DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Rác vũ trụ nặng hơn 6 tấn sắp rơi xuống trái đất

Một vệ tinh hỏng của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) sắp rơi xuống trái đất và nhiều người lo ngại các mảnh vỡ của nó có thể gây nguy hiểm cho các khu dân cư.

Discovery đưa tin Vệ tinh Nghiên cứu Tầng thượng quyển của trái đất (UARS) của NASA sẽ rơi khỏi quỹ đạo của nó vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10. Vệ tinh này, có khối lượng 6 tấn, được một tàu con thoi đưa lên quỹ đạo vào tháng 9/1991 để đo ozone và các hóa chất khác trong bầu khí quyển trái đất. Sứ mệnh của nó kết thúc vào năm 2005.
Sau đó UARS trở thành một trong hơn 20 nghìn mảnh rác vũ trụ mà không lực Mỹ theo dõi. Trên thực tế, với đường kính thân vào khoảng 4,5 m và khối lượng 5.850 kg, nó là một trong những rác vũ trụ lớn nhất gần trái đất.
“Mặc dù UARS sẽ vỡ thành nhiều mảnh khi lao xuống trái đất, một số mảnh sẽ không cháy hết trong bầu khí quyển”, NASA thông báo.
Vệ tinh Nghiên cứu Tầng thượng quyển
Vệ tinh Nghiên cứu Tầng thượng quyển của trái đất ngừng hoạt động từ năm 2005 và sắp lao xuống địa cầu. Ảnh: Discovery.
NASA nhấn mạnh rằng những mảnh rác vũ trụ đã rơi trở lại địa cầu từ khi kỷ nguyên vũ trụ bắt đầu nửa thế kỷ trước, song người ta chưa tìm thấy bằng chứng nào cho thấy chúng gây nên thương vong cho người hay thiệt hại về tài sản.
“Còn quá sớm để nói chính xác khi nào UARS sẽ rơi và khu vực nào sẽ chịu ảnh hưởng”, NASA tuyên bố.
Viện Khoa học quốc gia Mỹ cảnh báo lượng rác vũ trụ xung quanh trái đất đã đạt tới ngưỡng nguy hiểm và chúng có thể phá hoại vệ tinh nhân tạo, phi thuyền bất cứ lúc nào.
Rác vũ trụ là phi thuyền không còn hoạt động, vệ tinh nhân tạo cũ, tên lửa đã qua sử dụng hay mảnh vỡ từ các vụ va chạm vệ tinh nhân tạo. Chúng bay xung quanh trái đất với tốc độ có thể lên tới 28.163 km/h. Với tốc độ đó, một mảnh rác nhỏ xíu cũng có thể làm hỏng phi thuyền.
http://vnexpress.net

Nội suy không gian (phần 1)

 
Xây dựng tập giá trị các điểm chưa biết từ tập điểm đã biết trên miền bao đóng của tập giá trị đã biết bằng một phương pháp hay một hàm toán học nào đó được xem như là quá trình nội suy.


Các dữ liệu nội suy có mối quan hệ không gian với nhau, tức là các điểm gần nhau thì “giống” nhau nhiều hơn so với những điểm ở xa.
Phương pháp nội suy không gian hiện nay được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới. Chẳng hạn như trong các Trung tâm dự báo về thời tiết (các bản đồ dự đoán xây dựng từ các trạm thuỷ văn). Sự quan trọng của phương pháp nội suy phụ thuộc vào diện tích vùng khảo sát bởi vì mục tiêu của sự nội suy không gian là xây dựng bề mặt xấp xỉ tốt nhất với các dữ liệu thực nghiệm. Chính vì vậy, với mỗi phương pháp nội suy được sử dụng thì độ chính xác phải đạt được tốt nhất.
Các phương pháp nội suy trong GIS có thể được xem là các phương pháp nội suy không gian khá tốt hiện nay. Nó được thừa nhận trên toàn thế giới về khả năng thực thi và bộ tài liệu cung cấp trên mạng rất rộng rãi.
Trong giáo trình này chúng tôi giới thiệu các phương pháp nội suy không gian: IDW, Spline, Kriging (phương pháp nội suy thống kê không gian), TIN.
Phương pháp Inverse Distance Weight – IDW
Phương pháp IDW xác định các giá trị cell bằng cách tính trung bình các giá trị của các điểm mẫu trong vùng lân cận của mỗi cell. Điểm càng gần điểm trung tâm (mà ta đang xác định) thì càng có ảnh hưởng nhiều hơn. Chẳng hạn, khả năng tiêu dùng của khách hàng sẽ giảm theo khoảng cách (đến cửa hàng).
Công thức nội suy :
 

Trong đó dij là khoảng cách không gian giữa 2 điểm thứ i và thứ j, số mũ p càng cao thì mức độ ảnh hưởng của các điểm ở xa càng thấp và một số xem như không đáng kể, thông thường p = 2.


