DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Hệ thống Vệ Tinh GPS, Tín Hiệu và Nguồn Lỗi Tín Hiệu GPS

Hệ thống vệ tinh GPS 24 vệ tinh tạo nên các phân đoạn không gian GPS đang quay quanh trái đất khoảng 12.000 dặm phía trên chúng ta. Chúng thường xuyên di chuyển, tạo ra hai quỹ đạo, hoàn thành trong vòng 24 giờ. Các vệ tinh đang di động với tốc độ khoảng 7.000 dặm một giờ.

Những vệ tinh GPS được chạy bằng năng lượng mặt trời. Chúng có pin dự phòng trên tàu để chạy trong trường hợp nhật thực, khi không có năng lượng mặt trời. Những tên lửa nhỏ trên mỗi vệ tinh giữ cho chúng bay trong đường dẫn chính xác.

Dưới đây là một số sự thật thú vị khác về vệ tinh GPS (còn gọi là NAVSTAR, tên chính thức của Bộ Quốc phòng Mỹ cho GPS):

Vệ tinh GPS đầu tiên được đưa ra vào năm 1978.
Một chòm sao đầy đủ của 24 vệ tinh đạt được trong năm 1994.
Mỗi vệ tinh được xây dựng để tồn tại khoảng 10 năm. Sự thay thế không ngừng được xây dựng và phóng lên quỹ đạo.
Một vệ tinh GPS có trọng lượng khoảng 2.000 kg và khoảng 17 feet với các tấm pin mặt trời mở rộng.
Máy phát điện chỉ 50 watt hoặc ít hơn.


Tín hiệu là gì?

Những vệ tinh GPS truyền hai tín hiệu vô tuyến điện thấp, L1 và L2. GPS dân sự dùng tần số L1 1575,42 MHz trong băng UHF. Các tín hiệu di chuyển bằng đường ánh sáng, nghĩa là chúng sẽ đi qua thủy tinh, đám mây , và nhựa nhưng sẽ không đi qua hầu hết các vật thể rắn như các tòa nhà và các ngọn núi.

Một tín hiệu GPS chứa ba mẩu thông tin khác nhau - một mã giả ngẫu nhiên, dữ liệu lịch thiên văn và dữ liệu niên lịch. Mã giả ngẫu nhiên đơn giản là một mã ID để nhận biết vệ tinh nào đang truyền thông tin. Bạn có thể xem con số này trên trang vệ tinh đơn vị GPS của bạn, vì nó nhận diện được vệ tinh nào mà nó đang nhận tín hiệu

Dữ liệu thiên văn, được truyền liên tục qua mỗi vệ tinh, chứa thông tin quan trọng về tình trạng của vệ tinh (khoẻ mạnh hay không), thời gian và ngày tháng hiện tại. Một phần này của tín hiệu cần thiết cho việc xác định vị trí.

Các số liệu niên lịch nói cho máy thu GPS vị trí mà mỗi vệ tinh GPS nên được đặt tại bất kỳ thời gian nào trong ngày. Mỗi vệ tinh truyền dữ liệu niên lịch, hiển thị thông tin về quỹ đạo cho vệ tinh đó và mỗi vệ tinh khác trong hệ thống.

Nguồn lỗi tín hiệu GPS

Các yếu tố có thể làm suy giảm tín hiệu GPS và vì thế ảnh hưởng đến độ chính xác bao gồm:

Sự cản trở của tầng điện ly và tầng đối lưu - Các tín hiệu vệ tinh chậm lại khi nó đi qua khí quyển. Hệ thống GPS sử dụng một mô hình được xây dựng nhằm tính toán mức trung bình của sự chậm trễ để sửa chữa một phần nào cho loại lỗi này.

Tín hiệu đa đường - Điều này xảy ra khi các tín hiệu GPS bị các đối tượng làm cản trở như nhà cao tầng hoặc các bề mặt đá lớn trước khi nó đi tới máy thu. Điều này làm tăng thời gian di chuyển của tín hiệu, do đó gây ra lỗi.

Lỗi của đồng hồ máy thu - Một chiếc đồng hồ được tích hợp trong máy thu không chính xác như đồng hồ nguyên tử trên các vệ tinh GPS. Do đó, nó có thể có lỗi về thời gian rất nhỏ

Lỗi quỹ đạo - Còn được gọi là lỗi thiên văn, đây là những sự không chính xác của báo cáo vị trí các vệ tinh

Số lượng vệ tinh nhìn thấy – Càng nhiều vệ tinh mà một máy thu GPS có thể "nhìn thấy," thì độ chính xác tốt hơn. Các tòa nhà, địa thế, nhiễu điện tử, hoặc đôi khi thậm chí tán lá dày đặc có thể chặn sự tiếp nhận tín hiệu, gây ra lỗi về vị trí hoặc có thể không đọc được vị trí nào cả. Những đơn vị GPS thường không làm việc trong nhà, dưới nước hoặc dưới đất.

Vệ tinh hình học – Điều này đề cập đến vị trí tương đối của các vệ tinh vào bất kỳ thời điểm nào. Vệ tinh hình học lý tưởng tồn tại khi các vệ tinh được đặt ở góc rộng tương đối với nhau. Vệ tinh hình học đem lại kết quả nghèo nàn khi các vệ tinh được đặt cùng trong một dòng hoặc một nhóm chặt chẽ.

Sự giảm tín hiệu vệ tinh một cách cố ý - Selective Availability (SA) là một sự suy giảm tín hiệu có chủ ý đã từng được áp đặt bởi Bộ Quốc phòng Mỹ. SA dự định ngăn chặn kẻ thù quân sự từ việc sử dụng tín hiệu GPS có độ chính xác cao. Chính phủ đã dừng SA vào tháng 5 năm 2000, cải thiện đáng kể tính chính xác của các máy thu GPS dân sự.

Theo: Vietglobal

Hiệu Ứng Nhà Kính

Mã Nguồn Mở Trong GIS

VeDA2 - Thiết bị thu và truyền dữ liệu GPS online

Để đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành các phương tiện giao thông vận tải, các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Thông tin và Tự động hoá, Trường Đại học Giao thông Vận tải, đã nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công thiết bị thu và truyền dữ liệu GPS online - VeDA2.
Thiết bị gồm 2 module: một gắn trên phương tiện tham gia giao thông, một đặt tại trung tâm điều hành. Các module sẽ sử dụng hệ thống thông tin di động GSM để truyền dữ liệu và giúp trung tâm điều hành xác định chính xác vị trí tức thời của phương tiện và có thể gửi thông điệp điều hành các phương tiện.

