DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


BÀI GIẢNG ARCGIS


Độc giả tải Giáo trình link Mediafire tại đây: Download

Ứng dụng GIS trong quản lý tài nguyên môi trường

Việc áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực dữ liệu không gian những năm gần đây đã tiến những bước dài: từ hỗ trợ lập bản đồ (CAD mapping) sang hệ thống thông tin địa lý (GIS). Để ứng dụng hiệu quả hơn những công nghệ phần mềm này, ngày 02/02, tại Hà Nội, Cục Đo đạc và Bản đồ - Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các đơn vị nghiên cứu, sản xuất và phân phối phần mềm về Hệ thống thông tin địa lý (GIS) có trụ sở tại Việt Nam như: ESRI, GIS Development, AAMHatch và HP, đã tổ chức buổi Tọa đàm “Cập nhật công nghệ không gian địa lý”.
Buổi tọa đàm là cơ hội để các công ty giới thiệu về những công nghệ phần mềm và những sản phẩm mới có nhiều khả năng ứng dụng hiệu quả hơn trong đo đạc và lập bản đồ số, cũng như quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường nói chung, đồng thời, cũng là dịp lắng nghe những nhu cầu mới và giải đáp thắc mắc từ phía người sử dụng các phần mềm về GIS, nhằm tiếp tục hoàn thiện sản phẩm của mình. Hiện nay tại Việt Nam, đối tác lớn nhất đang sử dụng các sản phẩm phần mềm GIS là Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phát biểu khai mạc tại tọa đàm, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Thái Lai đã nhấn mạnh sự cần thiết phải mở rộng, nâng cấp và ứng dụng có hiệu quả công nghệ GIS trong quản lý tài nguyên và môi trường.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tuấn Hùng - Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, việc phát triển và số hóa bản đồ ứng dụng công nghệ GIS cũng gặp không ít khó khăn. Đó là nguồn nhân lực hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng để vận hành có hiệu quả các hệ thống phần mềm và công cụ GIS, cộng với sự thiếu thống nhất trong việc sử dụng công cụ GIS.

Thách thức đó đang là cản trở lớn nhất đối với 2 dự án mà Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đang tiến hành, đó là: Dự án Xây dựng bản đồ tỷ lệ 1:2000 và 1:5000 các thành phố, đô thị, khu kinh tế và khu công nghiệp của cả nước và Dự án Xây dựng Bản đồ cơ sở dữ liệu thông tin địa lý các tỉnh thành Việt Nam tỷ lệ 1:10.000 (dự kiến sẽ kết thúc vào năm 2011).

Trong thời gian tới, để khắc phục những khó khăn trên, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam sẽ phối hợp với ESRI và GIS Development xây dựng hệ thống chuẩn thông tin địa lý và không gian địa lý cho Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Cũng tại buổi tọa đàm, các đại biểu đã được nghe hai bài trình bày về “Quá trình phát triển của công nghệ GIS nói chung cũng như công nghệ không gian địa lý nói riêng” của chuyên gia Mark Cygan (ESRI) và “Những tính năng ưu việt của một số phần mềm mới cập nhật về công nghệ không gian địa lý có khả năng áp dụng cho Việt Nam” của chuyên gia David Jonas (AAMHatch).

Hiện nay, trong lĩnh vực công nghệ số đã có những phần mềm khá mạnh về GIS có khả năng tích hợp với những phần mềm khác và tương thích với nhiều thiết bị số khác để giải quyết các vấn đề quản lý tài nguyên như: ArcGIS (DesktopGIS, SeverGIS, MobileGIS và OnlineGIS), LiDAR, Pitrometry, Site See, …

Việc nhanh chóng nắm bắt, lựa chọn và đưa vào sử dụng những tiến bộ của các công cụ GIS nói trên là cơ sở để Bộ Tài nguyên và Môi trường nhanh chóng xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin địa lý quốc gia một cách chính xác. Từ đó đưa công tác quản lý tài nguyên môi trường đạt hiệu quả cao hơn.


Phan Kiên

Cần sớm có hệ thống quy chuẩn về GIS 3D

GIS 3D (Geographic Information System) là hệ thống thông tin địa lý được ứng dụng trong quản lý hạ tầng đô thị. Tại các nước phát triển trên thế giới, GIS 3D đã được ứng dụng rộng rãi và rất thành công.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, mặc dù xuất hiện từ những năm 90 và có dấu hiệu bùng nổ mạnh mẽ trong những năm gần đây, nhưng thực tế vẫn chưa phát huy tối đa ứng dụng của hệ thống này và chưa được nhiều đô thị ứng dụng.