 Mối quan hệ giữ sự ảnh hưởng và khoảng cách

Bán kính tìm kiếm (Search Radius)
Đặc trưng của bề mặt nội suy còn chịu ảnh hưởng của bán kính tìm kiếm. Bán kính này giới hạn số lượng điểm mẫu được sử dụng để tính cell được nội suy.
Có hai loại bán kính tìm kiếm : cố định (fixed) và biến đổi (variable).
Fixed search radius
Là bán kính với một số lượng điểm mẫu nhỏ nhất và một khoảng cách xác định. Khi số lượng điểm mẫu không đủ trong bán kính này thì nó sẽ tự động nới rộng ra chừng nào đủ số điểm mẫu bé nhất có thể.
Variable search radius
Số lượng các điểm mẫu cố định và khoảng cách tìm kiếm lớn nhất. Bán kính biến thiên tìm các điểm mẫu gần nhất với khoảng cách tìm kiếm lớn nhất cho đến khi số lượng điểm thu được đầy đủ. Nếu số lượng điểm mẫu phải thu được không đủ bên trong khoảng cách tìm kiếm lớn nhất thì chỉ có những điểm mẫu thu được là được dùng cho nội suy.
Barrier (vùng che chắn)
Một barrier là một tập polyline như một sự gián đoạn giới hạn vùng tìm kiếm điểm mẫu.
Một polyline có thể là một vách đá, một ngọn núi, hay một số vật che chắn khác trong vùng (landscape). Khi xuất hiện yếu tố này thì chỉ có những điểm mẫu cùng phía với nó và cell đang khảo sát mới được xem xét.

Theo giáo trình thực hành phân tích không gian - TT GIS Ứng Dụng Mới

Lập bản đồ số 3D để ứng phó sự cố tràn dầu

Độ sâu, rộng, dài hệ thống sông kênh của bán đảo Cà Mau được thể hiện trên bản đồ 3D vừa được đưa vào sử dụng nhằm ứng phó với sự cố tràn dầu có thể xảy ra.

Đối với khu vực miền Đông Nam Bộ, giao thông thủy là huyết mạch giao thông chính của vùng. Việc khai thác phát triển dầu khí trong khu vực đã làm tăng mật độ giao thông, kéo theo nguy cơ xảy ra va chạm tàu thuyền gây sự cố tràn dầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và đời sống của người dân.
Khu vực bán đảo Cà Mau được thể hiện dưới hình ảnh 3D. Ảnh:
Khu vực bán đảo Cà Mau được thể hiện dưới hình ảnh 3D. Bản dồ vừa được đưa vào sử dụng.
Từ thực tế đó, nhằm có thể giúp nhanh chóng xây dựng phương án ứng phó hiệu quả khi có sự cố tràn dầu, bản đồ số 3D trên sông kênh thuộc khu vực bán đảo Cà Mau đã được Trung tâm Nghiên cứu phát triển an toàn môi trường dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam thiết lập.
Hơn 4.100 mặt cắt các hệ thống sông kênh, các công trình cấp thoát nước và số liệu địa hình toàn bộ khu vực được Liên đoàn địa chất miền Nam cung cấp để thể hiện trên bản đồ 3 chiều này.
Tại một nhánh sông, hình ảnh và thông số được thể hiện rõ ràng.
Tại một nhánh sông, hình ảnh và thông số được thể hiện rõ ràng.
Bản đồ hệ thống sông kênh khu vực bán đảo Cà Mau sẽ có các tính năng phóng to, thu nhỏ, dịch chuyển, quay giúp người xem thấy rõ vị trí cần tìm một cách dễ dàng để có thể xác định hướng di chuyển cho các phương tiện ứng cứu khi có sự cố tràn dầu.
Ngoài ra, tại một vị trí, bản đồ có thể thể hiện đầy đủ các thông tin liên quan đến các nhánh sông như tên, hình ảnh, chiều dài, độ rộng, sâu, dòng chảy, công trình liên quan.
Dòng chảy với những thông số được thể hiện trên bản đồ.
Dòng chảy với những thông số được thể hiện trên bản đồ.
Một thí nghiệm cũng đã dược nhóm nghiên cứu tiến hành với sự cố tràn dầu trên sông tại khu vực gần cụm Điện - Đạm Cà Mau. Hình ảnh về khả năng lan truyền dầu tại các nhánh sông thể hiện trên chương trình rất sinh động, với phần màu sắc thể hiện nồng độ dầu lan truyền trên sông, cũng như hướng trôi dạt của mảng dầu loang theo dòng chảy và hướng gió. Theo đó, các cơ quan chức năng sẽ đề xuất biện pháp xử lý phù hợp cho từng khu vực hay dùng phao để ngăn dầu tràn đến các khu vực nhạy cảm.
Nhóm nghiên cứu của Viện Dầu khí dự kiến sẽ cho ra đời một chương trình tương tự phục vụ cho khu vực cửa biển Gành Rái - Vũng Tàu, là nơi có khả năng xảy ra các va chạm gây sự cố tràn dầu.
Kiên Cường

