm thông tin thành phần từ cấp phường lên cấp quận (khai sinh, khai tử, kết hôn, nghĩa vụ quân sự, xin sửa nhà, bán nhà...). Mục tiêu phấn đấu trong tương lai mọi hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn quận đều diễn ra trên mạng thông tin của quận, người dân đối thoại với cơ quan nhà nước, kiểm tra và tham gia với chính quyền qua HTTT ngày càng hoàn thiện này.
Diệp Văn Sơn

GIS quản lý hệ thống BTS

TP.HCM đang triển khai hệ thống thông tin (HTTT) quản lý hạ tầng viễn thông (VT) trên nền GIS và đã hoàn thành hệ thống quản lý các trạm thu phát sóng (BTS). Ông Bùi Việt Dương, Phó phòng BCVT, Sở TTTT TP.HCM cho biết Sở sẽ chuyển giao việc quản lý BTS cho các quận, huyện theo phân cấp.
Từ công việc…
TP.HCM hiện có khoảng 15 triệu thuê bao điện thoại di động (hơn 10% so với toàn quốc, khoảng 130 triệu thuê bao di động). Hệ thống các trạm thu phát sóng ở TP.HCM dày và gia tăng theo đà tăng của số thuê bao. Cả nước hiện có khoảng 45.000 trạm BTS, TP.HCM có trên 4.600 trạm, chiếm hơn 10% trong khi diện tích tự nhiên của TP.HCM chưa được 1% so với cả nước. Trước đây, hệ thống thông tin di động chỉ dùng công nghệ 2G, nay, có thêm 3G, tương lai, TP.HCM càng cần nhiều trạm BTS hơn. Từ đây, xuất hiện nhu cầu quản lý sao cho các nhà mạng có thể sử dụng chung hạ tầng cũng như tối ưu số trạm BTS trên địa bàn.
Để triển khai 1 trạm BTS, nhà mạng thường có 2 cách: xây dựng tháp cột như một công trình độc lập (loại 1) và gá lắp trên công trình sẵn có (loại 2), phổ biến hơn cả là làm các trạm ngay trên nóc những ngôi nhà kiên cố trong dân. Việc xây lắp các trạm BTS vốn là các công trình không kiên cố thường gặp trở ngại do vướng quy định quy hoạch đô thị và hay bị người dân khiếu kiện. Sở TTTT TP.HCM là đơn vị xem xét chấp thuận địa điểm lắp đặt trạm BTS phù hợp với sự phát triển hạ tầng VT. Việc cấp phép xây dựng trạm BTS do cơ quan quản lý đô thị tại các quận, huyện thực hiện sau khi xem xét sự phù hợp với quy hoạch kiến trúc của TP.HCM. Khi chấp thuận địa điểm lắp đặt BTS, Sở TTTT TP.HCM yêu cầu các doanh nghiệp (DN) cam kết chia sẻ và cho các đơn vị khác dùng chung hệ thống cột anten nếu điều kiện cho phép (cùng hệ thống cung cấp điện, đường truyền dẫn, độ cao trụ anten...).
“Giải pháp quản lý các trạm BTS và HTTT QLHTVT nói chung như của TP.HCM có thể áp dụng ở các tỉnh thành khác, chỉ cần các địa phương cũng có hệ thống nền GIS hoàn chỉnh để triển khai”, ông Bùi Việt Dương.
“Các trạm BTS 3G (node B) có đặc tính thông minh và uyển chuyển hơn các trạm 2G nên có thể tự điều chỉnh vùng phủ sóng và tốc độ truy cập của thuê bao tùy thuộc vào số lượng thuê bao và nhu cầu sử dụng trong thời gian thực. Do vậy, hiện nay, khi số lượng người sử dụng 3G và nhu cầu truyền tải dữ liệu chưa bùng nổ, các nhà mạng thường tận dụng các trạm BTS hiện hữu để lắp đặt thêm thiết bị và anten cho dịch vụ 3G. Tại TP.HCM, nhiều trạm BTS đã xuất hiện thêm 2 hoặc 3 tầng anten để cung cấp đồng thời dịch vụ 2G và 3G. Tuy nhiên sau này, khi số người sử dụng 3G tăng lên, các nhà mạng sẽ có nhu cầu lắp đặt thêm nhiều trạm BTS 3G mới để phục vụ nhu cầu người sử dụng”, ông Dương cho biết.