Tiện ích của GIS 3D như thế nào?

Phát biểu tại hội thảo “Ứng dụng GIS 3D trong quản lý hạ tầng đô thị tại Việt Nam” tổ chức ngày 14/6 tại TP.HCM, PGS.TS Lê Văn Trung - Phó Giám đốc Khu công nghệ phần mềm Đại học Quốc gia.TP HCM, cho biết: Một cách dễ hiểu, GIS là hệ thống bản đồ dạng số kết hợp thông tin để giải thích những kí hiệu trên bản đồ đó. Và các thông tin đó sẽ giải thích các câu hỏi như: Ai là chủ căn hộ? Tên con đường là gì? Bề rộng của mặt đường là bao nhiêu? Đâu là cơ quan quản lý? Hệ thống cấp thoát nước, đường dây điện…

Tất cả thông tin này đều được đưa vào một môi trường xử lý, giúp các nhà quản lý đô thị nắm bắt kịp thời, chính xác hiện trạng của từng mặt bằng đô thị, phát hiện những bất trắc xảy ra một cách sớm nhất…

Hiện tại ở Việt Nam, GIS đang được ứng dụng trong các ngành khoa học có liên quan đến dữ liệu không gian, từ những ngành khoa học tự nhiên đến các ngành khoa học xã hội. Có thể kể đến những ứng dụng của GIS trong điện lực, công nghệ thông tin, cấp thoát nước, phương tiện vận tải và vận chuyển chất thải, khai thác nước ngầm…

Vì sao GIS chưa phát triển rộng rãi?

Tuy nhiên, do thực tế việc quản lý hạ tầng đô thị của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập và chồng chéo nên hệ thống GIS không những không thể phát huy hết các ứng dụng mà còn gặp phải những rào cản.

Ví như ở TP.HCM, có đến 6 đơn vị cùng tham gia quản lý hạ tầng đô thị. Điều này dẫn đến tình trạng khi thi công sửa chữa các công trình ngầm, do không có đầy đủ dữ liệu hiện trạng của các công trình bên dưới nên dẫn đến tình trạng đơn vị này mới lấp xuống thì đơn vị khác lại đào lên… Các công trình ngầm đang lộn xộn phía dưới mặt đất là vấn đề nan giải hiện nay của đô thị Việt Nam.

Mặt khác, các địa phương và cơ quan vẫn lúng túng khi nhìn nhận khả năng thực tiễn của công nghệ GIS trong quản lý và phát triển đô thị. Hơn nữa, việc áp dụng GIS đòi hỏi đầu tư kinh phí lớn, đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, biết kết hợp nhiều công nghệ bổ trợ. Nhưng trên thực tế, đội ngũ chuyên gia này đang thiếu. Bên cạnh đó, trang thiết bị có hạ tầng mạng, hệ thống lưu trữ dữ liệu các phần mềm GIS chưa đầy đủ, chưa có sự đồng nhất về hệ thống. Ngân hàng dữ liệu GIS chuyên ngành xây dựng và phát triển đô thị, liên kết đa ngành và quốc gia mới ở giai đoạn đầu hình thành...

Các chuyên gia kiến nghị: việc áp dụng GIS vào công tác quy hoạch là rất cần thiết, tuy nhiên không nên quá cầu toàn. Điều quan trọng là dần dần chỉ ra được tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ GIS đối với xã hội, tổ chức và cá nhân tham gia trực tiếp vào công tác quy hoạch xây dựng.

Các nhà quản lý đề xuất với Bộ Xây  dựng cần phải chuẩn hóa phần mềm quản lý và chuẩn hóa thông tin lưu trữ về quy hoạch, công trình kiến trúc, hạ tầng... Bộ xây dựng quy chế phối hợp quản lý và cung cấp thông tin giữa quản lý quy hoạch và quản lý địa chính để có sự thống nhất về thông tin, tính đầy đủ của dữ liệu như thông tin về đất đai, quy hoạch, cấp thoát nước, điện, thông tin…
http://www.tamnhin.net

SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ GIS TRONG XÂY DỰNG CSDL PHỤC VỤ QUẢN LÝ TỔNG HỢP ĐỚI VEN BỜ TỈNH BÌNH ĐỊNH