Bản đồ thế giới 3D nhỏ nhất tạo bằng kĩ thuật in khắc nano mới

Các nhà nghiên cứu IBM vừa sử dụng một đầu nhọn kích cỡ nanomet tạo ra được những chi tiết nhỏ cỡ 15 nm trong những chất cản hữu cơ, chúng thường được sử dụng để sản xuất chip bán dẫn. Đây là nửa kích thước của những cấu trúc có thể tạo ra bằng những phương pháp thông thường như in khắc chùm điện tử. Kĩ thuật trên còn được dùng để tạo ra một mẫu nhỏ xíu của Matterhorn [một ngọn núi tại biên giới Thụy Sĩ – Italy] – và có thể giúp các nhà sản xuất chip chế tạo những mạch điện nhỏ hơn so với hiện nay.
Các chip máy tính và những dụng cụ vi điện tử khác được chế tạo bằng kĩ thuật in khắc quang học và chùm điện tử, chúng thường được sử dụng để tạo ra những mẫu vân trên chất cản hữu cơ. Tuy nhiên, những kĩ thuật này không hoạt động tốt cho lắm khi chế tạo những cấu trúc nhỏ hơn khoảng 30 nm vì cái gọi là “các hiệu ứng gần sát”. Đây là chỗ các chùm electron hoặc quang học bắt đầu xâm lấn lên những khu vực láng giềng không trông đợi ở trong chất cản làm cho những chi tiết lớn hơn như mong muốn.
Các nhà nghiên cứu IBM đã sử dụng kĩ thuật in khắc nano mới của họ tạo ra bản sao 3D cao 25 nm này của đỉnh Matterhorn. (Ảnh: IBM Research, Zurich)
Armin Knoll cùng các đồng nghiệp ở Zurich, Thụy Sĩ, và các đồng nghiệp ở Almaden, California, và Yorktown Heights, New York, vừa phát triển một phương pháp mới khắc phục được trở ngại này. Kĩ thuật in khắc đầu quét của họ sử dụng một đầu nhọn nano đã làm nóng để làm bay hơi cục bộ chất liệu khỏi một màng mỏng thủy tinh hữu cơ. Các vân mẫu nano sinh ra khi đó có thể truyền sang silicon – chất liệu điện tử được sử dụng rộng rãi nhất – sử dụng những kĩ thuật vi chế tạo chuẩn.
“Việc có thể truyền những vân mẫu theo kiểu này mở ra những viễn cảnh mới cho việc chế tạo điện tử học kích cỡ nano và những đối tượng trong các lĩnh vực đa dạng từ công nghệ chip tương lai và quang điện tử học, cho đến y khoa và các khoa học về sự sống”, các nhà nghiên cứu cho biết.
Đầu nhọn trên dài 500 nm và rộng vài nm tại chóp đỉnh của nó. Nó được gắn với một bao lơn chìa ra quét qua bề mặt của chất liệu với độ chính xác đến 1 nm. Bằng cách áp dụng nhiệt và lực, đầu nhọn đó có thể loại vật liệu chất nền dựa trên những khuôn mẫu đã xác định trước, hơi na ná một “máy xay nano”, Knoll nói.
Đội IBM chọn sử dụng thủy tinh hữu cơ trong thí nghiệm chứng minh trên nguyên tắc của họ vì các liên kết giữa các phân tử trong chất liệu này có thể dễ dàng bị phá vỡ ở nhiệt độ của đầu nhọn (300–500 °C).
Kĩ thuật mới cũng rẻ hơn kĩ thuật in khắc chùm điện tử vì nó sử dụng ít năng lượng hơn và có thể đặt dễ dàng lên trên bàn – ngược hẳn với các máy chùm điện tử, chúng là những dụng cụ kềnh càng hơn nhiều. Nó có thể dùng để tạo những khuôn mẫu 2D hoặc những “tác phẩm điêu khắc” 3D bởi nhiều vòng khắc liên tiếp. Thật vậy, đội khoa học đã dựng nên một bản sao 3D cao có 25 nm của đỉnh Matterhorn, ngọn núi nổi tiếng ở Thụy Sĩ.

Bản đồ thế giới 3D nhỏ nhất, khắc trên một lớp polyphthalaldehyde dày 250 nm. (Ảnh: Adv. Mat.)
Các nhà khoa học cũng đã tạo ra bản đồ thế giới 3D nhỏ nhất từ trước đến nay, sử dụng một đầu nhọn ở nhiệt độ cao hơn, 700oC. Họ có thể tạo ra tấm bản đồ trên chỉ trong chừng dăm ba phút.
Đội nghiên cứu đang hi vọng thương mại hóa công nghệ trên, và còn làm cho nó được sử dụng rộng rãi trong các nhà nghiên cứu ở các trường đại học. “Việc này sẽ giúp phát triển công nghệ đi xa hơn và mở rộng những ứng dụng tiềm năng của nó”, Knoll nói. Các nhà nghiên cứu còn có kế hoạch cải tiến kĩ thuật trên để nó có thể khắc những khuôn mẫu nhỏ hơn nữa và sâu hơn nữa, đồng thời hoạt động nhanh hơn.
Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science.
Theo physicsworld.com

Bản đồ MMap và GPS cho điện thoại di động

Vừa qua nhóm Mobile Map đã chính thức công bố phiên bản thử nghiệm đầu tiên của phần mềm MMap. Phần mềm tra cứu bản đồ, địa điểm, tìm đường, tích hợp với hệ thống định vị toàn cầu GPS để cung cấp thông tin và dẫn đường trên các điện thoại di động. Phần mềm hỗ trợ điện thoại Symbian, BlackBerry và rất nhiều các điện thoại di động bình thường khác.
Chưa thật hoành tráng như Vietmap cho PPC, chưa nhiều bản đồ như eMap nhưng MMap thật sự có tiềm năng rất lớn. Sau đây mời bạn xem qua một số tính năng chính của phần mềm MMap

1. BẢN ĐỒ VẼ CHẤT LƯỢNG TỐT
MMap cung cấp các bản đồ số dạng Vector với chất lượng cao. Trong phiên bản thử nghiệm MMap có sẳn bản đồ TP.HCM và Hà Nội. Theo tác giả, khi phát hành chính thức MMap sẽ sẳn sàng với hơn 10 bản đồ là các Thành phố lớn trên khắp cả nước, và số lượng sẽ được thực hiện nhiều hơn cho đến khi đầy đủ 64 tỉnh thành.


