DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Hồ Ba Bể có thể biến mất sau vài chục năm

Việc nước rửa quặng chưa qua xử lý được thải thẳng ra các sông, suối gây ô nhiễm nguồn nước, khiến các chuyên gia cảnh báo hồ Ba Bể có thể sẽ biến mất trong vài chục năm nữa.
Chiều qua, hội những người yêu Ba Bể đã tổ chức một buổi tọa đàm trao đổi về nguy cơ ô nhiễm, bồi lấp và có thể biến mất của hồ nước này. Người dân thuộc khu vực hồ Ba Bể đã gửi hàng trăm lá đơn kêu cứu về việc từ năm 2008, một công ty khoáng sản đã tiến hành khai thác mỏ sắt, nước rửa quặng đổ thẳng xuống các sông, ảnh hưởng đến cuộc sống người dân.
409925827_14
Máy móc hiện đại tham gia khai quặng, chất thải chảy xuống hồ Ba Bể. Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng.
Trước thực trạng trên, tuần qua đoàn khảo sát gồm nhà thơ Dương Thuấn - câu lạc bộ Những người yêu Ba Bể cùng giáo sư Phạm Vĩnh Cư, giáo sư Chu Hảo và giáo sư Đặng Hùng Võ đã đến tận địa phương tìm hiểu thực tế sự việc. "Sau khi tìm hiểu và thu thập các chứng cứu, dữ liệu, chúng tôi thấy hồ Ba Bể đang chết dần", nhà thơ Dương Thuấn nói.
Ông Thuấn cho biết thêm, theo quan sát của đoàn, các mỏ khai thác quặng đã chặn khe suốt rồi hút nước ngược lên để rửa quặng khiến dân thiếu nước tưới tiêu cho cây trồng. Nước rửa quặng sau đó đổ thẳng xuống các sông, suối dẫn vào hồ Ba Bể. Khi mưa xuống, nước cuốn theo cả chất thải và đất cát do đào quặng chảy xuống hồ, khiến cho lúa không thể phát triển được và năng suất suy giảm.
Không những vậy, việc vận chuyển quặng hàng ngày với mật độ nhiều xe trọng tải lớn đi qua đã nhiều lần làm vỡ ống dẫn nước chung cho dân, gây thiếu nước sinh hoạt.
Giáo sư Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ&Môi trường, cho rằng, nếu tiếp tục chặt cây, khai thác như hiện nay thì chỉ vài chục năm nữa sẽ không còn hồ Ba Bể. “Tôi trở lại hồ Ba Bể với cảm xúc đau buồn chưa bao giờ thấy. Nếu tiếp tục chặt cây, khai thác bừa bãi như hiện nay thì chỉ vài chục năm nữa sẽ chẳng còn viên ngọc quý này nữa", giáo sư Hảo ngậm ngùi.
Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bình luận: "Nếu chúng ta lên đến nơi vào thời điểm này, chỉ cần một người tử tế thôi, cũng sẽ thấy đau xót. Muốn giàu thì phải đánh đổi là điều đương nhiên, nhưng phải biết đánh đổi cái gì lấy cái gì, chứ không ai đi lấy cái quý giá nhất ra đánh đổi và ở đây là một sự đánh đổi rất vớ vẩn".
Cũng theo giáo sư Đặng Hùng Võ, việc khai thác tài nguyên ở đây đang làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số của vùng này. “Nếu muốn làm kinh tế, Bắc Kạn có thể làm cách khác, như du lịch hoặc lâm sản, chứ không phải chuyển mình bất chấp sự hủy hoại môi trường".
"Bắc Kạn chấp nhận phát triển bằng cách bán tài nguyên thiên nhiên như hiện nay thì có nghĩa là chúng ta đang ăn quỵt môi trường. Chúng ta đánh đổi những cái thiên nhiên ban tặng cho con người để lấy vài đồng thì con cháu chúng ta sẽ phải trả gấp một nghìn lần trong tương lai, trả một cách khó khăn, nhọc nhằn hơn nhiều”, ông nhấn mạnh thêm.
Hội những người yêu Ba Bể đang chuẩn bị hồ sơ về trình lên thủ tướng, đề nghị có biện pháp ngăn chặn tình trạng khai thác như hiện nay.
Vườn quốc gia Ba Bể có tổng diện tích 10.048 ha thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Hệ thống thủy văn vườn quốc gia Ba Bể gồm 4 con sông, suối chính nối với hồ Ba Bể. Năm 1995, hội nghị hồ nước ngọt trên thế giới tổ chức tại Mỹ đã công nhận hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ. Năm 2004, vườn quốc gia Ba Bể lại được công nhận là vườn di sản ASEAN.
Theo VnExpress