1. Mở đầu :
Việc xây dựng phương án quản lý tổng hợp đới ven bờ ( QLTHĐVB ) đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế biển, sử dụng và bảo vệ hợp lý bền vững nguồn tài nguyên ven biển. Để thoả mản các yêu cầu trên, một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc xây dựng phương án QLTHĐVB  là thiết lập một Cơ Sở Dữ Liệu – GIS ( bao gồm một hệ thống thông tin bản đồ và cả thư viện thông tin liên quan đến các tài liệu hiện có ) về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội , môi trường vùng đất và nước ven bờ của khu vực. 
Bài báo này sử dụng công nghệ GIS trong việc một CSDL – GIS cho vùng đất và nước ven bờ của tỉnh Bình Định , và tiềm năng ứng dụng trong việc quản lý tổng hợp đới ven bờ Bình Định .
Việc xây dựng một CSDL – GIS ( bao gồm hệ bản đồ và các thông tin nguồn ) vùng ven bờ Bình Định được xử lý tổng hợp trên cơ sở các kết quả của các đề tài nghiên cứu đã nghiệm thu, các điều tra khảo sát mới nhất vùng đất và nước ven bờ ở Tỉnh , các luật định, chính sách , các chiến lược phát triển kinh tế, khai thác và bảo vệ môi trường của Tỉnh. 
2- Tài liệu và phương pháp nghiên cứu :
Việc xây dựng một CSDL – GIS ( bao gồm hệ bản đồ và các thông tin nguồn ) vùng ven bờ Bình Định được xử lý tổng hợp trên cơ sở các kết quả của các đề tài nghiên cứu đã nghiệm thu, các điều tra khảo sát mới nhất vùng đất và nước ven bờ ở Tỉnh , các luật định, chính sách , các chiến lược phát triển kinh tế, khai thác và bảo vệ môi trường của Tỉnh. 
·        Nhóm dữ liệu để xây dựng bản đồ bao gồm :
+ Các tài liệu liên quan đến vùng đất liền như :
-         Các bản đồ về ranh giới hành chính các cấp ( TL 1/50.000 ) , các thông tin kinh tế  xã hội, điều kiện cơ sở hạ tầng, các cơ sở kinh tế trong tỉnh,…
-         Các bản đồ địa hình , độ dốc, hướng dốc, mạng lưới thủy văn, phân vùng lưu vực ( TL 1/50.000 ) và các thuộc tính đi kèm,…
-         Các bản đồ , bản đồ, sơ đồ về điều kiện khí hậu, khí tượng ( mưa, gió, nền nhiệt-ẩm, … )
-         Các bản đồ hiện trạng sử dụng đất, lớp phủ thực vật,nông hóa thổ nhưỡng ( TL 1/50.000 )     
-         Các bản đồ, sơ đồ về phân vùng chức năng, quy hoạch phát triển kinh tế  ngành ( nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, giao thông, du lịch,… ) ( TL 1/50.000 )
·        Nhóm số liệu trong môi trường nước được thu thập từ  kết quả đo đạc bao gồm :
-         Tài liệu, bản đồ về địa hình đáy, địa hình bờ, bản đồ trầm tích đáy ,…
-         Số liệu, bản đồ, sơ đồ về điều kiện sinh thái, các tham số môi trường
Ngoài ra dựa vào công nghệ GIS, một số phương án phân vùng , quy hoạch chi tiết cũng được thành lập vào đưa vào CSDL – GIS    
Cơ sở dữ liệu – bản đồ GIS khu vực đất và vùng nước ven bờ được xây dựng theo sơ đồ chỉ ra ở hình 1 và các vấn đề chính cần lưu ý sau  :
-         Giai đoạn đo đạc , thu thập dữ liệu là cần thiết khi không có số liệu trong khu vực và chúng phải thường được đo đạc và cập nhật dữ liệu thường xuyên . Hệ thống định vị vệ tinh ( GPS ) trước khi đo đạc cần phải được cài đặt trước cho phù hợp với hệ lưới chiếu quy định chung của cơ sở dữ liệu bản đồ .
-         Giai đoạn đo đạc , thu thập dữ liệu là cần thiết khi không có số liệu trong khu vực và chúng phải thường được đo đạc và cập nhật dữ liệu thường xuyên . Hệ thống định vị vệ tinh ( GPS ) trước khi đo đạc cần phải được cài đặt trước cho phù hợp với hệ lưới chiếu quy định chung của cơ sở dữ liệu bản đồ .
-         Giai đoạn thu thập các bản đồ giấy và số hoá chúng trong phòng thí nghiệm thường được tiến hành đồng thời với giai đoạn I . Do điều kiện lịch sữ các nguồn bản đồ được thu thập từ các nguồn khác nhau thường khác biệt nhau về hệ lưới chiếu ( Projection )  và các thông số đi kèm như độ lệch Đông (False Easting) , độ lệch Bắc (False Northing), kinh tuyến gốc ( Prime meridian ), kinh tuyến chuẩn ( Central meridian ), vĩ độ chuẩn ( Central parallel ), hệ số co giản của quả đất ( Earth’s scale factor ), mốc trắc địa ( Geodetic datum ) , hệ tọa độ trắc cầu ( Geodetic  Ellipsoid ). Sử dụng các công cụ chuyển đổi hệ lưới chiếu trong một số phần mềm GIS thông dụng như ArcInfo, Arview, MGE- Microstation ,… ) cho phép chúng ta chuyển đổi các thông số này  về cùng thông số  chuẩn của hệ lưới chiếu quy định chung trong CSDL .
-         Giai đoạn nắn chỉnh hình học : dựa vào hệ lưới chiếu và các thông số đi kèm ( đọc từ các thông tin gốc có trên bản đồ ).
-         Giai đoạn số hoá bản đồ : trong điều kiện hiện nay, có nhiều công cụ khác nhau để số hoá như  : 
+ Số hóa trực tiếp bằng bàn số ( Calcomp , HP digitizer,… ),
Hình 1: Sơ đồ nhập liệu và xây dựng CSDL bản đồ