2. THÔNG TIN CUNG CẤP PHONG PHÚ
Ngoài thông tin về đường phố, MMap còn hiển thị và cho phép tìm kiếm các thông tin địa điểm như trường học, ngân hàng, atm, trạm xăng, nhà hàng, cafe,…

3. CHỨC NĂNG DẪN ĐƯỜNG, ĐỀ NGHỊ LỘ TRÌNH
MMap có thể dùng tìm ra đường. Nếu chọn một điểm nào đó làm Điểm đi (xuất phát), rồi một điểm nào đó làm Điểm đến thì MMap sẽ đưa ra một lộ trình đề nghị từ Điểm đi cho đến Điểm đến.

4. TÍCH HỢP GPS
MMap khi chạy trên các điện thoại GPS có thể bật các tính năng hiển thị thông tin GPS (tọa độ, độ cao, tốc độ, quảng đường,…) và tọa độ GPS sẽ kết nối với bản đồ và thay đổi trực tuyến khi người dùng di chuyển. Tính năng GPS đặc biệt hữu dụng cho việc dẫn đường.

5. HỖ TRỢ CHẠY TRÊN SYMBIAN, BLACKBERRY VÀ CÁC ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG KHÁC
  1. Hỗ trợ nhiều dòng máy (Nokia, Sony Ericssion, Motorola, Samsung), các máy hỗ trợ MIDP 2.0.
  2. Có màn hình cảm ứng và không cảm ứng.
  3. Hỗ trợ hiển thị tiếng Việt trên các máy có khả năng hiển thị Font Unicode. Hỗ trợ Tiếng Việt có dấu cho BlackBerry.
  4. BlackBerry có nhiều dòng máy được hỗ trợ (OS 4.1 trở lên), tuy nhiên các máy đời cũ chạy khá chậm
TÍNH NĂNG ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ RA MẮT TRONG BẢN CHÍNH THỨC
  • Nhiều bản đồ hơn.
  • Tìm địa điểm lân cận.
  • Cập nhật thêm nhiều thông tin địa điểm.
  • Bổ sung các ký hiệu và thông báo dẫn đường (đi thẳng, quẹo trái, quẹo phải,….)

Tác giả còn cho biết thêm trong tương lai có thể sẽ tích hợp bản đồ 3D, cung cấp dữ liệu Wifi và nhiều tính năng khác. Phiên bản cho Windows Mobile, iPhone và GPhone đang được tiến hành.

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG Cài đặt xong, chạy MMap. Lầu đầu tiên bạn sẽ được yêu cầu mở một bản đồ. Sau khi mở bản đồ bạn có thể bật menu lên và sử dụng các chức năng. Bạn có thể di chuyển, phóng to thu nhỏ. Các phím tắt được sử dụng là phím số. Danh sách như sau:

Hướng dẫn chi tiết có thể xem ngay trong chương trình MMap bằng cách bật Menu và chọn Hướng dẫn.

THÔNG TIN GIÁ CẢ

Phiên bản Demo phát hành miễn phí, phiên bản chính thức theo tác giả sẽ được bán với giá khá rẻ, vài chục ngàn đồng lẻ.

Mọi chi tiết về phát hành và giá cả sẽ đăng tải tại Tinhte.com.

DOWNLOAD, CÀI ĐẶT VÀ HỖ TRỢ Phiên bản Demo được sử dụng đến cuối tháng 11, cho đến khi phiên bản chính thức được phát hành.
Do mới chỉ là bản Demo nên MMap còn tồn tại khá nhiều điều chưa hoàn thiện cũng như các lỗi trong quá trình sử dụng. Rất mong các bạn đóng góp ý kiến. Các thắc mắc hỗ trợ tác giả sẽ trả lời trực tiếp trong bài này.
DOWNLOAD, CÀI ĐẶT VÀ HỖ TRỢ
  1. Phiênbản Demo được sử dụng đến cuối tháng 11, cho đến khi phiên bản chính thức được phát hành.Do mới chỉ là bản Demo nên MMap còn tồn tại khá nhiều điều chưa hoàn thiện cũng như các lỗi trong quá trình sử dụng. Rất mong các bạn đóng góp ý kiến. Các thắc mắc hỗ trợ tác giả sẽ trả lời trực tiếp trong bài này.Cài đặt
    Các bạn download file tương ứng cho điện thoại của mình và tiến hành cài đặt như các ứng dụng Java bình thường.
  2. Phiên bản dành cho BlackBerry (có thể cài file alx như bình thường hoặc chép MMap.jar vào thẻ và cài):
Lưu ý: Đọc kỹ thông tin, hướng dẫn bên trên trước khi dùng.

www.ticsoft.com


Google Maps ra mắt tính năng “Tải bản đồ”

Sáng ngày 7 tháng Bảy giờ Mỹ, Google đã thông báo trên trang tin Google Mobile Blog - trang phát ngôn chính thức của ứng dụng Google dành cho các thiết bị di động - về việc ra mắt tính năng “tải bản đồ” dành cho Android.

Tính năng mới "Download Map Area" của Google Maps mang lại nhiều lợi ích cho người dùng Android 


Như lời đồn đại trước đó, Google Maps cho phép bạn tải dữ liệu bản đồ về điện thoại của bạn. Bởi thế, bạn có thể nhận được thông tin chi tiết ngay cả khi bạn đang ở ngoài vùng phủ sóng. Mọi thứ đều đã có sẵn trên Maps Labs, tất cả những gì bạn cần làm là lựa chọn một trang địa điểm mà bạn muốn truy cập, đi đến mục More, và chọn nút “Download Map Area” để tải về khu vực bạn muốn xem. Toàn bộ bản đồ khu vực nằm trong phạm vi bán kính 10 dặm đều được lưu lại, nhưng tất nhiên là sẽ không bao gồm xem truyền hình vệ tinh, các tòa nhà định dạng 3D, và bản đồ này cũng sẽ không cho bạn có khả năng nhận được hướng chỉ dẫn đường mà không có kết nối dữ liệu nào thông qua mạng internet. Dữ liệu bản đồ sau khi lưu vào máy có thể xóa bất cứ lúc nào, và được tự động xóa sạch 30 ngày sau đó.