Việc cấp phép xây dựng BTS do cơ quan quản lý đô thị thực hiện và xem xét cấp phép cho từng trạm riêng lẻ. Tuy nhiên, do đặc tính là công trình tạm, lắp ghép tháo dỡ nhanh chóng cũng như có thiết kế thống nhất nên Sở TTTT đang kiến nghị UBND TP.HCM xem xét và chỉ đạo các cơ quan liên quan triển khai cấp phép 1 lần nhiều trạm để hỗ trợ DN triển khai hạ tầng nhanh và thuận tiện hơn cho công tác QLNN. Ví dụ, có thể cấp phép cả gói nhiều trạm BTS theo kế hoạch của các nhà mạng trong cả năm. Căn cứ vào đặc tính và tối ưu hóa mạng lưới, các nhà mạng có thể dự tính trước số trạm BTS cần xây lắp cũng như vị trí tương ứng theo tọa độ GPS. Căn cứ vào thông tin này, cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) sẽ xem xét, yêu cầu các nhà mạng sử dụng chung vị trí, cột anten để lắp đặt các trạm BTS có vị trí gần nhau.
... Đến công cụ
Trong QLNN hệ thống BTS ở TP.HCM, việc hướng dẫn các DN sử dụng chung hạ tầng được thực hiện trong khi chưa có quy định bắt buộc về việc này, còn các nhà mạng thì lo giữ hạ tầng cho riêng mình… Trên cơ sở dữ liệu nền tích hợp HTTT địa lý (GIS) đã được TP.HCM triển khai rộng khắp các quận, huyện, Phòng Bưu chính - VT đã phát triển lớp quản lý BTS, một phần của HTTT quản lý VT TP.HCM. Hệ thống quản lý BTS cập nhập tự động từ các bản đăng ký xây dựng trạm BTS do nhà mạng thực hiện và cập nhật.
HTTT quản lý hạ tầng VT TP.HCM (Giai đoạn 1) thực chất là phần mềm (PM) ứng dụng GIS quản lý và cung cấp thông tin về hạ tầng VT như trạm BTS, đại lý Internet, bưu cực, bưu điện văn hóa xã trên địa bàn... Với lớp quản lý BTS, PM cung cấp cho người quản lý các thông tin như: Địa chỉ lắp đặt; Chủ địa điểm; Đơn vị sở hữu; Loại BTS (loại 1, 2); Tình hình cấp phép xây dựng, số giấy phép; Tình hình kiểm định, số giấy phép kiểm định, thời gian hết hạn kiểm định; Các thông tin khác… Người quản lý giám sát, cập nhật các thông tin đó theo phân quyền. Ví dụ, DN cập nhật trạm BTS mới; quận/huyện cập nhật cấp phép xây dựng trạm BTS…
Khi nhận 1 đơn xin cấp phép, căn cứ vào tọa độ xin xây mới trạm BTS, sử dụng PM, người quản lý có thể “quét” quanh toạ độ một khu vực có bán kính XYZ mét (thường có thể là 200 mét) để biết số lượng trạm BTS. Căn cứ trên đó cơ quan QLNN xét duyệt, khuyến cáo DN dùng chung hạ tầng với trạm BTS của DN khác… PM hiển thị báo cáo về các lớp theo cấp địa giới hành chính và đơn vị sở hữu; Theo thời gian, có so sánh giữa các khoảng thời gian theo lớp; Thể hiện số trạm BTS đang hoạt động trên địa giới; Các trạm BTS không giấy phép kiểm định; Các trạm BTS không giấy phép xây dựng… Từng cấp hành chính được phân quyền truy cập từ xa qua web xem thông tin liên quan tới lớp hạ tầng VT trong địa giới có trong PM. DN cũng xem được các lớp hạ tầng của mình trên từng địa bàn.
Sau hệ thống quản lý trạm BTS, trong HTTT quản lý hạ tầng VT sẽ có thêm hệ thống quản lý các đại lý Internet và bưu cục, đại lý bưu điện. Lớp đại lý Internet có: Địa chỉ, chủ đại lý và số máy của đại lý; Số giấy phép kinh doanh; Số hợp đồng đại lý; Thời gian hết hiệu lực của hợp đồng đại lý; Đại lý của ISP nào; Đại lý có sử dụng PM quản lý Internet không; Các thông tin về quá trình hoạt động. Lớp bưu cục có: Địa chỉ đại lý; Chủ đại lý; Số lượng máy của đại lý; Số giấy phép kinh doanh; Số hợp đồng đại lý; Đại lý bưu cục của DN nào. Sau khi hoàn thành HTTT quản lý hạ tầng VT (giai đoạn 1), Sở TTTT sẽ phối hợp với các DN ứng dụng GIS để quản lý các hạ tầng VT phức tạp hơn như: hệ thống công trình ngầm VT (hầm, cống, bể, mương kỹ thuật; hệ thống mạng ngoại vi với các tuyến trục chính…).
Nguyễn Như Dũng

Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) - quản lý kinh tế xã hội


Hệ thống thông tin địa lý (Geographical Information System - gọi tắt là GIS) là một phần của công nghệ thông tin được hình thành vào những năm 1960 và phát triển rộng rãi trong 10 năm lại đây. Ngày nay, GIS là một công cụ trợ giúp quyết định sự thành công trong nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới. Hệ thống thông tin địa lý GIS có khả năng đánh giá hiện trạng của quá trình, các thực thể của tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với nền hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở tọa độ của các dữ liệu đầu vào. Do đó, việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý là rất cần thiết, phù hợp với xu thế tin học hóa xã hội và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và của tỉnh An Giang.
Ngày nay, việc ứng dụng GIS được đưa rộng rãi vào hoạt động các lĩnh vực để nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước. Khái niệm về hệ thông tin địa lý GIS còn chưa được hoàn toàn thống nhất do những góc độ nghiên cứu và ứng dụng khác nhau. Nếu xét dưới góc độ hệ thống thì GIS có thể được hiểu như một hệ thống gồm các thành phần: con người, phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và quy trình kiến thức chuyên gia, nơi tập hợp các quy định, quy phạm, tiêu chuẩn, định hướng, chủ trương ứng dụng của nhà quản lý, các kiến thức chuyên ngành và các kiến thức về công nghệ thông tin, nhằm thu thập, lưu trữ quản lý, hiệu chỉnh, phân tích, tạo lập và hiển thị các dữ liệu không gian cho những mục đích khác nhau.
Xây dựng một hệ thống GIS cần phải quyết định GIS sẽ được xây dựng theo mô hình ứng dụng nào, lộ trình và phương thức tổ chức thực hiện nào. Từ đó, xác định rõ việc GIS thực hiện các chức năng trợ giúp quyết định nào và quyết định về nội dung gì, cấu trúc hợp phần của hệ thống và cơ cấu tài chính cần đầu tư để hình thành và phát triển hệ thống GIS.
Xét dưới góc độ ứng dụng trong quản lý Nhà nước, GIS có thể được hiểu như là một công nghệ xử lý các dữ liệu có tọa độ (bản đồ) để biến chúng thành các thông tin trợ giúp quyết định cho các nhà quản lý. Do các ứng dụng GIS rất hiệu quả, nhanh chóng, giúp cho quản lý Nhà nước đa dạng về các khía cạnh tự nhiên, xã hội và cả khía cạnh quản lý, nhất là những năm gần đây GIS được khai thác như một hệ thống thông tin đa qui mô và đa tỉ lệ. Tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng mà hệ thống có thể tích hợp thông tin ở nhiều mức khác nhau để phục vụ tốt nhu cầu điều hành, quản lý kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và hiệu quả cao. Thông tin địa lý GIS đã được công nhận là một hệ thống với nhiều lợi ích không chỉ trong công tác thu thập đo đạc địa lý, quản lý mà còn hỗ trợ rất có hiệu quả trong công tác điều tra tài nguyên thiên nhiên, phân tích hiện trạng và dự báo xu hướng diễn biến tài nguyên môi trường.
Điển hình như việc ứng dụng thông tin địa lý GIS vào hoạt động phát triển du lịch tỉnh An Giang thì hệ thống thông tin địa lý GIS sẽ hỗ trợ tích cực và hiệu quả cao trong việc quản lý và cung cấp thông tin về hiện trạng phát triển du lịch, quản lý và cung cấp thông tin về tài nguyên du lịch, kiểm kê tài nguyên, quản lý và cung cấp các thông tin về môi trường du lịch, đánh giá các vùng thuận lợi và ưu tiên đầu tư phát triển du lịch và cả việc quản lý và cung cấp thông tin trợ giúp. Bên cạnh, công nghệ GIS với công tác quản lý môi trường du lịch nhằm kiểm soát trạng thái môi trường, cung cấp kịp thời thông tin cho các nhà quản lý để làm căn cứ cho những quyết định, giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch trong quan hệ với môi trường. Quản lý tài nguyên và môi trường du lịch bằng công nghệ GIS là ứng dụng có hiệu quả nhất vì tài nguyên và môi trường du lịch là yếu tố động dưới tác động của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của con người. Nếu không có công cụ đủ mạnh để quản lý sự biến động cả không gian và thời gian thì khó có thể kiểm soát và kịp thời đưa ra những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ và ngăn chặn sự suy giảm tài nguyên, môi trường.
Tại Việt Nam công nghệ GIS được thí điểm khá sớm và đến nay được ứng dụng trong khá nhiều ngành như quy hoạch nông lâm nghiệp, quản lý rừng, lưu giữ tư liệu địa chất, đo đạc bản đồ, địa chính, quản lý đô thị… đã mang lại hiệu quả bước đầu cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng của nước ta và đang có nhiều triển vọng phát triển nhanh trong thời gian sắp tới.
Tỉnh An Giang là một trong những tỉnh sớm có ý tưởng và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS vào quản lý kinh tế xã hội của tỉnh An Giang. Năm 2005, Sở Khoa học và Công nghệ đã được UBND tỉnh cho phép triển khai đề tài ứng dụng hệ thống thông tin địa lý GIS để xây dựng cơ sở dữ liệu nền cho một số ngành của tỉnh An Giang như xây dựng, giao thông, nông nghiệp, giáo dục, y tế… đến năm 2006 đã nghiệm thu và đến nay đã mở nhiều lớp đào tạo để nâng cao hiệu quả của đề tài. Tuy nhiên, cần phải có đánh giá cụ thể những thuận lợi, hạn chế của đề tài khi đưa ra ứng dụng để tiếp tục duy trì việc cập nhật cơ sở dữ liệu nền của các ngành đã thực hiện của đề tài vừa qua và xem xét nên tiếp tục nghiên cứu những đề tài nhánh để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của GIS đúng chức năng, công dụng, hiệu quả của nó, không chỉ ứng dụng ở lĩnh vực lưu trữ, in ấn các tư liệu bản đồ bằng công nghệ GIS mà phải đưa ứng dụng GIS trong công tác quản lý, điều hành, trợ giúp quyết định, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất./.
Ths. Mai Thị Ánh Tuyết
PGĐ Sở Khoa học và Công nghệ An Giang

Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội: Đưa GIS vào quản lý đất

Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS) - một công nghệ lập bản đồ, quản lý, phân tích và hiển thị tri thức địa lý - đang phát huy tác dụng ở quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) và hứa hẹn sẽ mang lại những dịch vụ công về đất đai hiệu quả.
NHỮNG THAY ĐỔI NHỜ GIS
HBT là một quận lớn của TP. Hà Nội (HN) với 1.005 tổ chức, sử dụng 1.300 lô đất, chưa kể gần 20.000 chủ sử dụng nhà tập thể, hơn 17.000 chủ sử dụng đất thuộc Nhà Nước... Khối lượng hồ sơ, tài liệu lưu trữ rất lớn và nhiều chủng loại, khiến việc quản lý gặp nhiều khó khăn.
Từ khi về nhận công tác tại Phòng Tài Nguyên – Môi Trường (TN-MT) quận HBT, ông Bùi Văn Hải , trưởng phòng đã thường xuyên gặp các công ty tin học để tìm một giải pháp quản lý thông tin, bản đồ đất đai tốt hơn. Thế nhưng, phải đến khi DMC Group, một tập đoàn chuyên về phát triển và ứng dụng công nghệ GIS, đặt vấn đề hợp tác để số hóa toàn bộ CSDL đất đai trên địa bàn quận, mọi ý tưởng mới trở nên khả thi.
Bên cạnh ứng dụng GIS xây dựng ngân hàng dữ liệu về đất đai, dự án "Ứng dụng CNTT xây dựng hệ thống thông tin địa lý phục vụ quản lý nhà nước và đô thị” của quận HBT cũng được tiến hành. Dự án này hiện mang đến một số kết quả: số hóa toàn bộ CSDL về đất đai trên địa bàn quận theo công nghệ GIS, một số mô-đun nghiệp vụ đã được đưa vào ứng dụng như quản lý thông tin đất đai, cập nhật thông tin hồ sơ, cập nhật biến động bản đồ, quản lý biến động. Đối với nhu cầu quản lý đất đai cấp quận tại Phòng TN-MT quận, dự án hỗ trợ xây dựng quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) trên môi trường mạng LAN.
Với hệ thống mới, cán bộ chuyên môn có thể tiếp nhận, xem và duyệt hồ sơ ngay trên mạng từ CSDL bản đồ số hóa, nên chỉ mất 5 phút (tối đa là 30 phút) để hoàn tất quy trình cấp GCN QSDĐ thay vì 2 ngày như trước đây. Ông Phùng Anh Quân, cán bộ trực tiếp làm công tác cấp GCN QSDĐ cho biết: đến nay, quận đã thực hiện 95% việc cấp GCN QSDĐ.
Bên cạnh đó, nhờ CSDL bản đồ số hóa, công tác quản lý hồ sơ dữ liệu về địa chính – nhà đất, cấp các loại giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà... cũng được đơn giản hóa; các hồ sơ báo cáo, thống kê đều được lập tự động theo mẫu quy định.
Hiện tại, mỗi ngành đều tự đo vẽ lấy các bản đồ để phục vụ công tác quản lý trong lĩnh vực của mình.Việc đo vẽ bản đồ theo cách làm thủ công tiêu phí thời gian, công sức, tiền bạc mà vẫn luôn không đúng thực tế và không chia sẻ được dữ liệu cho nhau. Theo ông Quân, trước đây, mỗi khi xét duyệt để cấp GCN QSDĐ, cán bộ chuyên trách phải chồng nhiều lớp bản đồ giấy lên nhau để đối chiếu. Thao tác thủ công này không thể tránh khỏi sai sót. Về kinh phí, để vẽ một tờ bản đồ địa chính của một phường ở HN mất 1- 2 tỷ đồng (tùy theo địa bàn phường lớn hay nhỏ). HN có 232 phường; để vẽ xong bản đồ của TP. HN phải tốn khoảng trên 100 tỷ đồng và phải mất 5 năm. Trong thời gian 5 năm đó, có rất nhiều thay đổi và bản đồ vừa vẽ xong đã trở nên lạc hậu.
TRIỂN VỌNG DỊCH VỤ CÔNG TRÊN MẠNG
Giải pháp DMC ProLAN của tập đoàn DMC là một bản đồ nền do công ty xây dựng, từng ngành sẽ đưa thêm vào đó dữ liệu để có bản đồ chuyên ngành. Tất cả CSDL bản đồ được chia sẻ trên mạng LAN. Khi cần tham khảo, cán bộ có thể sử dụng công nghệ chồng ghép bản đồ để đối chiếu. Đối với những thay đổi trên thực địa, chỉ cần cập nhật mới về dữ liệu mà không cần phải đo vẽ lại khu vực đó. Điểm nổi bật trong giải pháp DMC ProLAN là khả năng liên kết giữa thông tin dữ liệu và thông tin bản đồ. Khi cập nhật dữ liệu, bản đồ sẽ tự động điều chỉnh, ngược lại, khi chỉnh sửa bản đồ, dữ liệu cũng sẽ tự động cập nhật. Nhờ đó, bản đồ chỉ cần vẽ một lần nhưng vẫn luôn mới.
CSDL bản đồ được số hóa, kết hợp với công nghệ DMC Internet MAP (công cụ cho phép tích hợp giữa mạng LAN và mạng Internet) có thể giúp lãnh đạo quản lý ngay trên mạng hoặc cung cấp dịch vụ phục vụ người dân trên mạng Internet. Hiện đã có trên 10 quận, huyện và hàng trăm khu đô thị mới sử dụng công cụ này để giới thiệu thông tin trên basao.com.vn. Website Chính Phủ (www.chinhphu.vn) cũng đang sử dụng công nghệ này để đưa thông tin về bản đồ hành chính của một số quận, huyện. Theo ông Nguyễn Hoài Phương, chủ tịch tập đoàn DMC, để thông tin bản đồ trở thành dịch vụ có ý nghĩa, vấn đề mấu chốt là các cấp quận/huyện phải số hóa CSDL bản đồ và thường xuyên cập nhật. CSDL càng đầy đủ, dịch vụ càng hiệu quả. Người dân có thể xem thông tin chi tiết đến từng ngôi nhà, từng thửa đất.
Ngoài ra, với DMC Internet MAP, ông Hải cho biết, quận HBT đang có kế hoạch lắp đặt các trạm thông tin để người dân có thể tự tra cứu thông tin và trả tiền. Tùy từng cấp phường/xã hay quận, huyện và mức phí dịch vụ, người dân có thể tự tìm kiếm các thông tin cần thiết thay vì phải hỏi trực tiếp các cán bộ địa chính. Hiện tại, quy trình và chính sách cho việc cung cấp thông tin về đất đai tới người dân đã được phòng TN-MT hoàn tất và chờ phê duyệt. Nếu được thông qua, trong năm 2007, người dân quận HBT có thể tiếp cận các dịch vụ công về đất đai một cách thuận tiện.
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở QUẬN, HUYỆN: CẦN THAY ĐỔI CÁCH LÀM
Trong lĩnh vực quản lý đất đai, thông tin tập trung nhiều ở cấp quận, huyện và phải được cập nhật, khai thác, xử lý thường xuyên. Thế nhưng ở nhiều quận, huyện trên toàn quốc, việc ứng dụng CNTT để quản lý còn yếu vì nhiều nguyên do, trong đó một phần do đội ngũ cán bộ quản lý trình độ không đồng đều, phần lớn chỉ sử dụng được phần mềm (PM) văn phòng.
Về CSDL bản đồ, tuy một số quận, huyện đã sử dụng bản đồ vẽ bằng phần mềm AutoCAD hoặc Microstation nhưng phần lớn các nơi do hệ thống thiết bị máy móc còn nghèo nàn, chuyên viên chưa được làm quen với GIS nên bản vẽ giấy vẫn hiện diện. Bản đồ giấy thường có độ chính xác thấp, khó xác minh ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất, nên độ tin cậy chưa cao, nhất là với tình trạng đất đai biến động nhiều như hiện nay thì việc cập nhật thông tin theo phương pháp thủ công (đo vẽ lại bản đồ) không thể theo kịp.

(Theo PCWorld)

Cơ chế hoạt động của hệ thống GPS giao thông

Hệ thống GPS trên xe hơi tuy không còn quá xa lạ với người dùng Việt Nam nhưng không phải ai cũng biết chúng hoạt động như thế nào. Trên thực tế, GPS ở Việt Nam vẫn chưa là hệ thống đầy đủ.