+ Số hoá từ  file được quét ảnh (scan) và dùng các phần mềm số hoá bán tự động ( như  Geovect-Microstation, CAD-Overlay Map, GTX, DolVect ,… )
+ Số hóa bằng các phép nội suy số liệu đo đạc ( bằng thuật toán Kridging ) và biến đổi thành file số.
Các công cụ này đều được sử dụng trong quá trình số hoá, trong đó việc số hoá bán tự  động bằng hệ phần mềm Microstation được chúng tôi sử dụng rộng rãi hơn cả .    
Chuyển đổi file số về cùng một hệ lưới chiếu , trong điều kiện thực tế để xây dựng CSDL-GIS ở Bình Định chúng tôi tạm quy định thống nhất chung chuyển mọi loại bản đồ số về hệ lưới chiếu UTM ( Universal Tranvert Mercator), đới 49, datum WGS-84, Elipsoid D-WGS84 với tỉ lệ bản đồ chung là 1/50.000 nhằm tiện việc hiển thị, chồng lớp và phân tích thông tin về sau.
Nhóm số liệu về thông tin nguồn ( Metadata ) bao gồm các tư liệu liên quan đến các luật định, chính sách phát triển kinh tế xã hội, khai thác và bảo vệ môi trường, các tư liệu về hiện trạng ( niên giám thống kê, bản đồ hiện trạng,… ) và các tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế ngành và kế hoạch phát triển kinh tế tổng hợp ( các bản đồ quy hoạch ) của tỉnh. Các tư liệu này được tổ chức, quản lý bằng phần mềm Microsoft Access , có thể liên kết được với CSDL – GIS
           