Google Maps Labs cũng cung cấp một vài công cụ khác, ví dụ như thanh Scale để có thể phóng to hay thu nhỏ màn hình một cách dễ dàng, và một công cụ đo lường để tìm ra khoảng cách từ điểm A đến điểm B.

Không những vậy, Google Maps còn mang đến nhiều tính năng độc đáo như tính năng tìm kiếm dựa trên giọng nói, lLatitude- tính năng cho phép tìm kiếm bạn bè, và gần đây là tính năng Transit Navigation. Với dịch vụ này, người dùng có thể nhận được bản hướng dẫn chi tiết về tình hình giao thông tại hơn 400 thành phố trên toàn thế giới.

Bộ nhớ Offline là sự bổ sung lớn dành cho Google Maps, đặc biệt là với những vị khách thường xuyên đi du lịch mà không muốn phải trả thêm phí chuyển vùng khi di chuyển tới một thành phố khác. Đối với một chiếc smartphone, bộ nhớ lưu trữ là 32GB nhưng phần lớn dung lượng này được dùng cho việc lưu giữ các bài hát, đoạn nhạc. Hy vọng rằng tính năng “Tải bản đồ” mới này sẽ sớm được hoàn thiện, chuyển từ bản Beta sang bản chính thức và Google Maps sẽ có thêm một số lựa chọn mới.

Google Maps 5.7 sẽ hỗ trợ cho các thiết bị chạy phiên bản Android 2.1 trở lên và hoàn toàn miễn phí trên kho ứng dụng Android Market. Người dùng có thể truy cập vào địa chỉ https://market.android.com để tải ứng dụng về cho “dế yêu” của mình.

Clip về Google Maps 5.7:

VTC New

LG Optimus 3D trang bị ‘bản đồ’ 3D

LG sẽ tạo ra sự đột phá với ứng dụng Wikitude 3D trên smartphone Optimus 3D sắp được bán ra.
Người dùng LG Optimus 3D có thể trải nghiệm nội dung 3D với công nghệ trình duyệt 3D tăng cường thực tế mới. Ảnh: Gsmarena.
LG vừa công bố mẫu smartphone Optimus 3D sẽ được tích hợp trình duyệt 3D tăng cường thực tế. Đây là công nghệ sử dụng các cảm biến của máy tính (hình ảnh, đồ họa, GPS) để tìm kiếm các nội dung, địa điểm xung quanh thông qua hình ảnh 3D của camera.
Đây là ứng dụng được phát triển trên nền 2D xuất hiện năm 2008 trên mẫu smartphone chạy Android đầu tiên T-Mobile G1, phần mềm mà chỉ cần bật máy, giơ camera lên sẽ xác định vị trí, cho phép người dùng tìm kiếm các địa điểm như nhà hàng, bảo tàng, ngân hàng, các thông điệp trên status Twitter, ảnh từ Flickr trong môi trường không gian thực.
So với công nghệ 2D, việc sử dụng hình ảnh 3D trên di động LG chi phép trình chiếu các vật thể chồng chéo dễ dàng hơn nhờ vào công nghệ ba chiều và độ sâu của ảnh.
Cơ sở dữ liệu thông tin của ứng dụng Wikitude 3D bao gồm 100 địa điểm trên toàn thế giới. Trình duyệt 3D mới sẽ hỗ trợ 12 ngôn ngữ và các ngôn ngữ khác sẽ được cập nhật sau.
Người sử dụng có thể tải Wikitude 3D miễn phí và phần mềm này sẽ được ra mắt từ gian ứng dụng LG World tích hợp trên máy.
http://cafef1.com