Thiết bị có các đặc điểm và tính năng: Xác định toạ độ hiện tại của xe trên cơ sở hệ thống định vị vệ tinh GPS (độ chính xác toạ độ < 15 m); truyền dữ liệu về trung tâm qua mạng điện thoại di động GSM; hiển thị vị trí của phương tiện trên bản đồ số GIS tại trung tâm; nhận các thông báo từ trung tâm điều hành quản lý phương tiện giao thông qua mạng di động GSM; sử dụng modem truyền thông G18 của Motorola; sử dụng nguồn ắc quy 12V - DC trên xe…

(Theo Tạp chí Hoạt động Khoa học)

XỬ LÝ DỮ LIỆU GPS BẰNG PHẦN MỀM TGO

Giới thiệu ngắn gọn về ngôn ngữ Atlas Sever

Công nghệ mới của Microsoft tích hợp thư viện script phía client với nền tảng phía server của ASP.NET 2.0, hứa hẹn cung cấp nền tảng phát triển toàn diện hơn và đơn giản hoá việc phát triển ứng dụng web kiểu Ajax.

Sau khi được Jesse James Garret "khai sinh" với bài viết nổi tiếng "Ajax: Giải pháp mới cho ứng dụng web" ("Ajax: A New Approach to Web Applications", Adaptive Path, tháng 2/2005), Ajax trở nên nổi đình nổi đám trong thế giới web và ngày càng xuất hiện nhiều website "kiểu Ajax" như Google Maps, A9.com và Flickr. (Công nghệ Ajax cho phép tạo nên những ứng dụng web có giao diện phong phú và có thể truy xuất dữ liệu từ server để cập nhật một phần nội dung trang web hiện hành mà không phải nạp lại toàn bộ trang như ở các website truyền thống. Tham khảo bài "Kỹ thuật lập trình Ajax" - TGVT A 12/2005, tr.124)

Microsoft cũng có những ứng dụng web kiểu Ajax như MSN Virtual Earth (http://www.virtualearth.com) và Start.com. Thật ra, Microsoft đã tham gia cuộc chơi Ajax khá sớm. Tất cả các thành phần Ajax - DHTML, JScript và XMLHTTP đã có trong Internet Explorer 5 và Outlook Web Access đã dùng các kỹ thuật này từ năm 1998. Trước khi Ajax trở nên phổ biến, Microsoft đã sử dụng kỹ thuật Script Callbacks có phương thức làm việc tương tự Ajax (nhưng tính năng hạn chế hơn) trong quá trình phát triển ASP.NET 2.0.

Nắm bắt xu thế Ajax, tại PDC 2005 (Professional Developer Conference - hội thảo thường niên dành cho các nhà phát triển chuyên nghiệp) Microsoft đã công bố dự án Atlas đầy tham vọng, hứa hẹn cung cấp một nền tảng toàn diện hơn và đơn giản hoá việc phát triển ứng dụng web kiểu Ajax.

MỤC TIÊU
Mục tiêu đầu tiên của Atlas nhằm hỗ trợ phát triển phía máy khách (client), cung cấp các tính năng:

• Thư viện API hướng đối tượng bổ sung cho JavaScript.

• Tương thích trình duyệt tự động (hỗ trợ ứng dụng chạy với nhiều trình duyệt).

• Thư viện API và các thành phần hỗ trợ tính năng giao diện người dùng (UI) phong phú.

• Phát triển client kiểu khai báo (XML script) nhằm đơn giản hoá mã lệnh chương trình.

Mục tiêu thứ hai của Atlas nhằm kết hợp việc phát triển phía client với việc phát triển phía server. Thay vì chú trọng toàn bộ chương trình phía client hoặc phía server, Atlas cung cấp hỗ trợ cho cả hai, cho phép xử lý tác vụ ở nơi có ý nghĩa nhất. Phía máy chủ (server), ASP.NET có các tính năng sau phục vụ cho ứng dụng Atlas:

• Dịch vụ web có khả năng kết hợp với ứng dụng Atlas.

• Các điều khiển (web server control) sinh mã client cần thiết cho ứng dụng Atlas.


KIẾN TRÚC

Ở dạng đơn giản nhất, ứng dụng web sử dụng thư viện script của Atlas phía client gọi một dịch vụ hay ứng dụng trên máy chủ web. Nhưng với ứng dụng web phức tạp hơn, bạn sẽ phải cần đến thành phần phía server của Atlas. Không đơn thuần là thư viện Ajax bổ sung cho ASP.NET, Atlas được thiết kế để trở thành nền tảng phát triển hoàn chỉnh từ client, server đến truyền thông giữa client và server. Ngoài ra, Atlas còn cung cấp nền tảng ứng dụng - cho phép nhà phát triển "lắp ráp" các thành phần có sẵn để tạo ứng dụng.

Thành phần client
Ở phía client, Atlas cung cấp Client Script Framework có thể xem là mở rộng của JavaScript, hỗ trợ phát triển hướng đối tượng, tương thích đa trình duyệt, giao tiếp với dịch vụ web và các tính năng giao diện người dùng phong phú. Microsoft hứa hẹn Atlas Client Script Framework sẽ làm việc với tất cả trình duyệt và với web server bất kỳ. Nó không yêu cầu bất kỳ cài đặt nào phía client.

Thư viện script phía client của Atlas là tập các file JavaScript (.js), gồm các thành phần sau:

• Nhân (Script Core): bổ sung đặc tính hướng đối tượng cho JavaScript (như lớp, interface, kế thừa, xử lý sự kiện, kiểu dữ liệu...). Đây là có thể xem là .NET CLR thu nhỏ ở phía client.

• Thư viện lớp cơ bản (Base Class Library): cung cấp các lớp và cấu trúc cơ bản được dùng trong phát triển .NET Framework (như StringBuilder, Debug, Event...); cung cấp thư viện API xử lý mã client dạng khai báo (XML). Lớp này còn cung cấp hỗ trợ XMLHTTP với WebRequest và WebResponse, cho phép gọi WebMethod ở các file .asmx và .aspx hay dịch vụ web bất kỳ.

• Lớp mô hình thành phần và khung giao diện (Component Model và UI Framework): định nghĩa các thành phần, cơ chế liên kết các thành phần với nhau và các phương thức thực thi. Phần UI Framework xác định các kiểu thành phần giao diện cùng với hành vi (như kéo-thả).

• Các điều khiển và thành phần (Controls & Components): tập các thành phần xây dựng sẵn và các điều khiển dùng cho phát triển phía client như Timer (bộ định thời), Counter (bộ đếm), các điều khiển form thông thường, điều khiển gắn với dữ liệu (ListView) hay điều khiển bản đồ (dựa trên Virtual Earth).