4 ngày, 10 trận động đất ở Việt Nam

Sáng 28.4, thêm một trận động đất xảy ra tại Lai Châu. Đây là trận động đất thứ 3 liên tiếp mạnh trên 3,5 độ Richter và là 1 trong khoảng 10 trận động đất xảy ra tại khu vực Sơn La, Lai Châu chỉ trong 4 ngày qua.
Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần (BTĐĐ-CBST) cho biết, trận động đất xảy ra lúc 9 giờ 1 phút 48 giây sáng qua 28.4, mạnh 4,1 độ Richter. Tâm chấn động đất có tọa độ 22,18 độ vĩ bắc; 103,20 độ kinh đông, nằm trên địa phận khu vực Chăn Nưa (H.Sìn Hồ, Lai Châu). Trước đó, trên địa bàn tỉnh Lai Châu vào các ngày 25 và 26.4 liên tiếp xuất hiện 2 trận động đất mạnh 3,8 và 3,6 độ Richter.
 
 Người dân khu dân cư mới Linh Đàm (Hà Nội) hoang mang vì động đất hồi cuối tháng 3 vừa qua - Ảnh: Minh Thư
TS Lê Huy Minh, Giám đốc Trung tâm BTĐĐ-CBST, cho biết đây được xác định là những trận động đất yếu, khó có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Theo TS Minh, hiện không thể khẳng định có tiếp tục xuất hiện các dư chấn của trận động đất nữa hay không và các cán bộ của trung tâm vẫn đang tiếp tục theo dõi sát các diễn biến tiếp theo.
“Những trận động đất này đều nằm trên các đới đứt gãy Sơn La và Lai Châu - Điện Biên. 4 ngày qua, chúng tôi đã ghi nhận được khoảng 10 trận động đất xảy ra trên 2 đới đứt gãy này, nhưng ngoài 3 trận động ở Lai Châu, tất cả các trận động đất còn lại đều nhỏ hơn 3,5 độ Richter nên theo quy chế báo tin động đất chúng tôi không phát đi bản tin động đất”, ông Minh nói.
Đới đứt gãy đang hoạt động tích cực
Người đứng đầu Trung tâm BTĐĐ-CBST cũng cho biết, đới đứt gãy Sơn La có thể gây ra động đất cực đại mạnh tới 7 độ Richter và trên thực tế từng xảy ra động đất mạnh 6,8 độ Richter. Trong khi đó, động đất trên đới đứt gãy Lai Châu - Điện Biên mạnh nhất là 6,1 - 6,5 độ Richter. Ông Minh lưu ý, các trận động đất xảy ra trong những ngày qua chứng tỏ 2 đới đứt gãy trên đang hoạt động tích cực và hiện chưa thể lý giải được nguyên nhân. Người dân và chính quyền các địa phương ở khu vực này cần chủ động đề phòng sự xuất hiện của các trận động đất lớn hơn.
 