Chỉ có ở các quốc gia mạnh về công nghệ như Mỹ, Pháp, Anh… thì GPS mới được ứng dụng một cách toàn diện. Chúng ta hãy đi vào tìm hiểu xem cơ chế hoạt động của hệ thống này như thế nào.
GPS là gì?
GPS là hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu do Bộ Quốc phòng Mỹ phát triển và được Không lực Mỹ quản lý. GPS là hệ thống định vị hoạt động toàn diện nhất trên thế giới và được sử dụng một cách miễn phí. GPS bao gồm 24-32 vệ tinh bay ở tầm trung trên quỹ đạo Trái Đất. Những vệ tinh này gửi tín hiệu sóng ngắt về thiết bị nhận GPS, cho phép xác định vị trí hiện tại, thời gian và vận tốc chuyển động.
GPS đi vào hoạt động từ năm 1960 nhưng cho mãi tới năm 1992 nó vẫn được Bộ Quốc phòng Mỹ sử dụng riêng. Từ năm 1993 trở đi, GPS mới được sử dụng cho mục đích công cộng như lập bản đồ, khảo sát vùng đất, nghiên cứu khoa học. Khả năng tham chiếu thời gian chính xác của GPS cũng được sử dụng để nghiên cứu các vụ động đất. GPS còn kết nối với nhiều mạng di động tại các quốc gia để phục vụ người dùng.
Ứng dụng cho ngành giao thông
Khi bạn đang lái xe trên đường cao tốc, hệ thống cảnh báo GPS sẽ nói cho bạn biết ở chỗ nào có tắc đường để tránh không đi qua đó. Tất nhiên, bạn có thể lập lại lộ trình đường đi để có thể đạt được hiệu quả tối ưu nhất. Công việc tưởng chừng như đơn giản nhưng đằng sau đó là vô số những vấn đề kỹ thuật mà các bên liên quan cần xử lý. Mọi việc không đơn giản như những tín hiệu đèn báo xanh, vàng hay đỏ.
Chúng ta hãy đi vào tìm hiểu mô hình thu thập dữ liệu của Bộ Giao thông vận tải Mỹ (DOT) để thấy được hệ thống này làm việc như thế nào. Dữ liệu giao thông tại Mỹ được Bộ Giao thông vận tải nước này thu thập trên 6.000 dặm đường cao tốc khắp đất nước. Ngoài DOT còn có một số công ty tư nhân đảm nhận công tác thu thập tín hiệu giao thông và cung cấp cho người dùng như Inrix. Hãng này cung cấp tới 70% lượng dữ liệu giao thông cho các tài xế có đăng ký. Đối tác của Inrix là những tên tuổi lớn trong lĩnh vực GPS như: Garmin, Mio, Navigon, TomTom, và thậm chí là các nhà mạng lớn như AT&T và Sprint.
Cơ chế hoạt động


Vậy các tín hiệu giao thông trực tiếp được thu thập như thế nào? DOT sử dụng hệ thống cáp quang gắn dưới mặt đường kết nối với các hộp cảm ứng được đặt hai bên đường. Những hộp cảm ứng này thường xuyên cần bảo dưỡng để hoạt động ổn định bởi một số chạy bằng điện, số còn lại chạy bằng năng lượng mặt trời. DOT sử dụng các bộ tín hiệu lặp để phân biệt đâu là xe hơi thông thường, đâu là xe tải nhờ vào đo tốc độ chuyển động của vành xe. Các thông tin này được hỗ trợ bởi cảnh sát giao thông và các thiết bị chuyên dụng khác của DOT
Trong khi đó, Inrix thì thu thập dữ liệu từ hàng trăm nguồn khác nhau trong một khoảng cách hàng trăm nghìn km, kể cả từ nguồn DOT. Inrix cung cấp dịch vụ cho nhiều hãng vận chuyển như taxi, vận chuyển gas, công ty sửa chữa nhà và cả những hãng vận chuyển đường dài. Những hãng này đều sử dụng dịch vụ GPS để theo dõi và kiểm tra vị trí các chuyến xe.
Hầu hết những lái xe đường dài đều gửi tín hiệu về tổng đài trong khoảng thời gian từ 6 giờ sáng tới 8 giờ tối; trong khi các hãng taxi và những hãng dịch vụ khác thì lắp đặt thiết bị GPS ngay trên đồng hồ. Inrix cung cấp thông tin giao thông và các tuyến đường cho xe nhằm giúp tài xế tránh được các điểm tắc đường. Đổi lại thiết bị GPS trên xe sẽ báo cáo tình trạng đường xá về trung tâm quản lý của Inrix. Nếu thấy cần thiết, Inrix có thể trả một khoản tiền nào đó cho tài xế (theo tháng hoặc theo năm) để họ báo cáo đầy đủ về các tuyến đường mà họ đi qua. Hiện tại Inrix quản lý tới gần 1 triệu chiếc xe sử dụng GPS.
Inrix còn sử dụng cả dữ liệu điện thoại di động từ những thiết bị có GPS. Khi hành khách trong xe yêu cầu xác định vị trí GPS từ điện thoại, tốc độ và vị trí của điện thoại sẽ được gửi về trung tâm Inrix. Hãng này còn hợp tác với Clear Channel để theo dõi các vụ tai nạn, tình trạng sửa chữa và những thông tin liên quan qua hệ thống máy bay trực thăng và những cộng tác viên trên khắp cả nước. Cả hai công ty này còn ký kết thỏa thuận chia sẻ dữ liệu giao thông với nhau.
Truyền dữ liệu theo 4 kênh
Về phần GPS của ĐTDĐ hoặc các thiết bị trợ giúp cá nhân kỹ thuật số, thông tin sẽ được gửi tới theo 1 trong 4 cách: Kênh tin nhắn giao thông – Hệ thống dữ liệu radio (RDS-TMC), GPRS, tín hiệu đài vệ tinh, và MSN Direct.
Mạng RDS-TMC của Clear Channel có quy mô lớn nhất nước Mỹ, và kiểu truyền tín hiệu FM như thế này vẫn rất phổ biến. Thông tin sẽ được truyền đi từ những trạm FM gần kề với vị trí tài xế hoặc những người sử dụng thiết bị GPS.
Trong khi đó, MSN Direct nén và giải nén dữ liệu thông qua các kênh FM. Ngoài dữ liệu về giao thông, MSN Direct còn chuyển tải các dữ liệu như thời tiết, thời gian chiếu phim, và giá khí đốt. Công nghệ này chỉ được cung cấp cho một số thiết bị định vị của Alpine, Avis, Garmin, và Pioneer.
Còn dịch vụ giao thông qua tín hiệu đài vệ tinh XM/Sirius thường được sử dụng cho những hệ thống GPS gắn kèm theo xe hơi, và hiện đang được sử dụng cho 700 nghìn chiếc xe hơi tại Mỹ.
Trong tất cả các phương pháp này thì duy chỉ có GPRS là tốt nhất bởi nó cho phép upload và download dữ liệu cá nhân. Inrix cung cấp tín hiệu giao thông cho cả các thiết bị của AT&T và Sprint, trong khi Verizon Wireless sử dụng dịch vụ của Navteq. Các dữ liệu giao thông được gửi thông qua các trạm di động gần kề.
 