• Lớp tương thích trình duyệt (Browser Compatibility): xử lý tương thích với các trình duyệt (hiện tại, Atlas có thể chạy trên IE, Safari và Firefox).

Thành phần server
Thành phần server của Atlas được xây dựng trên ASP.NET 2.0, cơ bản gồm các dịch vụ web ASP.NET và các điều khiển server. Các thành phần server này làm việc kết hợp với thư viện client của Atlas.

• Điều khiển server (Atlas Server Controls): thực hiện sinh mã client (mã lệnh JavaScript và mã khai báo XML) có những đặc tính Atlas. Các điều khiển server của Atlas tương tự như các điều khiển server của ASP.NET, có ích cho người có kinh nghiệm phát triển phía server. Ngoài các điều khiển thông thường như nút lệnh, ô text, ô chọn, liên kết... còn có những điều khiển Atlas đặc biệt để xử lý những hành vi ở client như rê và nhấn chuột... Tất cả những điều khiển này sẽ được tích hợp vào Visual Studio để cho phép làm việc ở màn hình thiết kế giống như các điều khiển server của ASP.NET.

• Cầu nối dịch vụ web (Web Services Bridge): cho phép mã client liên lạc (2 chiều: gửi và nhận dữ liệu) với dịch vụ web kiểu .asmx của ASP.NET (cũng như WebMethod được định nghĩa trên trang .aspx) và .svc của Indigo (công nghệ SOA mới nhất dự kiến ra mắt cùng với Windows Longhorn trong năm 2006) hay dịch vụ web bất kỳ.

• Cầu nối dịch vụ ứng dụng (Application Services Bridge): sử dụng Web Services Bridge để cung cấp những những dịch vụ ứng dụng ASP.NET như xác thực hay truy cập và cập nhật dữ liệu.

Thành phần client và server và mã khai báo
Mã khai báo là đặc tính thú vị của Atlas. Điều khiển server tạo ra mã khai báo và gửi đến client trong định dạng XML. Atlas Client Framework sẽ phân tích khai báo này để sinh mã lệnh (thể hiện và hành vi của trang) ngay tại trình duyệt (client) lúc thực thi. Phương thức này nhằm tránh việc tạo hàng đống mã lệnh JavaScript rồi nhúng vào trang trước khi gửi đi từ server. Bằng cách thực hiện việc này ở phía client, kích thước trang có thể giữ khá nhỏ và người phát triển không cần phải bận tâm đến những đặc trưng của từng trình duyệt ở client.

Microsoft dường như chú trọng đến kiểu lập trình khai báo này, tuy nhiên bạn vẫn có thể thực hiện kiểu mã lệnh JavaScript trực tiếp, nhưng lưu ý những tính năng hướng đối tượng hạn chế của JavaScript.


HIỆN THỰC

Atlas vẫn còn trong quá trình phát triển. Microsoft dự kiến sẽ ra mắt Atlas trong năm 2006 này như là thành phần bổ sung cho ASP.NET 2.0 và nó sẽ được tích hợp với Visual Studio 2005.

Tuy nhiên, ngay từ bây giờ bạn đã có thể làm quen với Atlas. Microsoft hiện đã có cung cấp file ASPNETAtlas.vsi để cài đặt dự án Atlas mẫu (Atlas Web Site Template, http://msdn.microsoft.com/asp.net/info/future/atlastemplate/) trên Visual Studio 2005 (http://msdn.microsoft.com/vstudio/) hay Visual Web Developer Express (http://msdn.microsoft.com/vstudio/express/vwd/). Dự án này có đủ mọi thứ cần thiết cho dự án web kiểu Atlas, bao gồm thư viện Atlas.

Hiện cũng đã có một số ứng dụng Atlas mẫu, bạn có thể tham khảo ở webblog của Nikhil Kothari (http://www.nikhilk.net) - kiến trúc sư phần mềm của Microsoft, người đã thuyết trình về Atlas tại PDC 2005. Bạn cũng có thể dễ dàng tìm thấy nhiều mẫu ứng dụng Atlas khác trên Internet.

Ngoài ra, hiện cũng có những giải pháp khác cho phép phát triển ứng dụng kiểu Ajax với ASP.NET 1.0 hay 2.0 như My Ajax.Net của Jason Diamon (http://jason.diamond.name/weblog/category/my-ajax-dot-net/) và Ajax.NET của Michael Schwarz
(http://ajax.schwarz-interactive.de/csharpsample/).
CLIENT HAY SERVER??
Một trong những điểm mấu chốt của ứng dụng kiểu Ajax đó là giảm thiểu việc truyền thông giữa client và server. Vấn đề cần cân nhắc là gửi-nhận thông tin gì và tác vụ nào xử lý ở đâu? Việc này liên quan đến mô hình phát triển đặt trọng tâm phía server hay client.
Trong mô hình phát triển đặt trọng tâm phía client, ban đầu server gửi đến client thông tin khai báo "cách trình bày" cùng "cách thức ứng xử" của giao diện người dùng. Khai báo giao diện này thực thi ở client để xử lý hành vi tương tác của người dùng, gửi dữ liệu đến server và nhận dữ liệu (không phải mã HTML) đáp trả, và dùng dữ liệu này để sinh thể hiện và nội dung. Server đưa các tài nguyên khác đến giao diện người dùng thông qua các dịch vụ.
Mô hình này cho phép thực hiện hiệu quả các tình huống từ tính toán đến dữ liệu động ở client. Mô hình này cũng cho phép xử lý tức thời những hành vi của người dùng và có khả năng thực hiện những hiệu ứng thị giác như kéo-thả. Cái giá của giải pháp này gồm công sức viết mã lệnh client không nhỏ và việc chuyển luận lý giao diện từ server sang client dẫn đến yêu cầu xây dựng và học sử dụng các công cụ mới, mô hình thiết kế mới...
Trong mô hình phát triển đặt trọng tâm phía server, server sẽ gửi mã HTML đến client thay vì dữ liệu thuần tuý. Việc xử lý phía client đơn giản hơn nhiều, chủ yếu chịu trách nhiệm gửi yêu cầu rồi nhận mã HTML đáp trả và đặt vào đúng chỗ trong trang. Hầu hết việc xử lý tương tác và giao diện đều nằm ở server.
Trong khi một số người thích "đường lối" mới, nhưng một số người khác lại thích mô hình phát triển phía server quen thuộc. Có những tính năng bạn vẫn có thể thực hiện theo mô hình phát triển truyền thống, nhưng những tính năng như tương tác giao diện người dùng phải cần đến nền tảng phát triển kiểu Atlas - cho phép cân đối giữa mô hình client phong phú với mô hình phía server hiện hữu.
Phương Uyên
Tham khảo:
- http://atlas.asp.net/
- http://www.nikhilk.net

CDM và những tiềm năng cho Việt Nam

CDM và những tiềm năng cho Việt Nam

ThienNhien.Net - Biến đổi khí hậu ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của các loài sinh vật trên trái đất và trở thành một thách thức lớn mà con người phải đối mặt để giải quyết. Tuy nhiên, cũng nhờ đó, những cơ hội kinh doanh mới đã mở ra cho các cộng đồng, các quốc gia khi họ biết tận dụng nguồn tài nguyên quý giá của mình.