 Bản đồ tâm chấn trận động đất tại Lai Châu sáng 28.4 - Nguồn: Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần
Theo ông Minh, cùng các trận động đất tại Lai Châu, từ cuối năm 2010 đến nay có khá nhiều các trận động đất xảy ra tại Cao Bằng, Thanh Hóa, Nghệ An và ngoài khơi Bà Rịa - Vũng Tàu… So với cùng kỳ các năm trước đó, động đất xảy ra nhiều hơn và xu hướng gia tăng. Các trận động đất này chứng tỏ các đới đứt gãy ở nước ta đang hoạt động mạnh và không loại trừ chu kỳ động đất mạnh đang lặp lại. Ông Minh cho biết, trên thực tế ở nước ta cứ sau khoảng 20 - 30 năm lại xuất hiện một trận động đất mạnh trên 6 độ Richter. Nếu tính từ trận động đất mạnh 6,8 độ Richter tại Tuần Giáo (Điện Biên) năm 1983, đến nay đã trên 24 năm. Khoảng thời gian này trùng với chu kỳ nêu trên.

- Năm 1935, tại TP Điện Biên ghi nhận động đất mạnh 6,7 độ Richter.
- Năm 1983 tại Tuần Giáo (Điện Biên) mạnh 6,8 độ Richter.
- Tháng 2.2001, tại khu vực Điện Biên - Lai Châu xảy ra trận động đất mạnh 5,3 độ Richter, làm 4 người bị thương, trên 3.200 công trình bị hư hại.
- Ngày 3.3.2008, một trận động đất mạnh 4,5 độ Richter xảy ra tại tọa độ 22,62 độ vĩ bắc; 102,36 đô kinh đông thuộc địa phận H.Mường Tè (Lai Châu)...

Chưa triển khai phương án phòng chống
Ông Đào Ngọc Hưởng, Giám đốc Sở NN-PTNT kiêm Phó trưởng Ban Chỉ huy phòng, chống lụt bão tỉnh Lai Châu, cho biết trận động đất sáng qua không gây thiệt hại gì về người và tài sản. Ông Hưởng nói rằng, nếu động đất mạnh xảy ra, chắc chắn sẽ gây thiệt hại nhưng Lai Châu là tỉnh miền núi, dân cư thưa thớt, ít có các công trình xây dựng tầm cỡ nên cũng không quá nghiêm trọng! “Lâu nay chúng tôi vẫn đọc trên báo, nghe trên đài về nguy cơ động đất tại Lai Châu là thế này thế nọ, nhưng đến thời điểm này chưa có cơ quan chuyên môn và đơn vị hữu trách nào thông báo chính thức cho địa phương và yêu cầu đề phòng. Đấy mới chỉ là trên sách vở, báo chí, chúng tôi chưa được thông tin chính thức nên cũng chưa triển khai các hoạt động phòng, chống động đất”, ông Hưởng nói.
Theo ông Hưởng, các nhà địa chất và cơ quan hữu trách T.Ư chưa cảnh báo với Lai Châu cần phải xây dựng các công trình có khả năng kháng chấn như thế nào. Trên thực tế, có rất ít tòa nhà, công trình xây dựng trên địa bàn có thiết kế kháng chấn. “Các nhà địa chất cần thông báo cho chúng tôi biết về nguy cơ và các phương án phòng chống. Chúng tôi sẽ tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh tổ chức triển khai các hoạt động đối phó với động đất”, ông Hưởng nói.
Nếu những gì ông Hưởng nói là sự thật thì khi động đất mạnh xảy ra trên địa bàn tỉnh Lai Châu, hậu quả sẽ là khôn lường. Trong khi đó, các quy định bắt buộc về kháng chấn đối với các công trình xây dựng đã được nêu rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như văn bản hướng dẫn, chỉ đạo công tác đối phó với thiên tai, thảm họa, trong đó có động đất. Nếu động đất gây thảm họa tại Lai Châu, ai sẽ là người phải chịu trách nhiệm?
Động đất ở VN mạnh cỡ nào?
Theo các nhà khoa học thuộc Viện Vật lý địa cầu, động đất tại VN không mạnh so với tại nhiều nơi trên thế giới, chủ yếu ở mức trung bình và trung bình yếu. Tần suất xuất hiện động đất mạnh từ cấp 6 đến cấp 9 là rất thấp. Trong đó, trung bình khoảng 10 năm xảy ra 1 trận động đất mạnh cấp 7 và 5 năm xảy ra 1 trận động đất cấp 6... Hà Nội nằm trong vùng động đất cấp 7 - cấp 8, TP.HCM nằm trong vùng động đất cấp 6 - cấp 7.
PGS-TS Nguyễn Hồng Phương, Phó giám đốc Trung tâm BTĐĐ-CBST, cho biết Tây Nguyên nằm trên đới đứt gãy Ba Tơ - Củng Sơn, nguy cơ động đất mạnh nhất ở khu vực này là 5,9 độ Richter, được xếp ở mức trên trung bình. Trong các năm 1970 và 1972, tại Tây Nguyên đã xảy ra 2 trận động đất đều mạnh 5,3 độ Richter. Còn Ninh Thuận nằm ở tương đối xa các đới đứt gãy tây biển đông hoặc kinh tuyến 109. Tỉnh này có nguy cơ chịu ảnh hưởng của lan truyền chấn động các trận động đất trên các đới đứt gãy kể trên. Khu vực đất liền Ninh Thuận chỉ có thể xảy ra động đất yếu, ít có khả năng gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Tại đây, năm 1967 đã xảy ra một trận động đất mạnh 4 độ Richter.
Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn

Nông nghiệp Bắc Ninh thích ứng với biến đổi khí hậu

Thách thức lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp của cả nước nói chung và Bắc Ninh nói riêng là biến đổi khí hậu toàn cầu, đó là hiện tượng nóng lên của trái đất.
Cứng hóa mặt đê nâng cao khả năng chống lũ.
Không giống như các nước ôn đới, những cây trồng nhiệt đới sẽ giảm năng suất tức thì khi nhiệt độ tăng, vì các giống cây trồng hiện nay hầu hết đã tiệm cận đến độ chống chịu nhiệt độ cao. Tuy vậy không khoanh tay ngồi chờ, Bắc Ninh cùng với cả nước chung tay với mọi tổ chức, mọi quốc gia trên thế giới đã nỗ lực bằng nhiều cách nhằm giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu. Nhờ vậy năng suất, chất lượng cây trồng liên tục tăng. Sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh được mùa 10 năm liên tục, năm 2010 năng suất lúa đạt gần 60 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với năm 2009, là tỉnh có mức năng suất cao trong vùng đồng bằng sông Hồng. Giá trị sản xuất bình quân 1 ha canh tác đạt 74 triệu đồng/năm.
Ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp của Bắc Ninh là tình trạng khan hiếm nước tưới trong vụ đông- xuân, mưa lũ diễn biến không theo quy luật, mùa đông ấm hơn, mùa hè nóng và kéo dài… Tỉnh và các ngành chức năng đã kết hợp nhiều biện pháp chỉ đạo sát thực, với việc huy động các nguồn lực đầu tư nhiều hệ thống công trình ứng phó với biến đổi khí hậu, công trình phục vụ sản xuất và chuyển giao các loại cây trồng mới phù hợp với điều kiện thực tế của sản xuất. Các biện pháp khả thi được thực hiện là trồng cây xanh, tre chắn sóng bảo vệ đê đồng thời có tác dụng hấp thụ CO2 giảm khí thải nhà kính; hàng năm đầu tư hàng chục tỷ đồng nâng cấp hệ thống đê, kè nâng cao hiệu quả phòng lũ. Và ngay khi mới bước vào sản mùa khô năm 2010 tỉnh đã cấp hơn 43 tỷ đồng kinh phí chống hạn khẩn cấp để tập trung nạo vét, tu sửa, xây dựng mới các trạm bơm tưới, trạm bơm tạm bảo đảm nguồn nước tưới cho sản xuất…
Trong ngành trồng trọt tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển giao những giống cây có khả năng chống chịu hạn, nhiệt độ cao. Chủ trương đổi mới cơ cấu giống lúa của tỉnh manh nha từ những năm cuối thế kỷ 20, sau đó được thể hiện bằng Nghị quyết số 09 của tỉnh về tăng cường sử dụng các giống lúa năng suất, chất lượng cao vào sản xuất. Nó thực sự trở thành ấn tượng khi Tỉnh ủy Bắc Ninh đã ban hành công văn số 462-CV/TU, ngày 29- 10- 2007 “về chủ trương cải tạo cơ cấu giống lúa”, với mục tiêu: Đến năm 2010 tăng diện tích lúa lai từ 6% (năm 2007) lên 30% tổng diện tích lúa, tăng diện tích lúa chất lượng từ 13,6% (năm 2007) lên 30%, diện tích còn lại được gieo cấy bằng các giống lúa thuần, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh để đưa năng suất lúa bình quân toàn tỉnh lên 60 tạ/ha. Đây thực sự là đòn bẩy quan trọng để đưa năng suất lúa của Bắc Ninh sánh ngang và cao hơn các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Ngay sau khi có chủ trương này, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ sản xuất như: hỗ trợ 50% giá giống cho toàn bộ diện tích gieo cấy lúa lai, 70% giá giống cho diện tích gieo cấy lúa chất lượng cao có quy mô 5ha trở lên, hỗ trợ công chỉ đạo sản xuất... Trong quá trình thực hiện, UBND tỉnh và các huyện, thành phố, thị xã cũng có nhiều văn bản chỉ đạo lịch gieo trồng phù hợp với điều kiện thời tiết hàng năm và khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong việc mở rộng diện tích lúa lai, lúa chất lượng cao... Nhiều tập đoàn giống lúa mới, năng suất, chất lượng được qua khảo nghiệm đã được bổ sung vào cơ cấu giống lúa của tỉnh như: PTE1, D.ưu 6511, Q.ưu 1, Nghi hương 2308, TL2, TL6, PD2, BN4, XT27,XT28,XT33, Hương cốm, nếp 9603, N87, N97… Đến nay, diện tích lúa lai trong toàn tỉnh đã đạt hơn 22.300 ha, chiếm 30% tổng diện tích gieo cấy. Năng suất lúa lai bình quân đạt 71 tạ/ha.