Theo VNM/PCW, PCMag
Theo www.ktdt.com.vn

Global Mapper 13.0

 
Có thể sử dụng được hầu hết các kiểu định dạng dữ liệu thông thường như: DLG-O, DRG, DOQ, DEM, DGN, DTED, DXF, SDTS DLG, SDTS DEM, ECW, MrSID, ESRI Shapefiles, E00, MapInfo MIF/MID, MapInfo TAB/MAP, GTOPO30, TerrainBase, SRTM, ETOPO2, ENVI DEM, JPG, PNG, BIL, BSQ, BIP, XYZ, Tiger/Line, Arc Vector Coverages, VPF (VMAP, DNC), S-57, ADRG, ASRP, CADRG, CIB, JPEG2000, GIF, NOS/GEO, Garmin PCX5, GPX (GPS eXchange Format), OziExplorer WPT/PLT, ASTER DEM (HDF and GeoTIFF formats), ASTER L1A/L1B imagery, Zmap Plus Grids, LIDAR LAS, Marplot MIE, DHM (Swiss DEM), MODIS imagery, NTF Grids, MapTech Topo/Aerial Maps, Idrisi RST, JDEM, SEGP1, CompeGPS,...

- Cung cấp miễn phí toàn bộ ảnh vệ tinh và bản đồ địa hình Hoa Kỳ trong phạm vi ứng dụng

- Ứng dụng 3D trong việc nhập dữ liệu độ cao, số hoá các dữ liệu và hình ảnh

- Bạn có thể thiết lập lại phép chiếu, kết hợp dữ liệu raster và dữ liệu độ cao.

- Ứng dụng số hoá: bạn có thể số hoá dạng (vùng, đường, điểm).

- Ứng dụng GPS: bạn có thể nhập dữ liệu từ một máy GPS qua cổng serial hoặc USB.

- Global Mapper giúp khách hàng có thể chuyển đổi chính xác hệ thống phép chiếu và các mốc tính toán.

Global Mapper 13 DC 12092011 (x86/x64)
Global Mapper 13 DC 12092011 (x86/x64) | 49/42 Mb
 - Bạn có thể xuất dữ liệu theo kiểu vector, raster và dữ liệu độ cao theo các khuân dạng dưới đây:

    * Dữ liệu Vector (i.e. DLGs, Shapefiles, DXF,...):
          o Arc Ungenerate format
          o AutoCAD DXF format
          o CDF format
          o CSV format
          o DGN format
          o ESRI Shapefile format
          o Garmin PCX5 TRK and WPT formats
          o GPX (GPS eXchange Format)
          o KML/KMZ (Google Earth) formats
          o InRoads ASCII format
          o Landmark Graphics format
          o Lowrance USR format
          o MapGen format
          o MapInfo MIF/MID format
          o MatLab format
          o MOSS format
          o NIMA ASC format
          o PLS CADD XYZ Grid file format
          o Simple ASCII Text format
          o Surfer BLN format
          o SVG (Scalable Vector Graphic) format
          o Tsunami OVR format
          o USGS DLG-O format
    * Dữ liệu Raster (i.e. DRGs, DOQs,...):
          o BIL/BIP/BSQ formats
          o ECW format
          o Erdas Imagine format
          o GeoTIFF format
          o Idrisi format
          o JPG format
          o PNG format
    * Dữ liệu độ cao (i.e. DEMs, ...):
          o Arc ASCII Grid format
          o BIL format
          o BT (Binary Terrain) format
          o DXF (3D-point, 3D-mesh, and 3D-face) formats
          o Erdas Imagine format
          o Float/Grid file format
          o Geosoft Grid format
          o GeoTIFF DEM format
          o Gravsoft Grid format
          o Idrisi format
          o Leveller Heightfield file format
          o MapMaker Terrain file format
          o Optimi Terrain file format
          o PLS CADD XYZ Grid file format
          o RockWorks Grid format
          o STL format
          o Surfer Grid (ASCII and binary) formats
          o Terragen Terrain file format
          o USGS DEM format
          o VRML format
          o XYZ ASCII Grid format
          o Zmap Plus Grid format
      - Bạn có thể sửa các ảnh khuân dạng JPG, TIFF, PNG và ghi lại kết quả theo khuân dạng mới có thêm tính chất địa lí.
      - Bạn có thể tạo đường bình độ từ dữ liệu độ cao và xuất chúng theo khuân dạng xuất của vector.
      - Tự động tính toán và tạo lưới chiếu 3D cho toàn bộ hệ thống dữ liệu.
      - Còn rất nhiều các tính năng khác
       độc giả download software tại link: DOWNLOAD

Đặt nhãn với nhiều giá trị trong ArcMap

ArcMap hỗ trợ đặt nhãn của một đối tượng bằng nhiều giá trị trong nhiều trường thuộc tính khác nhau
Trong trường hợp sau ta thử đặt nhãn cho lớp Country với hai giá trị cần hiển thị là tên nước và dân số.