Bản đồ 3D: tương lai của mật khẩu trực tuyến

Với một siêu hacker máy tính và mã độc ghi lại ký tự gõ phím, những mật khẩu truyền thống đã không còn an toàn nữa. Để khắc phục điểm yếu này, các chuyên gia bảo mật của BitDefender đang phát triển phương pháp truy cập vào những khu vực đòi hỏi an ninh cao, đó là: nhấp chuột vào một bản đồ 3D.
Ảnh minh họa: Internet
Được giới thiệu tại cuộc hội thảo về bảo mật hệ thống mạng tại Viện Công nghệ thông tin NewYork tuần trước, Giám đốc bộ phận nghiên cứu an ninh của BitDefender, ông Catalin Cosoi đã mô tả cách người sử dụng có thể ghi nhớ chính xác những điểm trên bản đồ vệ tinh 3D một thành phố, với giá trị tọa độ sẽ được sử dụng làm mã truy cập. Bằng cách phóng to tấm bản đồ lên độ phân giải lớn, người dùng sẽ tạo được một dạng mật khẩu bằng hình ảnh mà không người nào cũng như mã độc nào có thể lần ra.
“Ý tưởng mấu chốt ở đây là bạn có một bộ dữ liệu để tạo mật khẩu với cấu trúc rất sâu. Bạn có thể tập trung vào bản đồ của bất cứ địa điểm nào. Có lẽ tốt hơn là bạn nên chọn một bản đồ của một nơi mà bạn chưa từng đến, như vậy bạn sẽ không chọn nơi thân quen như địa chỉ nhà riêng hay quê hương mình chẳng hạn” - ông Catalin Cosoi lý giải - “Bạn có thể có 10 con số của kinh độ và 10 con số vĩ độ, vậy là bạn có một mật khẩu cực mạnh với 20 con số bí ẩn”.
Quy tắc bảo mật sử dụng nhấn chuột lên một bức ảnh thay vì gõ mật khẩu đã tồn tại 15 năm nay. Việc nhấp chuột lên một bức ảnh cho phép chống lại những chương trình dò tìm mật khẩu bằng cách  sử dụng từ điển, đặc biệt là những chương trình đã phát triển cả thập kỷ nay cho phép dò tìm tọa độ di chuột để phá mật khẩu dạng ảnh.
Một ví dụ về bản đồ mật khẩu là thành phố Mahhattan, New York - Ảnh: BitDefender
Bằng cách sử dụng bản đồ có phóng to tọa độ, phương pháp mới này khiến chương trình dò tìm tọa độ di chuột trở thành vô dụng. Chắc chắn là virus có thể biết điểm nào được nhấn chuột lên, nhưng ít nhất nó phải biết là bản đồ nào đang được tìm đến cũng như độ phóng to là bao nhiêu lần. Chương trình dò tìm mật khẩu cũng không thể ghi nhận được tọa độ được sử dụng làm mật khẩu.
Ông Catalin Cosoi khẳng định: “Đây là phát minh mang tính cách mạng của BitDefender. Chúng tôi là người tiên phong trong công nghệ này và sẽ tiếp tục giữ vị thế lãnh đạo thị trường bảo mật về khía cạnh công nghệ”.
BitDefender hiện đang tiến hành đàm phán cùng 15 công ty Internet lớn nhất thế giới, bao gồm: Google, Amazon, Alibaba, Baidu, eBay, Salesforce... để cùng thực thi ý tưởng đột phá này. 
PHONG VÂN

Ứng dụng GIS trong quản lý Hạ tầng giao thông


Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là công nghệ quản lý thông tin trên nền bản đồ địa lý. Công nghệ này phát triển gắn liền với sự ra đời của bản đồ số và ngay sau đó, cùng với sự phát triển của các công nghệ có liên quan như công nghệ xây dựng bản đồ số, công nghệ định vị toàn cầu qua vệ tinh (GPS),... tạo ra một sự phát triển bùng nổ của việc ứng dụng bản đồ số.
Do đặc điểm là gần như mọi hoạt động của con người đều phải gắn liền với 1 địa điểm nào đó, nghĩa là với 1 tọa độ địa lý xác định, GIS trở thành công cụ đặc biệt hữu dụng trong quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt là trong các công tác quản lý đô thị như quản lý đất đai, quản lý mạng lưới hạ tầng, quản lý quy hoạch kiến trúc, xây dựng, quản lý giao thông, v.v.;
Ở Việt nam, GIS đã được xem xét ứng dụng ngay sau những bước biến đổi lớn trong quá trình Đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, từ những năm sau 1995, các nhà cung cấp công nghệ lớn trong lĩnh vực này như ESRI, Intergraph, MapInfo, AutoDesk... đã tích cực tăng cường sự hiện diện với nhiều  hoat động giới thiệu công nghệ. Các tổ chức cung cấp tài chính quốc tế với ý thức được tầm khả dụng của công nghệ này, cũng rất nhiệt tình cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS. Các đơn vị cung cấp công nghệ và dịch vụ trong nước cũng rất hăng hái tuyên truyền cho GIS. Các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt tại TP HCM và Hà nội, cũng đã đặc biệt chú ý xây dựng các dự án ứng dụng công nghệ GIS vào các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý đô thị. Kết quả là đã cho ra đời nhiều báo cáo nghiên cứu khả thi về ứng dụng GIS, cả do các tổ chức tư vấn quốc tế thực hiện, cả do các đơn vị trong nước thực hiện. Rất nhiều cuộc hội thảo cả ở mức thành phố, cả ở mức quốc gia, đã được tổ chức. Các kết luân được đưa ra tại các báo cáo cũng như các cuộc hội thảo đều khẳng định sự cần thiết cũng như tính khả thi của việc ứng dụng công nghệ GIS.
Thật đáng tiếc là sau rất nhiều nỗ lực như thế của rất nhiều tổ chức, cá nhân, cũng như đã tiêu tốn không ít tiền của từ các nguồn khác nhau, mọi chuyện đang dần đi vào quên lãng. Cả hai dự án mục đích lớn là HanoGIS cho ứng dụng GIS tại Hà nội và HCM GIS (trước đó gọi là SagoGIS) cho ứng dụng GIS tại TP HCM đều đã chìm xuồng, còn các công ty chuyên về GIS thì hiện hầu hết đã ngậm ngùi chuyển hướng sang các lĩnh vực chuyên ngành khác. Lý do thì có nhiều, như cuộc trang cãi không dứt về công nghệ cần lựa chọn (chủ yếu giữa Intergraph với GEOMEDIA và ESRI với ARCINFO hay tự xây dựng phần mềm nguồn mở), là sự mơ hồ về khả năng có được bộ dữ liệu đầy đủ, đầu tiên là dữ liệu bản đồ nền, rồi đến là các dữ liệu chuyên ngành cần thiết, kế đến nữa là sự không tin tưởng vào khả năng phối hợp, vận hành một hệ thống tích hợp đa ngành giữa các cơ quan quản lý,...      
Không thể nói rằng mọi cố gắng đều đã đổ sông đổ biển: khá nhiều hệ thống ứng dụng nhỏ lẻ ở mức chuyên ngành hẹp đã được xây dựng trong suốt thời gian vừa qua, cũng có tác dụng ở mức vừa phải đối với công tác quản lý, đặc biệt đối với các lĩnh vực bắt buôc phải dùng thông tin dựa trên nền bản đồ. Tuy vậy, thật đáng thất vọng là một công cụ mang tính tích hợp tổng thể như GIS lại không được triển khai ứng dụng ở quy mô tích hợp tổng thể như đáng lẽ phải có. 
Trong bối cảnh như vậy, thật đáng khích lệ là sự cố gắng tiếp tục đưa GIS vào triển khai ứng dụng ở những lĩnh vực, những cơ quan nào mà tính khả thi, tính thiết thực đã được chứng tỏ cụ thể bằng thực tiễn.    
Đầu tháng 6/2009, Công ty Cổ phần Đầu tư Địa Việt (DiaViet JSC) bằng nguồn vốn sự nghiệp khoa học ở quy mô một đề tài, đã thực hiện thành công việc nghiên cứu triển khai “Ứng dụng GIS trong quản lý và lập kế hoạch duy tu nâng cấp, xây mới hạ tầng giao thông, triển khai thí điểm trên địa bàn Quận 1”. Việc triển khai  nghiên cứu ứng dụng này vào công tác quản lý hạ tầng giao thông đô thị đã nhận được sự ủng hộ và hơp tác nhiệt tình của Khu Quản Lý Giao Thông Đô Thị Số 1  - Sở Giao Thông Vận Tải TP.HCM. Trong khuôn khổ của nghiên cứu ứng dụng này, chỉ với nguồn kinh phí hạn chế,  đã thực hiện các công việc sau:
- Xây dựng và chuẩn hóa cấu trúc CSDL các đối tượng hạ tầng giao thông như: đường, cầu, cây xanh, biển báo, hệ thống tín hiệu giao thông và hệ thống chiếu sáng. Với cấu trúc khung này, Khu QL GTĐT Số 1 và các Khu QLGTĐT khác có thể dễ dàng mở rộng phạm vi dữ liệu ra các quận huyện còn lại trong phạm vi quản lý của mình;
- Hoàn thành việc xây dựng CSDL tất cả các đối tượng hạ tầng giao thông (đường, cầu, cây xanh, biển báo, hệ thống tín hiệu giao thông và hệ thống chiếu sáng) trên tất cả các tuyến đường thuộc địa bàn Quận 1. Các cán bộ của Phòng Quản lý Hạ tầng và Duy tu thuộc Khu 1 và Công ty Địa Việt đã phối hợp hoàn thành tốt công tác điều tra đo đạc vị trí và xây dựng CSDL về tất cả các đối tượng HTGT. Các kinh nghiệm thu được qua quá trình triển khai thử nghiệm trên địa bàn Quận 1 này là tiền đề và cơ sở vững chắc cho các bước mở rộng tiếp theo trên phạm vi toàn thành phố.