Thư viện thông tin dữ  liệu ( Metadata ) này cũng được kết nối với CSDL – GIS để hiển thị và truy tìm các thông tin một cách dể dàng.
Cấu trúc dữ liệu của thư viện thông tin nguồn và CSDL-GIS được thể hiện mối quan hệ nội tại của các trường thông tin và được trình bày ở các hình  2 và hình 3
Hình 2: Cấu trúc dữ liệu của Thư viện thông tin (MetaData)   được xây dựng trên MS ACCESS thể hiện mối quan hệ của các trường thông tin
Hình 3 : Cấu trúc dữ liệu của Hệ thông tin bản đồ ( GISMap ) được xây dựng trên MS ACCESS thể hiện mối quan hệ của các trường thông tin
3- CSDL – GIS  tỉnh Bình Định phục vụ quản lý tổng hợp đới ven bờ khu vực  : 
Cơ sở dữ liệu – GIS tỉnh Bình Định là một công cụ phục vụ quản lý tổng hợp đới ven bờ tỉnh Bình Định được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa xây dựng cấu trúc dữ liệu (bằng phần mềm MS ACCESS) và lập trình hướng đối tượng ( bằng phần mềm Visual Basic 6.0 và MapBasic 4.5). CSDL – GIS tỉnh Bình Định  bao gồm hai thành phần chính là Hệ thống thông tin bản đồ nhằm quản lý thông tin bản đồ  và thư viện thông tin nguồn ( MetaData) quản lý các dữ liệu ban đầu của các tài liệu hiện có của tỉnh ( các luật định, chính sách, các dự án, báo cáo, các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội,… ).
Hệ thống thông tin bản đồ  quản lý 7 nhóm bản đồ chính :
-         Nhóm bản đồ địa hình và mạng lưới thủy văn tỉnh Bình Định
-         Nhóm bản đồ điều kiện Khí hậu – Khí tượng  tỉnh Bình Định.
-         Nhóm bản đồ Nông hóa thỗ nhưỡng tỉnh Bình Định.
-         Nhóm bản đồ điều kiện tự nhiên, phân bố  các Hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản ven bờ tỉnh Bình Định.
-         Nhóm bản đồ hiện trạng môi trường tỉnh Bình Định.
-         Nhóm bản đồ điều kiện nhân văn và kinh tế – xã hội tỉnh Bình Định.
-         Nhóm bản đồ phân vùng chức năng và quy hoạch lãnh thổ  tỉnh Bình Định bằng công nghệ GIS.
Thư viện thông tin nguồn ( Metadata ) : bao gồm các tư liệu liên quan đến các luật định, chính sách phát triển kinh tế xã hội, khai thác và bảo vệ môi trường, các tư liệu về hiện trạng ( niên giám thống kê, bản đồ hiện trạng,… ) và các tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế ngành và kế hoạch phát triển kinh tế tổng hợp ( các bản đồ quy hoạch ) của tỉnh. Thư viện thông tin nguồn có cấu trúc  như sau :
+ Mã định danh ( ID ) của dữ liệu ( tự động cập nhật ) 
+ Tiêu đề của dữ liệu
+ Kiểu định dạng ( văn bản, file số  liệu, bản đồ ,…)
+ Kích thước dữ liệu ( số trang, dung lượng file, tỉ lệ bản đồ,… )  
+ Tên tác giả, biên tập viên, cơ quan lưu trử, quản lý dữ liệu.
      + Năm công bố
+ Người cung cấp , thời gian cung cấp
Trên các giao diện này tồn tại nhiều thực đơn ( menu) cho phép cập nhật , sửa chửa , tạo mới các lớp thông tin, tìm kiếm thông tin, liên kết giữa CSDL – Bản đồ và các thông tin văn bản một cách dễ dàng .
Hình 4: trình bày một số giao diện chính của CSDL –GIS tỉnh Bình Định
Hình 4: Một số giao diện thể hiện tính năng hiển thị, truy cập
của Hệ thống CSDL - thông tin địa lý bản đồ tỉnh Bình Định
CSDL - GIS này cho phép việc tìm kiếm thông tin bất cứ dạng nào ( bản đồ hay văn bản ) một cách dễ dàng và giúp cho các nhà chuyên môn, nhà quản lý và cả các nhà ra quyết định có một cái nhìn tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội toàn khu vực và đưa ra các quyết định , các luật định chính sách một cách thuyết phục nhất.
4- Sử dụng công nghệ GIS trong phân vùng chức năng và quy hoạch lãnh thổ :