      -         Trong hộp thoại Layer properties, chọn tab Labels
-         Chọn vào Label features in this layer
 
-         Trong Text String nhấn vào Expression…
-         Hộp thoại Label Expression cho phép ta đặt nhãn theo một biểu thức được định nghĩa
-         Để đặt nhãn với trường tên nước và dân số ta chọn trường CNTRY_NAME nối với trường POP_CONTRY theo dạng [CNTRY_NAME]  & " " & [POP_CNTRY]

-         Nhấn OK, và nhấn OK một lần nữa ta quan sát nhãn đã được đặt trên bản đồ
 
-         Biểu thức sau cho phép bạn đặt nhãn theo tên nước và dân số trên 2 dòng khác nhau và ghi rõ chú thích: "Quốc gia: " & [CNTRY_NAME]  & vbNewline  & "Dân số: " & [POP_CNTRY]
-         Trong ArcMap, biểu thức đặt nhãn được viết bằng ngôn ngữ VBScript hoặc Jscript, sử dụng một trong hai ngôn ngữ này bạn có thể viết các hàm để đặt nhãn cho các đối tượng trên bản đồ một cách linh động hơn.
Theo giáo trình ArcGIS cơ bản - Trung tâm GIS Ứng Dụng Mới

Một số câu hỏi về kỹ năng RS/GIS

Dưới đây là các câu hỏi về khả năng của bạn sử dụng cộng nghệ GIS của ESRI, trong số các câu hỏi này có các câu hỏi được lấy ra từ đề thi mẫu cấp chứng chỉ của ESRI. Với 25 câu hỏi, bạn hãy thử trả lời trong vòng 35 phút.
1.      1. Để biên tập bản đồ mạng lưới giao thông trong một thành phố với mật độ dân số đông và cơ sở hạ tầng dày đặc. Cách thức nào sau đây được sử dụng để cải tiến tốc độ thực thi của bản đồ
a.      Chỉnh biểu tượng hiển thị của các đối tượng về format BMP
b.      Sử dụng các annotation
c.      Bỏ các chỉ mục không gian tại các vị trí có thể
d.      Thực hiện hiển thị theo tỉ lệ
2.      2. Một người sử dụng phần mềm ArcGIS có sẵn một tập các shapefile, người dùng cần tạo geodatabase topology cho tập dữ liệu này, người dùng nên làm như thế nào?
a.      Tạo geodatabase và đưa shapefile vào
b.      Tạo geodatabase, tạo dataset và đưa shapefile vào
c.      Copy tất cả các shapefile vào một thư mục
d.      Tạo geodatabase và đưa tất cả các shapefile vào một featureclass
3.        3. Trong ArcMap, font hiển thị trong phần Table Of Content (TOC) đang là font Unicode, người dùng muốn đổi sang font khác, chẳng hạn font .Vn-time, người dùng sẽ
a.      Không có cách nào chuyển đổi
b.      Cài đặt font cần hiển thị, vào chức năng Options của menu Tools để chỉnh font
c.      Cài đặt font cần hiển thị, vào chức năng Customize của menu Tools
d.      Cài đặt font cần hiển thị, chọn phải vào lớp cần hiển thị vào chọn Properties sau đó chỉnh font.
4.      4. Một tổ chức cần xây dựng một giải pháp để phân phối dữ liệu qua dịch vụ Web, giải pháp bao gồm tạo, lưu trữ và xuất bản dữ liệu, giải pháp có liên quan tới công nghệ ArcGIS Desktop, ArcSDE và ArcGIS server. Ai là người sẽ được yêu cầu để giải quyết vấn đề đụng độ của các lớp dữ liệu?
a.      Người quản trị dữ liệu
b.      Người đề xuất giải pháp
c.      Người quản trị Geodatabase
d.      Người quản trị hệ thống
5.      5. Muốn tra cứu các yêu cầu về hệ thống khi triển khai các sản phẩm Desktop,  Workgroup hoặc Enterprise ta có thể tra cứu tại:
a.      ESRI services
b.      About ESRI
c.      ArcGIS resource center
d.      ESRI industry overview
6.      6. Biến môi trường nào cần có khi cài đặt ArcSDE
a.      ARCGISHOME
b.      AGSHOME
c.      SDEHOME
d.      INSTALLHOME
7.       7.Thao tác nào cần làm trên bảng dữ liệu không gian khi sử dụng ArcSDE và Geodatabase để cho phép nhập và hiệu chỉnh dữ liệu
a.      Đăng ký các bảng trong ArcSDE và Geodatabase
b.      Reset lại hệ tọa độ trong bảng không gian tương ứng
c.      Reset lại quyền của các người dùng truy cập vào dữ liệu
d.      Tài lập lại các role của bảng dữ liệu
8.        8. Một người quản trị cần cài đặt ArcGIS server để cung cấp dịch vụ cho ứng dụng Web mà người dùng có thể tạo ra các polygons “driver-time” trên bản đồ. Phần Extension nào cho ArcGIS server cần cài đặt?
a.      Geostatistic analyst
b.      Network analyst
c.      Workflow manager
d.      Spatial analyst
9.        9. Trong ArcGIS server, khi nào người quản trị nên thiệt lập số lượng kết nối ít nhất xuống mức 0
a.      Khi dịch vụ được sử dụng thường xuyên
b.      Khi dịch vụ ở dạng công cộng
c.      Khi dịch vụ có các chức năng được custumize
d.      Khi dịch vụ kết nối vào Geodatabase
10.  10. Kết quả sẽ đạt được như thế nào khi một lập trình viên sử dụng câu lệnh IFeatureLayerDefinition.DefinitionExpression trên bản đồ
a.      Tất cả các đối tượng đang được chọn của lớp dữ liệu sử dụng câu lệnh này sẽ bị xóa
b.      Một con trỏ (cursor) được tạo ra để chỉ tới các đối tượng chọn
c.      Chỉ các đối tượng của biểu thức truy vấn được hiển thị
d.      Chỉ các đối tượng của biểu thức truy vấn được chọn
11. Quan sát kỹ hình vẽ sau