CDM là gì?

Từ những năm 80, 90 của thế kỷ trước, những bằng chứng khoa học liên tiếp được đưa ra về sự biến đổi khí hậu toàn cầu thu hút ngày càng nhiều sự quan tâm của công chúng. Một loạt các hội nghị quốc tế đã được tổ chức để đưa ra những lời kêu gọi khẩn cấp cho một bản hiệp ước chung về vấn đề này. Do đó, công ước chung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đã được 155 nước thông qua vào tháng 06/1992.

Mục tiêu của công ước là nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính (GHG) trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được trước những tác động của con người. Công ước đã được cụ thể hoá bằng nghị định thư Kyoto (ra đời tháng 12/1997 và có hiệu lực từ 16/02/2005) với những quy định về tỉ lệ giảm phát thải đối với các quốc gia phát triển và các hình thức xử phạt nếu không tuân thủ..Nghị định thư bắt buộc những quốc gia thành viên bằng mọi giá cần phải cắt giảm phát thải khí nhà kính của họ xuống 5% so với mức phát thải tại thời điểm năm 1990. Đây thực sự là trách nhiệm nặng nề đối với những quốc gia công nghiệp hóa. Vì vậy, 3 cơ chế mềm dẻo đã được đưa ra nhằm giúp những nước này có thể đạt được mục tiêu, đồng thời mang lại sự phát triển bền vững cho những quốc gia đang phát triển. Đó là cơ chế đồng thực hiện (Joint Implementation viết tắt là JI), cơ chế buôn bán quyền phát thải quốc tế (International Emission Trade viết tắt là IET) và cơ chế phát triển sạch (Clean Development Mechanism viết tắt là CDM). Trong đó cơ chế JI và IET chỉ là sự giao dịch giữa các quốc gia công nghiệp hóa với nhau, còn cơ chế CDM thực sự là một cơ hội cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tiến tới mục tiêu phát triển bền vững.

Những lợi ích từ CDM

Có thể hiểu nôm na CDM là một cơ chế hợp tác quốc tế mới trong lĩnh vực môi trường giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia công nghiệp hóa nhằm làm giảm phát thải khí nhà kính trên phạm vi toàn cầu.

Với cam kết phải cắt giảm GHG, các quốc gia công nghiệp hóa phải đầu tư, đổi mới, cải tiến công nghệ với chi phí rất tốn kém mà hiệu quả mang lại không cao thì có một cách làm tốt hơn là tiến hành đầu tư những dự án CDM ở những nước đang phát triển, nơi trình độ công nghệ chưa cao, môi trường chưa bị ô nhiễm nặng, với chi phí đầu tư thấp hơn nhiều. Đổi lại, các doanh nghiệp đầu tư nhận được chứng chỉ giảm phát thải đã được công nhận (CERs) để áp dụng vào chỉ tiêu cắt giảm phát thải ở quốc gia mình.

Những quốc gia đang phát triển không bị ràng buộc bởi cam kết phải cắt giảm khí nhà kính của nghị định thư Kyoto có thể cải thiện tình hình kinh tế, xã hội và môi trường từ nguồn tài chính và công nghệ tiên tiến được chuyển giao từ những dự án CDM. Ở mức độ toàn cầu, thông qua các dự án giảm phát thải, CDM có thể khuyến khích đầu tư quốc tế, cung cấp các nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng kinh tế ở nhiều nơi, nhiều khu vực trên thế giới. Bởi vậy ngay từ đầu CDM đã giành được sự quan tâm đặc biệt của cả những nước đang phát triển và những nước công nghiệp hóa.

Điều kiện để tham gia vào những dự án CDM

Để có thể hưởng lợi từ những dự án CDM, các nước phát triển và đang phát triển phải thỏa mãn 3 điều kiện: Tự nguyện tham gia, thành lập cơ quan quốc gia về CDM (Ở Việt Nam, cơ quan này là Vụ hợp tác quốc tế thuộc Bộ Tài nguyên môi trường.) và phê chuẩn nghị định thư Kyoto. Ngoài ra, các nước phát triển còn phải đặt ra chỉ tiêu giảm phát thải, có hệ thống tính toán GHG, tiến hành kiểm kê hàng năm…Đối tượng tham gia có thể là chính phủ, cơ quan trực thuộc chính phủ, chính quyền địa phương, tổ chức tư nhân, tổ chức phi chính phủ nếu thỏa mãn các điều kiện nêu trên.

Vốn đóng góp từ quốc gia đầu tư (quốc gia phát triển) cho một dự án CDM có thể là một phần, toàn phần, cho vay hoặc cho thuê tài chính hoặc hợp đồng mua CERs.

Các dự án CDM thành công được cấp CERs phải nộp mức phí là 2% tổng vốn đầu tư của dự án cho một quỹ riêng, gọi là quỹ thích ứng. Quỹ này giúp những nước đang phát triển thích nghi với những tác động môi trường tiêu cực do biến đổi khí hậu. Ngoài ra những khoản chi phí khác sẽ góp phần thanh toán những chi phí quản lý CDM. Tuy nhiên, những nước kém phát triển có thể sẽ không phải chịu các khoản phí này.

Tính đến tháng 06/2007 đã có 175 quốc gia thông qua nghị định thư Kyoto. Nếu tất cả các quốc gia này có thể giảm lượng phát thải khí nhà kính theo đúng cam kết thì tổng lượng phát thải sẽ giảm được là 61,6% so với chỉ tiêu đặt ra cho toàn thế giới.


Thế giới nhập cuộc

Nguồn thống kê này cũng cho biết đến nay đã có hơn 2100 danh mục dự án CDM được các nước đưa ra, trong đó có 760 dự án đã được Ban điều hành CDM đăng ký và 71 dự án đang chờ được đăng ký. Số lượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) dự đoán đến hết 2012 sẽ vượt qua con số 2,2 tỷ.