 Hình minh họa CSDL HTGT đã được xây dựng
- Hoàn thành việc xây dựng ba nhóm công cụ đáp ứng hầu như đầy đủ tất cả các nghiệp vụ quản lý và lập kế hoạch duy tu các đối tượng hạ tầng giao thông trên địa bàn thành phố tại các khu quản lý giao thông đô thị, bao gồm:

  • Nhóm công cụ phục vụ quản lý và cập nhật dữ liệu: Các công cụ này cho phép các chuyên viên xem và cập nhật thông tin thuộc tính của từng loại đối tượng hạ tầng, bao gồm cả việc tìm kiếm và định vị đối tượng trên bản đồ.
  • Nhóm công cụ tạo báo cáo thống kê: Tạo các báo cáo thống kê chi tiết theo đối tượng, các báo cáo tổng hợp theo tuyến hoặc các báo cáo thống kê về khối lượng duy tu. Các báo cáo này có thể được tạo bất thường, hoặc định kỳ theo tuần, tháng, năm… dưới dạng file excel để có thể lưu hoặc in báo cáo.
  • Nhóm công cụ lập kế hoạch và ước lượng chi phí duy tu: Cho phép chọn ra các tuyến đối tượng (chiếu sáng, tín hiệu giao thông) đã đến thời điểm duy tu, và tính ra dự toán duy tu cho các tuyến này dựa trên định mức và đơn giá duy tu của các đối tượng đó.
Các kết quả đã đạt được này đương nhiên còn chưa được hoàn chỉnh và cần thiết phải chỉnh sửa, bổ sung. Tuy nhiên, tất cả những người tham gia nghiên cứu đều tin tưởng rằng, nếu nghiên cứu này được ứng dụng triển khai ở quy mô mở rộng trên địa bàn toàn thành phố, sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng về mặt quản lý, kinh tế và xã hội. Có thể chỉ ra một số lợi ích cơ bản gồm:
- Về mặt quản lý: giúp đơn giản hóa công tác quản lý hạ tầng giao thông và nhất là đảm bảo tính đồng bộ, chính xác của dữ liệu hạ tầng giao thông từ các Khu QL GTĐT đến Sở Giao thông Vận tải, từ đó, hỗ trợ đắc lực hơn cho công tác quản lý và quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng giao thông thành phố.
- Về mặt kinh tế: Giảm chi phí đáng kể cho công tác quản lý và cập nhật dữ liệu hạ tầng giao thông cho Sở GTVT nói riêng và cho các đơn vị quản lý hạ tầng nói chung;
- Về mặt xã hội: Việc triển khai mở rộng hệ thống này trên toàn thành phố sẽ xây dựng được một cơ sở dữ liệu đầy đủ và đồng bộ về hạ tầng giao thông đô thị thành phố. Cơ sở dữ liệu này khi được chia sẻ cho các sở ngành khác sẽ phục vụ rất đắc lực cho công tác quản lý và quy hoạch đô thị. Người dân thành phố thông qua trang Web GIS của Sở GTVT có thể xem trực quan về hệ thống giao thông (chiều lưu thông, cấm/hạn lưu thông trên các tuyến đường) và các thông tin về các công trình duy tu sửa chữa hạ tầng giao thông nhằm giúp vạch lộ trình đi lại cho mình được thuận tiện hơn cũng như cùng với các đơn vị có liên quan thực hiện việc kiểm tra, giám sát tốt hơn các đơn vị thi công các công trình hạ tầng.
Tất nhiên, như đã nói ở trên, việc triển khai ứng dụng một công nghệ tích hợp như GIS ở một địa bàn quy mô lớn như TP HCM dĩ nhiên đòi hỏi đầu tư mức kinh phí xứng đáng, đầu tiên là cho thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu, tiếp đến là cho công nghệ, rồi đến việc đào tạo đội ngũ năng lực quản lý vận hành. Mặc dù vậy, ứng dụng công cụ hiện đại để khẩn cấp cải tiến và nâng cao năng lực công tác quản lý đô thị, đặc biệt là trong các lĩnh vực đang nóng bỏng như hệ thống kỹ thuật hạ tầng giao thông, là  điều không thể không làm trong giai đoạn hiện nay. Một khi tính khả dụng của công nghệ đã được chứng minh, đã đến lúc cần một sự quyết đoán của các nhà lãnh đạo.