Theo ông Vũ Minh Hiếu, Trưởng phòng Trồng trọt (Sở NN và PTNT): “Để có được thành quả này ngoài chủ trương chỉ đạo đúng của tỉnh, lựa chọn giống cây trồng thích nghi với hình thái thời tiết ấm dần lên, thì biện pháp kỹ thuật cũng đóng vai trò hết sức quan trọng điều kiện biến đổi khí hậu. Đó là việc nắm bắt tình hình thời tiết, chỉ đạo lịch thời vụ sát và phù hợp với đặc tính sinh trưởng của cây trồng. Trong trường hợp thời tiết ấm phải đẩy lùi thời gian gieo mạ xuân, còn thời tiết rét tiến hành che phủ nilon cho mạ vừa tác dụng chống rét, lại ngăn chặn rầy nâu xâm nhập. Với việc phòng các đối tượng sâu bệnh hại lúa, thực hiện cày ải sớm, vệ sinh đồng ruộng tiêu diệt các tàn dư, hạn chế bệnh lùn sọc đen…”.
Không chỉ có lúa, chương trình phát triển cây màu, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày được đẩy mạnh, phù hợp với điều kiện sinh thái. Đã chuyển giao kỹ thuật, xây dựng mô hình đưa các loại giống cây trồng mới (giống lạc TQ1, L18, MD7, ngô LVN4, B9681, HQ2000, khoai tây Diamant, Mariella, KT3, đậu tương DT99, DT12, cà chua BM199, Trang Nông, VT3, HT6… Các tiến bộ kỹ thuật che phủ nilon, kỹ thuật trồng đậu tương đông trên đất 2 lúa bằng biện pháp làm đất tối thiểu, bảo quản giống khoai tây bằng kho lạnh, nhân giống sạch bệnh bằng phương pháp cấy mô… đã góp phần đưa năng suất lạc tăng từ 18,3 tạ/ha năm 2006, lên 21,3 tạ/ha năm 2010. Chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ nông dân xây dựng được 14 mô hình phát triển nông nghiệp công nghệ cao với hơn 65.000m2 nhà lưới, áp dụng kỹ thuật tiên tiến, đưa hiệu quả sản xuất rau, hoa đạt từ 150 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha/năm. Các tiến bộ kỹ thuật về giống, biện pháp thâm canh đã góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung, tạo tiền đề để phát triển chương trình cơ giới hoá nông nghiệp. Đồng thời xây dựng các mô hình nông nghiệp ven đô thị theo hướng sinh thái, bền vững, từng bước công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.
Do nhu cầu của phát triển, diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, việc Bắc Ninh vẫn giữ vững và phát triển ngành trồng trọt trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu là một thành quả có ý nghĩa chiến lược. Làm được điều này không những chúng ta bảo đảm vấn đề an ninh lương thực, mà còn mang lại giá trị cao cho người nông dân. Và chúng ta có thể tự hào rằng Bắc Ninh không chỉ có các KCN tập trung quy mô, hiện đại, mà Bắc Ninh đã và đang bước vào thực hiện một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa giá trị cao với sự gắn kết của “4 nhà”. Với mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới trên cơ sở tích tụ đất đai, cơ giới hóa, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản thực phẩm và khả năng cạnh tranh cao, tạo diện mạo mới cho các vùng nông thôn, góp phần xây dựng hình ảnh một Bắc Ninh năng động và hội nhập.
Mùa xuân mới lại về và mang đến nhiều niềm tin, những ước vọng tốt đẹp đang đón chờ phía trước. Hy vọng Bắc Ninh cùng với cả nước và cộng đồng quốc tế sẽ thích ứng được với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, để duy trì những cánh đồng bạt ngàn xanh tốt, thể hiện bản lĩnh không chịu khuất phục của con người Việt Nam trước thiên nhiên.
Theo BBN