Dự án CDM đầu tiên trên thế giới được thực hiện tại Rio de Janeiro, Brazil từ năm 2004, với lĩnh vực hoạt động là giảm phát thải khí nhà kính từ bãi chôn lấp chất thải bằng cách thu hồi khí mêtan để sản xuất điện. Theo tính toán, mỗi năm dự án giảm được 31 ngàn tấn mêtan, tương đương với 670 ngàn tấn CO2. Dự án đã mang lại hiệu quả tích cực cho môi trường và cộng đồng dân cư trong khu vực, đồng thời mở ra một giai đoạn mới giúp thế giới đạt các mục tiêu ngăn chặn biến đổi khí hậu và thúc đẩy sự phát triển bền vững.


Theo như biểu đồ trên, ngành năng lượng là lĩnh vực nóng bỏng nhất cho các dự án CDM trên toàn thế giới (52,68%), sau đó là các ngành xử lý và tiêu hủy chất thải (20,77%) và nông nghiệp (7,8%).

Châu Á Thái Bình Dương hiện đang là khu vực sôi động nhất về các dự án CDM. Trong đó, Ấn Độ là nơi có nhiều dự án CDM nhất, còn Trung Quốc là quốc gia đứng đầu về nhận được CERs̉, chiếm 43,46 % trong tổng số gần 172 triệu CERs. Đầu tư vào các dự án CDM nhiều nhất là các nước Anh, Ailen, Hà Lan và Nhật Bản.

Việt Nam đã sẵn sàng

Việt Nam là một trong số những quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương tham gia tích cực nhất vào những hoạt động nhằm giảm nhẹ những tác động của biến đổi khí hậu do Liên Hợp Quốc đề xuất. Tính đến tháng 3 năm 2003, thời điểm Việt Nam thành lập cơ quan có thẩm quyền quốc gia về CDM, được gọi tắt là DNA, Việt Nam đã đạt được cả 3 điều kiện để tham gia một cách đầy đủ nhất vào các dự án CDM quốc tế. Đó là: 1. Tham gia hoàn toàn tự nguyện, 2. Phê chuẩn công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và ký kết nghị định thư Kyoto, 3. Thành lập DNA của quốc gia.

Về mặt quản lý nhà nước, bên cạnh Bộ Tài nguyên và Môi trường được lựa chọn làm DNA còn có Ban tư vấn chỉ đạo liên ngành (CNECB) nhằm tư vấn, chỉ đạo cho DNA trong việc quản lý hoạt động và tham gia đánh giá các dự án CDM tại Việt Nam. Ban này bao gồm 12 đại diện của 9 bộ, ngành liên quan và Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam.

Tháng 04/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 47/2007/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu giai đoạn 2007 – 2010, trong đó đề cao mục tiêu huy động mọi nguồn lực thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ môi trường và đóng góp vào việc tổ chức thực hiện UNFCCC, Nghị định thư Kyoto và CDM, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào các dự án CDM, khuyến khích cải tiến công nghệ, tiếp nhận, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, kỹ thuật hiện đại.

Chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các doanh nghiệp tham gia dự án CDM được thể hiện rõ trong Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg, trong đó quy định các doanh nghiệp này sẽ được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án, hàng hoá nhập khẩu là$ nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được, miễn, giảm tiền sử dụng đất, thuê đất và trong một số trường hợp sản phẩm của dự án CDM sẽ được trợ giá.

Hiện nay ở nước ta có 5 dự án CDM đã được Ban điều hành CDM phê duyệt, dự án đầu tiên là Thu hồi và sử dụng khí đồng hành tại mỏ dầu Rạng Đông (Bà Rịa – Vũng Tàu). Dự án này sử dụng khí đồng hành từ quá trình khai thác dầu mỏ để sản xuất điện, khí hóa lỏng dùng trong sinh hoạt và xăng. Chi phí thực hiện dự án là 73 triệu USD, dự kiến sẽ giảm 6,74 triệu tấn CO2 trong thời gian 10 năm. Tính theo giá thị trường châu Âu hiện nay, 24 euro/1 tấn CO2 thì dự án này có thể mang lại cho các bên tham gia dự án một khoản thu khổng lồ 202 triệu đô la Mỹ.

Bên cạnh đó, 13 dự án khác đã được trình lên DNA chờ phê duyệt, 16 dự án và 10 ý tưởng dự án đang được xây dựng. Như vậy số lượng các ý tưởng và dự án này nếu được phê duyệt và triển khai không hề ít, chưa kể mới chỉ tập trung vào một số lĩnh vực phổ biến của các ngành năng lượng, xử lý chất thải và lâm nghiệp, hoàn toàn có thể mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác.

Theo đánh giá của một số chuyên gia từ Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam, hình thức của các dự án CDM đã thực hiện ở Việt Nam và đa số các nước khác là các tổ chức ở các nước phát triển, thông qua các công ty cung cấp công nghệ, tìm đến các nước đang phát triển có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính để thực hiện dự án. Điều này có nghĩa thị trường buôn bán phát thải đang ở tình trạng một chiều, người mua chủ động tìm đến những địa chỉ có tiềm năng cung cấp sản phẩm mà họ cần. Trong thời gian tới, sự phát triển về quy mô và chất lượng của thị trường sẽ thay đổi, và theo đó, hình thức buôn bán phát thải sẽ cân bằng hơn, nghĩa là sẽ có cả những nhà cung cấp sản phẩm chủ động tìm đến người tiêu dùng.

Như vậy, có thể nói rằng hành trình của Việt Nam trên con đường tuân thủ công ước của Liên Hợp Quốc về thay đổi khí hậu, nghị định thư Kyoto nói chung và Cơ chế phát triển sạch nói riêng mới chỉ bắt đầu. Nhưng với những thành công bước đầu, với những cơ chế, chính sách đã và đang xây dựng và những nguồn lực sẵn có sẽ giúp Việt Nam thành công hơn nữa trong các dự án CDM, vững bước hơn trên con đường hướng tới một quốc gia tăng trưởng về kinh tế, phát triển về xã hội và bền vững về môi trường.