Ứng dụng GIS trong quản lý lún sụt nền đường

TP.HCM đang đối mặt với tình trạng xuất hiện các hố sụt ngày càng nhiều trên các tuyến đường.
TP.HCM đang đối mặt với tình trạng xuất hiện các hố sụt ngày càng nhiều trên các tuyến đường. Điều này gây cản trở giao thông và có thể nguy hiểm đối với tính mạng của người dân.
Trước tình hình đó, thành phố giao cho đoàn chuyên gia của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật điều tra khảo sát, đánh giá nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khắc phục.

Theo Sở GTVT TP.HCM, từ đầu năm đến nay Sở đã phát hiện nhiều vị trí sụt lún bằng máy GEORADAR (thiết bị dò tìm bằng són g điện từ trong các công trình ngầm), trong đó có 69 vị trí được xác định là sẽ xảy ra sụt lún nếu không kịp thời phát hiện và xử lý. Hiện tại, Sở đã yêu cầu các cơ quan liên quan xử lý được 46 vị trí, số còn lại vẫn đang trong quá trình khắc phục. 

Đà Nẵng: Lại sụt lún đường vì công trình thi công

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sụt lún mặt đường nhưng theo Sở GTVT nguyên nhân chủ yếu từ lỗi của hệ thống các công trình ngầm đã xuống cấp. Do đó giải pháp về mặt kỹ thuật để dò tìm sớm phát hiện các khuyết tật của hệ thống công trình ngầm ảnh hưởng trực tiếp đến mặt đường, khắc phục kịp thời bằng máy dò công trình ngầm lúc này là cần thiết.
Theo PGS.TS Lê Văn Trung, GĐ Trung tâm Địa Tin học, Khu Công nghệ phần mềm ĐH Quốc Gia TP.HCM, với đề án ứng dụng GIS trong quản lý lún sụt nền đường của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật, việc ứng dụng GIS nâng cao năng lực quản lý cơ sở hạ tầng giao thông như: cung cấp nhanh thông tin về vị trí sụt lún, thời gian diễn ra, nguyên nhân gây sụt lún, đơn vị quản lý công trình gây ảnh hưởng và các số liệu hình ảnh liên quan...
Đối với các vị trí có khả năng xảy ra lún sụt được phát hiện bởi thiết bị GPR, sẽ được cảnh báo sớm, lập kế hoạch và giải pháp khắc phục sớm nhằm tránh nguy hiểm đối với tính mạng của người dân tham gia giao thông.
Ngoài ra, ứng dụng GIS cho phép thống kê nhanh diễn biến xay ra hố lún sụt theo thời gian và từng địa bàn quận, huyện; lập báo cáo tự động về vị trí, thời gian và nguyên nhân chính gây ra sự cố. GIS hỗ trợ tác nghiệp, phân tích, đánh giá nguyên nhân gây lún sụt dựa trên bản đồ công trình ngầm tại khu vực xảy ra và các số liệu khảo sát, đo đạc có liên quan như: địa chất, mưa...
Tuy nhiên việc khảo sát đánh giá hiện trạng các công trình ngầm trong thành phố phải được tiến hành thường xuyên nhằm đề xuất những giải pháp duy tu, khắc phục sự cố kịp thời phòng tránh tai biến.
Việc ứng dụng GIS trong quản lý đô thị Việt Nam đặc biệt là quản lý những vị trí lún sụt, sẽ từng bước hoàn thiện chương trình quản lý cơ sở hạ tầng có hệ thống và phân tích, thống kê hiệu quả các công trình ngầm một cách chính xác, tiết kiệm về thời gian. Những giải pháp từ GIS sẽ là cơ sở để dự báo, quản lý, khai thác hệ thống cơ sở hạ tầng theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững.


Nguồn: www.giaothongvantai.com