Cây dừa cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu

Cây dừa ngoài mang lại giá trị kinh tế còn có nhiệm vụ chống sạt lở doc bờ sông. Ảnh: HỮU PHƯỚC
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, cây dừa là cây trồng sẽ chống chịu được với vùng đất mặn lợ, vùng đất bị mặn xâm nhập vào mùa khô. Đặc biệt, giá trị kinh tế từ cây dừa đang làm nhà vườn rất hài lòng. Hiện tại, giá trị một trái dừa khô ngang bằng 1kg gạo thơm.

Ông Nguyễn Văn Quới, Phó Chủ tịch UBND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cho biết: Bà con nông dân trong huyện đang chuyển mạnh một số diện tích đất trồng lúa, mía, cây ăn trái kém hiệu quả sang trồng dừa. Nguyên do, cây dừa đã và đang cho thu nhập bình quân 120 triệu đồng/ha/năm, trừ chi phí nhà vườn còn lãi khoảng 100 triệu đồng/ha/năm. Bà con chuyển sang trồng dừa nhiều là vì vốn đầu tư ít, sử dụng lao động ít, lợi nhuận cao... Quan trọng hơn là trước xu hướng xâm nhập mặn càng lúc càng diễn biến phức tạp nên cây dừa là cây trồng rất phù hợp trên vùng đất mặn lợ, đất bị nước mặn xâm nhập vào mùa khô. Còn về việc cây dừa giảm năng suất là do nhà vườn khai thác quá sức nhưng lại thiếu bón phân, tưới nước, bồi bùn...