Thành Trung, Nguyễn Thương

Ứng dụng GPS và GIS trong quản lý đội tàu khai thác hải sản xa bờ

I. Đặt vấn đề
        GIS (Geographical Information  System) – Hệ thống công nghệ thông tin địa lý, từ khi ra đời đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: địa chính, giao thông, quy hoạch đô thị và nhiều lĩnh vực khác. Để nâng cao khả năng, hiệu quả ứng dụng của GIS người ta thường kết hợp GIS với một số hệ thống khác: viễn thám; hệ thống định vị toàn cầu (GPS); hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu, nhằm bổ sung những chức năng quản lý, xử lý và phân tích số liệu phi không gian trong cơ sở dữ liệu của GIS.
        Để quản lý và tổ chức tốt một đội tàu khai thác khơI, người quản lý cần có những thông tin: vết (vị trí) tàu khai thác, thông tin kỹ thuật của tàu, thông tin về khai thác, và các thông tin tham khảo khác.   
       Trong phạm vi báo cáo này, nội dung được quan tâm chủ yếu về nghiên cứu tích hợp dữ liệu của GPS vào GIS nhằm hỗ trợ công tác quản lý và tổ chức đội tàu khai thác hải sản xa bờ.
       Theo dõi vết tàu là một chỉ tiêu quan trọng nhất trong quản lý và tổ chức đội tàu khai thác. Biết được vị trí con tàu, người quản lý ở đất liền sẽ biết đựoc hành trình con tàu có đúng hướng định trước không, có vi phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước khác không? Biết được vị trí của tàu sẽ cho phép điều động tàu đến ngư trường được dự báo có sản lượng khai thác tốt, đồng thời hỗ trợ việc cứu nạn, cứu hộ trên biển được thuận lợi hơn.
II. Giải pháp kỹ thuật
  1. Lựa chọn giải pháp
        Để kết hợp GPS với GIS cần xác định những thông số có tính chất chung của hai hệ thống. GPS và GIS có một số dữ liệu quản lý giống nhau: toạ độ địa ý, thời gian và hệ toạ độ địa lý. Do đó, kết hợp GPS với GIS thực chất là sử dụng những thông tin của GPS để liên kết với thông tin trong GIS. GPS thường đựơc gắn trên các phương tiện di động, toạ độ của nó được xác định chính xác qua các vệ tinh.   
        Trong nghiên cứu của chúng tôi, GIS được đặt trong trung tâm trên đất liền, GPS gắn trên tàu khai thác cá ngoài biển. Việc kết hợp GPS trong trường hợp này là gắn thông tin địa lý và thời gian của GPS vào hệ thống GIS được xác lập cùng hệ toạ độ với GPS.
        Sự kết hợp thông tin từ GPS vào GIS được mô tả trên hình 1.


        Các phương án có thể kết hợp như sau:
       Phương án 1: Thuyền trưởng báo cáo toạ độ (x, y) về đất liền bằng bộ đàm vô tuyến. Tại trung tâm, nhập lại dữ liệu toạ độ vào GIS. Đây là phương pháp đơn giản, rẻ tiền. Tuy nhiên, phụ thuộc rất lớn vào tính khách quan của việc đọc dữ liệu trên GPS của người báo cáo. Thông tin thời gian trong trường hợp này thường bỏ qua, và GIS lấy giá trị thời gian (T) của hệ thống máy tính.
        Phương án 2: Dữ liệu toạ độ của tàu (x, y) từ GPS được lưu trữ trong bộ nhớ của GPS, sau khi tàu về bờ, thông tin được chuyển vào máy tính để liên kết với GIS. Đây là phương án tiết kiệm, chính xác. Tuy nhiên, không mang tính tức thời vì toạ độ của tàu chỉ được xác định sau khi không thể sử dụng cho công tác quản lý. Khi tàu cập cảng ở xa trung tâm, việc chuyển nhận số liệu từ GPS vào GIS rất khó khăn. Mặc khác, bộ nhớ của GPS cũng rất hạn chế.
        Phương án 3: kêt hợp phương án 1 và 2 này nhằm bổ khuyết cho nhau. Phương án 1 cho số liệu (x, y) tức thời, và phương án 2 để kiểm tra tính chính xác của phương án 1. Đây là phương pháp có tính khả thi cao, khi các tàu chưa đủ điều kiện để thực hiện các phương án sau.
        Phương án 4: Tín hiệu định vị (x, y) và thời gian (T) được truyền về trung tâm ở đất liền định kỳ qua sóng ngắn của các máy thu – phát vô tuyến ở trên tàu. Đây là phương án tương đối rẻ tiền, được sử dụng trong quản lý các đội xe trong thành phố và các tàu thuỷ vận tải, du lịch,…
        Phương án 5: Tín hiệu định vị (x, y) và thời gian (T) được truyền qua vệ tinh về trung tâm đất liền tích hợp vào GIS. Đây là phương án hiện đại và chính xác nhất, được sử dụng để quản lý các tàu vận tải thuỷ xuyên quốc gia của các nước. Tuy nhiên, giá thành của hệ thống và chi phí vận hành khá cao.
        Qua phân tích các phương án trên, có thể thấy phương án 4 có nhiều ưu điểm và có tính khả thi trong điều kiện nước ta. Tuy nhiên, nhập một hệ thống mới như vậy khá dắt tiền, hơn nữa cũng chưa phù hợp với điều kiện của nước ta.
       Qua tìm hiểu thực tế, chúng tôi thấy, hiện nay mỗi tàu khai thác khơi thường đựoc trang bị: một máy định vị GPS, thông dụng là GP – 30, GP – 31, GP – 32; máy thu – phát sóng ngắn ICOM, phổ biến là M - 700TY, M – 710, M - 718 của Nhật. Dó đó, chúng tôi lựa chọn giải pháp kỹ thuật cho việc truyền số liệu GPS về đất liền qua sóng ngắn của máy thu – phát vô tuyến ICOM. Sơ đồ nguyên lý phát và thu tin hiệu GPS như trên hình 2 và hình 3.
  


       Máy thu – phát ICOM có chất lượng truyền sóng tốt và phù hợp với các tàu đi biển. Vấn đề ở đây cần phải thiết kế một thiết bị ghép nối GPS với máy phát ICOM, để máy ICOM truyền dữ liệu toạ độ và thời gian của GPS từ tàu về trung tâm đất liền. Trung tâm GIS ở đất liền nhận tín hiệu GPS qua máy thu – phát ICOM, tách lấy tín hiệu để chuyển vào máy tính, tích hợp vào GIS.
        Thiết bị phát FG – 01T (hình 2) được chế tạo để thực hiện các nhiệm vụ: Thu nhận số liệu từ máy định vị GPS, phân tích và lựa chọn số liệu cần truyền, điều khiển thiết lập các chế độ cho máy phát vô tuyến và điều chế tín hiệu FSK.