Biểu tượng được khoanh tròn tương ứng với tool hoặc command, người lập trình sử dụng ProgID nào sau đây
a.      esriControls.ControlsPageZoomInTool
b.      esriControls.ControlsMapFullExtentCommand
c.      esriControls.ControlsMapZoomInTool
d.      esriControls.ControlsMapPanTool
1.      12. Trên bản đổ có các lớp dữ liệu sau: đường hẻm, đường phố và đường cao tốc. Khi phóng nhỏ bản đồ nhìn các đường này trở nên rất rối rắm , giải pháp để hiển thị cho phù hợp trong trường hợp này là.
a.      Sử dụng biểu tượng hiển thị theo mức
b.      Thay đổi biểu tượng để chúng bé hơn
c.      Thiệt lập độ trong suốt 50%
d.      Thiết lập hiển thị theo tỉ lệ
2.      13. Công nghệ ArcGIS nào được dùng để lưu trữ và truy xuất dữ liệu trên một hệ quản trị cơ sở dữ liệu đa người dùng
a.      ArcEngine
b.      ArcMap
c.      ArcGIS Explorer
d.      ArcSDE
3.      14. Quan sát bảng dữ liệu sau
Sử dụng công cụ Select By Attribute, người sử dụng có thể thực hiện phép truy vấn nào sau đây?
a.      Truy vấn các bang ở miền Tây với tốc độ gia tăng xuất khẩu ngô (corn), lớn nhất trong 20 năm qua
b.      Truy vấn các bang có dân số (Pop) gần với số dân ở châu Âu nhất vào năm 1990
c.      Truy vấn các bang có mật độ dân số ít hơn 20 người trên dặm vuông
d.      Truy vấn các bang có tên bắt đầu với ký tự “C” và giáp bờ biển.
1.       15. Động tác để đổi tên của một file Geodatabase là
a.      Sử dụng chức năng Rename trong công cụ Geoprocessing
b.      Vào Windows Explore đổi tên
c.      Đổi tên trong TOC của ArcMap
d.      Đổi tên file trong ArcCatalog
2.       16. Trên bản đồ hiện có các lớp dgt (dạng đường), thua(dạng vùng), hanhchinh (dạng vùng). Thứ tự các lớp trong TOC từ trên xuống dưới như sau hanhchinh, dgt, thua. Như vậy người dùng không thấy được lớp thua và lớp dgt. Nếu không muốn thay đổi thứ tự của các lớp trong TOC, cách làm nào sau cho phép người dùng nhìn thấy lớp thua và lớp dgt.
a.      Thiết lập thuộc tính transparent của lớp thua là 50%
b.      Thiết lập thuộc tính transparent của lớp thua và lớp dgt là 50%
c.      Thiết lập thuộc tính transparent của lớp thua là 100%
d.      Thiết lập thuộc tính transparent của lớp hanhchinh là 50%
17. Trong ArcMap, chức năng Tooltip của một lớp dữ liệu sử dụng trường dữ liệu nào trong lớp dữ liệu để hiển thị.
a.       Trường thuộc tính mà được thiết lập là Primary
b.      Trường thuộc tính có kiểu dữ liệu dạng chuỗi
c.      Trường thuộc tính dùng để đặt nhãn
d.      Trường thuộc tính nằm đầu tiên trong bảng thuộc tính
2.         18. Trong chức năng truy vấn theo không gian Select By Location, thuật toán  “are identical to” có nghĩa là
a.      Truy vấn ra các đối tượng giống nhau về hình học
b.      Truy vấn ra các đối tượng giống nhau về hình học và về thuộc tính
c.      Truy vấn các đối tượng nằm gần nhau có chung biên
d.      Truy vấn các đối tượng nằm gần nhau có chung cạnh
3.       19. ArcGIS  không hỗ trợ đọc (hiển thị) định dạng dữ liệu nào sau đây
a.      Tab của Mapinfo
b.      Dwg của Autocad
c.      dgn của Microstation
d.      Mdb của MS Access
4.         20.  Khi người dùng khởi động chức năng số hóa dữ liệu Start Editing trong thanh Editor, xuất hiện lỗi sau: "No data sources in the map are registered as versioned or you lack privilages to modify data..." điều này người dùng có thề suy diễn nguồn dữ liệu đang cần số hóa ở dạng
a.      Shapefile và đặt trong thư mục không cho phép số hóa
b.      Coverage và đặt trong thư mục không cho phép số hóa
c.      File geodatabase
d.      Geodatabase và ArcSDE
5.       21. Khi dùng ArcCatalog để tạo một lớp dữ liệu dạng Geodatabase, (các) trường dữ liệu nào sau đây bắt buộc phải có
a.      FID
b.      ObjectID
c.      ShapeID
d.      FID và ObjectID
6.      22. Quan sát hình sau đây, đây là một phần của thanh công cụ Tools mà khá quen thuộc với bạn trong ArcGIS Desktop


Bạn hãy cho biết ở phần thanh công cụ này có bao nhiêu tool và bao nhiêu command
a.      2 tool và 5 command
b.      3 tool và 4 command
c.      4 tool và 3 command
d.      5 tool và 2 command

1.           23. .Để đăng ký tọa độ cho ảnh trong ArcGIS Desktop, ta nên sử dụng thanh công cụ nào sau đây.
a.      Thanh công cụ Georeferencing
b.      Thanh công cụ Editor
c.      Thanh công cụ ModelBuilder
d.      Thanh công cụ Drawing
24. Sử dụng ArcGIS Server for the Microsoft .NET để tạo một ứng dụng WebGIS, ứng dụng WebGIS này có thể được sinh mã bằng những ngôn ngữ lập trình nào?
a.      VB.net và Java
b.      Java và C#
c.      C#  và Visual C++
d.      VB.net và C#
2.       25. Extension nào hỗ trợ số hóa dữ liệu từ bản đồ giấy?
a.      ArcReader
b.      ArcPress
c.      ArcScan
d.      Maplex
Bạn đã hoàn tất các câu trả lời, bạn có thể liên hệ xem đáp án tại đây 
Nguồn: http://ungdungmoi.com