Việt Nam hiện có khoảng 138.000ha dừa, trong đó Bến Tre là tỉnh có diện tích dừa nhiều nhất với hơn 51.000ha. Hiện tại, đề án quy hoạch cây dừa của cả nước đến năm 2020 với diện tích phát triển ổn định dao động khoảng 135.000-140.000ha. Cây dừa là cây công nghiệp lâu năm, tuy nhiên thời gian qua chưa thực sự được quan tâm do lấn cấn giữa Bộ NN&PTNT và Bộ Công thương nên đến nay cây dừa chưa được liệt vào danh sách cây trồng chủ lực.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Chủ tịch UBND huyện Bình Đại cũng rất hài lòng với cây dừa, ông Thanh cho biết: Huyện đang hướng người dân mở rộng thêm diện tích trồng dừa đối với tiểu vùng đã quy hoạch phát triển cây ăn trái. Vì trong tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay, các xã dọc theo sông Tiền chưa có hệ thống thủy lợi khép kín, mùa khô nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng thì chỉ có cây dừa mới chống chịu được với nạn mặn xâm nhập. Thực tế tại tỉnh Hậu Giang trong những năm qua, đối với các vùng thường xuyên bị mặn xâm nhập, nhưng cây dừa vẫn phát triển tốt và cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở vùng Vĩnh Viễn, Vĩnh Viễn A, Lương Tâm, Lương Nghĩa (huyện Long Mỹ), Hỏa Tiến, Tân Tiến (TP.Vị Thanh). Dù diện tích dừa trong tỉnh không lớn và trồng rải rác, nhưng giá trị kinh tế của cây dừa mang lại khá cao, lúc cao điểm, dừa có giá đến trên 100.000 đ/chục (12 trái). Dù không phải là cây trồng chủ lực, nhưng ngành nông nghiệp Hậu Giang cũng khuyến cáo bà con thay các cây tạp bằng cây dừa vừa thu được giá trị kinh tế, vừa chống sạt lở ở dọc các tuyến sông. Đặc biệt, cây dừa ít sử dụng thuốc hóa học sẽ tạo được môi trường trong sạch và phát triển bền vững.

Ông Đỗ Văn Công, Trưởng phòng Khoa học kỹ thuật Sở NN&PTNT Bến Tre cho biết: Sau 5 năm thực hiện dự án trồng mới 5.000ha dừa tại 55 xã của 5 huyện: Mỏ Cày, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú đã góp phần tăng năng suất, sản lượng đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - du lịch, đặc biệt là tăng thu nhập cho nông dân. Dự án đã giúp cho 12.894 hộ nông dân trồng mới 4.593ha dừa, tổng kinh phí thực hiện trên 65,408 tỉ đồng, trong đó ngân sách tỉnh chỉ có hơn 2,309 tỉ đồng, vốn dân vay trên 20,594 tỉ đồng, đặc biệt vốn dân tự có là rất lớn với trên 42,5 tỉ đồng. Ông Lê Phong Hải, Giám đốc Sở NN&PTNT Bến Tre khẳng định: Việc đầu tư mở rộng diện tích dừa là một hướng đi đang mang lại hiệu quả thiết thực. Một là góp phần tăng diện tích dừa từ 46.000ha lên 51.000ha; hai là giúp nông dân sử dụng hiệu quả đơn vị diện tích đất nông nghiệp; ba là nâng cao thu nhập cho người trồng dừa rất đáng kể; bốn là chuyển dịch kinh tế trong nông nghiệp phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu.

Ông Nguyễn Văn Hòa, Phó cục trưởng Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT khẳng định: Cây dừa là một trong những chủng loại cây trồng được Bộ NN&PTNT chỉ đạo sản xuất. Bến Tre là tỉnh đi tiên phong trong chính sách đầu tư phát triển cây dừa. Cục Trồng trọt sẽ có đề xuất chương trình hỗ trợ địa phương phát triển cây trồng này đi theo hướng bền vững. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, cây dừa là cây trồng có khả năng chịu được ẩm độ và mặn... là một trong những cây trồng thiên niên kỷ, giải quyết việc làm nông thôn gắn với các làng nghề thủ công mỹ nghệ. Theo ông Hòa, cây dừa được xác định là cây trồng phù hợp với biến đổi khí hậu, chính vì thế, khi các địa phương mở rộng diện tích dừa, phải tính toán kỹ quy hoạch và cơ cấu cụ thể giữa dừa uống nước và chế biến để điều tiết thị trường. Như vậy, ngay từ khâu giống phải tốt và theo đó phải hướng nhà vườn sản xuất theo hướng sạch, an toàn và bền vững môi trường, sẽ giúp nông dân làm giàu từ cây trồng truyền thống này.
Nguồn: http://www.baohaugiang.com.vn