       Thiết bị thu tín hiệu định vị FG – 01R (hình 3) được thiết kế và chế tạo để thực hiện các nhiệm vụ: Thu nhận tín hiệu từ máy thu phát vô tuyến chuyển đổi thành tín hiệu số, xử lý và chọn lọc số liệu trước khi đưa sang máy tính để hiển thị vị trí tàu.
        Chương trình theo dõi vết tàu chạy trên môi trường Windows 9X, liên kết với phần mềm MapInfo để hiển thị toạ độ của tàu lên bản đồ số.
  1. Phương pháp thử nghiệm
        Để thử nhgiệm kết quả truyền dữ liệu của hệ thống, chúng tôi thực hiện bốn bước thử nghiệm: thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, thử nghiệm khi tàu ở tại bến, thử nghiệm khi tàu hoạt động trên biển và thử nghiệm tầm xa.
        Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm là để đánh giá độ chính xác của hai khối phát FG – 01T và khối nhận FG – 01R về việc xử lý và truyền số liệu từ GPS GP – 31. ở chế độ này, khối phát FG – 01T được nối với GPS và kết nối trực tiếp với khối thu FG – 01R, không qua máy thu phát ICOM.
        Thử nghiệm tại bến nhằm mục đích kiểm tra chất lượng dữ liệu bằng truyền sóng ngắn qua máy thu phát ICOM.
        Phương pháp thử: Máy phát ICOM – 710M và máy đinh vị GP – 31 đặt tại Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản Khánh Hoà. Máy thu ICOM – 718 đặt tại phòng thí nghiệm điện, Trường Đại học Thuỷ sản. Thời gian thử nghiệm: 7,5 giờ, chế độ phát cáh nhau 5 phút, tần số phát 6,422MHz.
       Thử nghiệm trên tàu hành trình tương tự như thử nghiệm tại bến. Thử nghiệm tầm xa để kiểm tra chất lượng truyền số liệu bằng sóng ngắn ở khoảng cách xa.
       Phương pháp thử:
       Lần thứ nhất, máy phát ICOM – M710, máy định vị GPS – 31 lắp đặt tại Chi cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản Đà Nẵng. Máy ICOM – 718 đặt tại cơ sở điện tử Nhật Minh, Nha Trang. Thời gian thử nghiệm 1 giờ, chế độ phát cách nhau 1 phút, tần số phát 12,400MHz.
       Lần thứ 2, máy phát ICOM – M710, máy định vị GPS – 31 lắp đặt trên tàu Kiểm ngư Đà Nẵng, trung tâm thu không được báo trước hành trình con tàu, tần số phát 6,745 MHz, thời gian thử nghiệm 5 ngày.
III. Kết quả và thảo luận
  1. Kết quả
       Số liệu truyền và nhận trong các lần thử nghiệm đều đạt 100%. Riêng thử nghiệm trên tàu Kiểm ngư Đà Nẵng khi tàu trên đường về cảng Bạch Đằng, thời tiết xấu (có mưa và giông) khi tàu vào gần bờ, tín hiệu thu được chỉ đạt khoảng 55%.
       Kết quả tích hợp toạ độ tàu lên bản đồ số MapInfo bằng một trong hai cách: (1) trực tiếp hiển thị toạ độ của tàu lên bản đồ số ngay khi nhận tín hiệu, và như vậy cho biết vị trí của con tàu gắn với thời gian thực; (2) lưu trữ trong một tập tin và tích hợp vào bản đồ số. Khi chuyển tập tin lưu trữ vết tàu của GPS sang môi trường MapInfo, các dữ liệu thuộc tính kèm theo như: số hiệu tàu, kinh độ, vĩ độ, và thời gian tương ứng cũng sẽ được chuyển đổi sang tập tin của MapInfo. Trên hình 4 là kết quả thử nghiệm trên tàu Kiểm ngư Đà Nẵng.




        Trong GIS, thông tin vết tàu có thể tái hiện trở lại bằng cách cho chạy chương trình mô phỏng, khi đó các vị trí của tàu sẽ được hiển thị trở lại với khoảng cách thời gian bằng nhau giữa hai điểm toạ độ.
       2. Thảo luận
       Từ những kết quả đạt được, chúng tôi nhận thấy: Giải pháp lựa chọn là một tổ hợp bao gồm phần cứng, phần mềm và cơ sở dữ liệu để kết hợp GPS và GIS trong quản lý và tổ chức đội tàu khai thác.    
       Mô hình này cho phép:
- Truyền – nhận số liệu định vị từ GPS về trung tâm quản lý ở đất liền và tích hợp trong GIS phục vụ công tác quản lý các tàu khai thác khơi.
- Có thể tích hợp các thông tin khai thác, thông tin tham khảo vào GIS để xây dựng bản đồ ngư trường phục vụ công tác chỉ đạo khai thác.
- Hệ thống được xây dựng trên nền MapInfo, do vậy có thể kế thừa các sản phẩm bản đồ số xây dựng cho MapInfo hoặc các phần mềm GIS khác có chức năng trao đổi dữ liệu với MapInfo, đồng thời sử dụng được các chức năng thống kê và phân tích dữ liệu không gian trong MapInfo.
      Những kết quả nhận được cho thấy giải pháp lựa chọn có thể ứng dụng GPS kết hợp với GIS trong quản lý và tổ chức đánh bắt cho đội tàu khai thác hải sản xa bờ. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng các kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế sau đây:
  1. Kết quả truyền số liệu mới chỉ thực hiện được một tàu, khi truyền nhiều tàu chưa kiểm tra được sự tranh chấp đường truyền. Điều này có thể khắc phục bằng cách lập lịch thời gian cho các điểm truyền số liệu giữa các tàu không trùng nhau.
  2. Chưa kiểm tra đầy đủ sự truyền số liệu ở khoảng cách xa. Kết quả truyền số liệu từ Đà Nẵng đến Nha Trang còn ít, đặc biệt chưa thử nghiệm khi tàu chạy hoạt động ở vùng biển Nam Trường Sa.
  3. Chưa kiểm tra đầy đủ sự truyền số liệu trong thời tiết xấu.
  4. Chưa có điều kiện thử nghiệm độ tin cậy của thiết bị chế tạo.
      Kết quả nhận được cho thấy nếu có thêm thời gian và điều kiện nghiên cứu bổ sung hoàn chỉnh các hạn chế nói trên thì với giải pháp kỹ thuật đã nghiên cứu có những ưu điểm: sử dụng đựoc các thiết bị có sẵn trên tàu khai thác để xây dựng một hệ thống thông tin GIS có giá thành thấp, đáp ứng đựoc yêu cầu kỹ thuật trong quản lý và tổ chức khai thác đội tàu đánh cá khơI của các Sở Thuỷ sản, hoặc các công ty./.