Một trong những lợi thế của công nghệ GIS là chồng ghép nhiều lớp thông tin khác nhau để phân tích, tính toán và xây dựng các bài toán phân vùng và quy hoạch lãnh thổ. Các bài toán phân vùng và quy hoạch thường được tiến hành trên CSDL – GIS dạng raster.  Cơ sở quản lý của các bản đồ GIS dạng raster là các ô vuông cơ sở - ÔVCS (pixel), trên từng ô vuông cơ sở sẽ chứa giá trị trung bình của yếu tố môi trường tại ô vuông nhờ các phép nội ngoại suy thích hợp. Tuỳ theo mục đích và nhu cầu thực tiễn mà đặt ra các bài toán phân vùng, quy hoạch khác nhau. Một số bài toán phân vùng , quy hoạch đã được chúng tôi xây dựng là :
-         Đánh giá và ước lượng tải lượng ô nhiễm vùng đất liền
-         Xây dựng bản đồ độ xói mòn đất tiềm tàng
-         Xây dựng bản đồ tổn thương và nhạy cảm môi trường vùng biển ven bờ 
Việc xây dựng các bản đồ này dựa trên một nguồn tài liệu tổng hợp về địa hình và hệ thống thủy văn vùng đất liền, các điều kiện khí hậu-khí tượng, nông hóa thỗ nhưỡng, lớp phủ thực vật, các tài liệu về kinh tế – xã hội ( dân cư, nông nghiệp, chăn nuôi, công nghiệp, dịch vụ,… ), các nguồn nguyên cũng như các tai biến của thiên nhiên và nhân văn cũng được đưa vào để xử lý. Trong quá trình xử lý các phép toán đặc biệt của GIS trong phân tích không gian như ( terrain aspest, terrain slope, các phép tổ hợp boolean, đánh giá đa chỉ tiêu MCE ,… ) được sử dụng triệt để để hình thành nên các bản đồ thành phẩm. Các kết quả này được báo cáo chi tiết trong dự án quản lý tổng hợp đới ven bờ Bình Định.
5- Kết luận :
Nhờ sử dụng công nghệ GIS trong việc quản lý tổng hợp vùng đất và nước ven bờ Tỉnh Bình Định, chúng tôi đã thu thập được một số kết quả sau:
-         Đã xây dựng được một cơ sở dữ liệu - bản đồ ( CSDL – GIS ) và thư viện thông tin nguồn vùng đất và nước ven bờ Tỉnh Bình Định có độ chính xác cao về mặt hình học và chứa đầy đủ các thông tin (cả định tính và định lượng) tin cậy và cần thiết.
-   Cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin bản đồ và thư viện thông tin nguồn được quản lý bằng một phần mềm riêng , được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa hệ quản trị dữ liệu trên nền của Ms Access 2000 và hệ lập trình hướng đối tượng trên nền của Visual Basic 6.0 , MapInfo 6.0 và MapBasic 4.5 . Phần mềm này có đầy đủ các tính năng đơn giản như hiển thị, truy cập, sửa chửa , tìm kiếm thông tin như một phần mềm GIS thông thường nhưng đã được chuyển đổi thành phông tiếng Việt,  phục vụ tốt cho việc quản lý, sử dụng và khai thác bền vững vùng biển Tỉnh Bình Định.
-   Hệ thống thư viện thông tin nguồn ( MetaData ) trong CSDL lưu trữ quản lý những thông tin ban đầu về các luật định, chính sách, các chiến lược phát triển kinh tế, các dự án, báo cáo khoa học hiện có ở tỉnh Bình Định.
-   Hệ thống thông tin bản đồ ( GISMap) và thư viện thông tin nguồn ( MetaData ) được lưu trữ , quản lý và được liên kết với nhau  trong CSDL – GIS , chúng dể dàng được hiển thị , tìm kiếm thông tin và sử dụng linh hoạt  trong những mục đích khác nhau .
-   Đã ứng dụng hiệu quả công nghệ GIS trong việc xây dựng các bài toán phân vùng chức năng và quy hoạch lãnh thổ  vùng đất và nước ven bờ tỉnh Bình Định, tạo ra hàng loạt bản đồ chuyên đề như bản đồ đánh giá tải lượng ô nhiễm vùng đất ven bờ do các hoạt động nhân sinh, bản đồ đánh giá  độ xói mòn đất tiềm tàng, bản đồ phân vùng tổn thương và nhạy cảm môi trường vùng nước ven bờ tỉnh Bình Định
Các kết quả vừa nêu mở ra một hướng tiếp cận mới trong việc phân tích đánh giá tác động môi trường và quy hoạch, quản lý tổng hợp vùng ven bờ. Việc xử dụng các cơ sở dữ liệu này kết hợp với việc sử dụng các phân tích không gian bằng kỹ thuật GIS, các thuật toán thống kê , phân tích đa chỉ tiêu  sẽ giúp chúng ta tạo ra một hệ thống bổ trợ quyết định (Desision Support System - DSS) thích hợp, tạo điều kiện tối ưu trong việc phân vùng, quy hoạch phát triển môi trường sinh thái chung một cách bền vững cho vùng đất và nước ven bờ.
TỐNG PHƯỚC HOÀNG SƠN*,  HUỲNH CAO VÂN