PGS-TS Nguyễn Thạch

METADATA Trong GIS

Metadata là dữ liệu của dữ liệu (thông tin mô tả về dữ liệu)
1. Chuẩn metadata

Hiện tại có rất nhiều chuẩn của các nước như Mỹ, Canada, Quata, Úc,… Dưới đây là một ví dụ về chuẩn của CSDGM.
CSDGM (Content Standard for Digital Geospatial Metadata) là chuẩn metadata của Ủy Ban Dữ Liệu Địa Lý Liên Bang Hoa Kỳ (United States Federal Geographic Data Committee - FGDC). CSDGM cung cấp khái niệm và định dạng để mô tả các đặc điểm của dữ liệu không gian địa lý. FGDC đưa ra phiên bản đầu tiên cho chuẩn này vào ngày 8 tháng 6 năm 1994 với mục đích là cung cấp một tập các thuật ngữ và định nghĩa thông dụng cho các khái niệm liên quan đến metadata.
Tháng 7 năm 1997, phiên bản CSDGM 2.0 ra đời chính thức hóa phương pháp dùng để tạo ra các yếu tố metadata, thiết lập các phương pháp để phác họa tiêu chuẩn metadata và cải tiến các nguyên tắc tiêu chuẩn sản phẩm để tạo ra CSDGM dễ dàng sử dụng hơn.
Chuẩn CSDGM bao gồm hơn 200 yếu tố để mô tả dữ liệu không gian địa lý, được tập hợp thành 10 loại thông tin, như:
- Thông tin nhận dạng dữ liệu (Data Identification Information).
- Thông tin chất lượng dữ liệu (Data Quality Information).
- Thông tin tổ chức dữ liệu không gian (Spatial Data Organization Information).
- Thông tin tham chiếu không gian (Spatial Reference Information).
- Thông tin thực thể và thuộc tính (Entity and Attribute Information).
- Thông tin phân phối (Distribution Information).
- Thông tin tham chiếu metadata (Metadata Reference Information).
- Thông tin trích dẫn (Citation Information).
- Thông tin thời gian (Time Period Information).
- Thông tin liên lạc (Contact Information).
2. Metadata trong ArcCatalog
Trong ArcCatalog có chứa các công cụ cho phép tạo lập, cập nhật và hiển thị thông tin metadata của dữ liệu.

2.1. Đặc điểm chung

Metadata trong ArcCatalog gồm hai phần: thông tin thuộc tính và thông tin mô tả. Thông tin thuộc tính được dẫn xuất từ chính đối tượng. Thông tin mô tả được cung cấp bởi người sử dụng.
Khi người sử dụng muốn xem metadata của một đối tượng (item) nào đó, ArcCatalog sẽ kiểm tra xem metadata của đối tượng đó đã tồn tại chưa. Nếu metadata chưa tồn tại, ArcCatalog sẽ tự động tạo metadata cho đối tượng và lấy những thông tin thuộc tính của đối tượng bỏ vào metadata, đồng thời tạo những hướng dẫn để người sử dụng nhập thông tin mô tả. Nếu metadata đã tồn tại thì ArcCalalog sẽ hiển thị những thông tin của metadata.
ArcCatalog hỗ trợ sẵn một ứng dụng để nhập phần thông tin mô tả. Ứng dụng đó là FGDC metadata editor. Để sử dụng công cụ này người sử dụng kích chọn nút Edit metadata trên thanh công cụ metadata (metadata toolbar). FGDC metadata editor cho phép người sử dụng tạo metadata theo đúng chuẩn CSDGM, đây chính là ứng dụng mặc định nhập metadata trong ArcCatalog.
Người sử dụng có thể tạo một ứng dụng riêng để nhập thông tin cho metadata. Do đó có thể tồn tại nhiều ứng dụng nhập cùng một lúc. Tuy nhiên chỉ có thể sử dụng một ứng dụng tại một thời điểm.
Sau khi metadata được tạo ra, nó trở thành một thành phần của đối tượng. Metadata tự động được di chuyển, sao chép hoặc xoá khi đối tượng di chuyển, sao chép hay bị xoá.
ArcCatalog cho phép người sử dụng lựa chọn metadata để tự động cập nhật hoặc cập nhật bằng tay khi dữ liệu thay đổi. Nếu chọn chế độ tự động cập nhật thì bất cứ khi nào xem metadata, ArcCatalog tự động cập nhật thông tin thuộc tính theo đúng giá trị hiện hành. Điều này bảo đảm thông tin thuộc tính trong metadata và thông tin thuộc tính của đối tượng luôn thống nhất với nhau. Nếu chọn chế độ cập nhật dữ liệu bằng tay thì medata chỉ được cập nhật khi nào người sử dụng kích chọn nút cập nhật metadata.

2.2. Hiển thị nội dung metadata

Cùng một nội dung metadata, ArcCatalog cho phép người sử dụng xem dưới các định dạng (stylesheet) như: ESRI, FGDC, FGDC FAQ, Geography Network, XML. Mỗi định dạng lấy dữ liệu trong metadata đưa vào trang HTML theo một dạng khác nhau (different-looking). ArcCalalog chọn định dạng ERSI là định dạng mặc định khi hiển thị nội dung metadata. Tuy nhiên, người sử dụng có thể lựa chọn một dạng hiển thị mặc định tuỳ ý.
Người sử dụng cũng có thể tạo ra định dạng theo ý muốn và gắn vào danh sách các định dạng để hiển thị thông tin theo ý muốn.

2.3. Phương pháp lưu trữ metadata

Metadata tạo bởi ArcCatalog được lưu trữ theo dữ liệu XML, Tuỳ theo dạng dữ liệu mà dữ liệu XML được lưu trữ cùng với thư mực chứa dữ liệu hoặc trong geodatabase.
XML (Extension Markup Language) là ngôn ngữ định dạng mở rộng dùng để thể hiện dữ liệu. XML cho phép người sử dụng định nghĩa dữ liệu bằng cách sử dụng các thẻ (tags). XML là một chuẩn dùng để truyền dữ liệu trên mạng Internet.
Stylesheet định nghĩa dữ liệu XML theo một dạng nhất định. Stylesheet được tạo bằng cách sử dụng XSL. XSL truy vấn dữ liệu XML. Stylesheet nhận dữ liệu từ tài liệu XML, định dạng lại và định nghĩa cách hiển thị. Trong ArcCatalog các stylesheet tạo trang XML từ dữ liệu XML, do đó người sử dụng có thể xem metadata với bất kỳ trình duyệt web nào.
Do dữ liệu được lưu trữ riêng biệt trong các file XML nên người sử dụng dễ dàng thay đổi định dạng hiển thị metadata bằng cách chọn các stylesheet từ thanh công cụ metadata.
Mỗi phần tử (element) của metadata định nghĩa theo chuẩn CSDGM đều có tên ngắn và tên dài. Tên ngắn được sử dụng để kết hợp với phần tử XML.
Những phần tử XML phải được chỉ ra, ArcCatalog tham chiếu tới thuộc tính đồng bộ trước khi cập nhật dữ liệu.
Nguồn: Vinagis

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482