DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Lấy tín hiệu GPS của mobile phone vào máy tính


Trái ngược với mục đích mua các thiết bị GPS gắn ngoài để sử dụng cho điện thoại, phần mềm miễn phí ExtGPS cho phép bạn dùng các điện thoại có GPS và sử dụng hệ điều hành Symbian S60 3rd của Nokia (N95, E90, 6110 Navigator) làm thiết bị GPS gắn ngoài cho các thiết bị khác như máy tính, PDA hay điện thoại khác.

Thông qua kết nối Bluetooth phần mềm ExtGPS sẽ nhận tín hiệu GPS từ vệ tinh và giả lập thành một thiết bị GPS gắn ngoài để sử dụng cho các thiết bị khác. Phần mềm sẽ hữu ích khi bạn truy cập vào hệ thống bản đồ từ Laptop mà không cần phải mua một thiết bị thu tín hiệu GPS chuyên dụng.

Một chiếc mobile phone = GPS + điện thoại + nhắn tin + nghe nhạc + lưu file + xem phim + chụp ảnh + lướt web + email + ... rất nhiều thứ khác, rõ ràng hơn hẳn >>>> một máy GPS thông thường.

Phần mềm hỗ trợ bản đồ trên máy tính có thể là ArcGIS, MapInfo, Global Mapper ....

Thiết bị hỗ trợ các dòng máy sau:

S60 3rd Edition

ManufacturerModelScreen resolution
Nokia3250Screen resolution is not fully supported
Nokia5500 SportScreen resolution is not fully supported
NokiaE50OK
NokiaE60Screen resolution is not fully supported
NokiaE61OK
NokiaE61iOK
NokiaE62OK
NokiaE65OK
NokiaE70Screen resolution is not fully supported
NokiaN71OK
NokiaN73OK
NokiaN75OK
NokiaN77OK
NokiaN80Screen resolution is not fully supported
NokiaN91Screen resolution is not fully supported
NokiaN91 8GBScreen resolution is not fully supported
NokiaN92OK
NokiaN93OK
NokiaN93iOK
SamsungI400OK


S60 3rd Edition Feature Pack 1

ManufacturerModelScreen resolution
Nokia5700 XPressMusicOK
Nokia5700 XPressMusicOK
Nokia6110 NavigatorOK
Nokia6120 ClassicOK
Nokia6121 ClassicOK
Nokia6124 ClassicOK
Nokia6290OK
NokiaE51OK
NokiaE66OK
NokiaE63OK
NokiaE71OK
NokiaE90 CommunicatorSecondary screen resolution is not fully supported
NokiaN76OK
NokiaN81OK
NokiaN81 8GBOK
NokiaN82OK
NokiaN95OK
NokiaN95-3 NAMOK
NokiaN95 8GBOK
LGJoy (KS10)OK
LGKT610OK
SamsungG810OK
SamsungI450OK
SamsungI520OK
SamsungI550OK
SamsungI560OK


S60 3rd Edition Feature Pack 2

ManufacturerModelScreen resolution
Nokia5320 XpressMusicOK
Nokia5630 XpressMusicOK
Nokia5730 XpressMusicOK
Nokia6210 NavigatorOK
Nokia6220 ClassicOK
Nokia6650 FoldOK
Nokia6700 SlideOK
Nokia6710 NavigatorOK
Nokia6720 ClassicOK
Nokia6730 ClassicOK
Nokia6730 ClassicOK
Nokia6760 SlideOK
Nokia6788OK
Nokia6790 SlideOK
Nokia6790 SurgeOK
NokiaE52OK
NokiaE55OK
NokiaE71x (AT&T)OK
NokiaE72OK
NokiaE75OK
NokiaE75 US+LTA variantOK
NokiaN78OK
NokiaN79OK
NokiaN85OK
NokiaN86 8MPOK
NokiaN96OK
NokiaN96-3OK
SamsungGT-I7110OK
SamsungI8510 (Innov8)OK
SamsungSGH-L870OK


S60 5th Edition

ManufacturerModelScreen resolution
Nokia5800 XpressMusicOK
Nokia5800 Navigation EditionOK
Nokia5530 XpressMusicOK
Nokia5230OK
NokiaN97OK
NokiaN97 miniOK
NokiaX6OK
Samsungi8910 Omnia HDOK
Sony EricssonSatioOK

--> P-GIS team đã test và chạy tốt trên Nokia C7

Download
or
Nguồn: p-gis.com

APPLICATION GIS & REMOTE SENSING IN VIETNAM

Hiện trang tài nguyên rừng và giải pháp ở Việt Nam

REMOTE SENSING

Một số Ứng Dụng Thực Tiễn Của GIS


Nguồn: http://www.scribd.com

GIS trong phân tích thông tin thị trường

Sức mạnh trực quan của bản đồ thường tiết lộ những xu hướng, những mô hình và những cơ hội trong kinh doanh mà thường không nhận thấy từ các bảng biểu đơn thuần
Các cơ sở thương mại quản lý một hệ thống thông tin về bán hàng, khách hàng, hàng hóa tồn kho, danh sách thư từ và rất nhiều thông tin khác. Ước tính khoảng 80% dữ liệu trong số đó có liên quan đến địa điểm, có thể thông qua địa chỉ, điện thoại, fax,... Dù doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề nào, để đảm bảo thành công thì doanh nghiệp phải đưa ra những quyết định khôn ngoan sớm hơn đối thủ cạnh tranh của m.nh. Có thể nắm bắt được thông tin trên thị trường sớm nhất, đi đến hành động kịp thời chính là chiếc chìa khóa dành cho doanh nghiệp. Sức mạnh trực quan của bản đồ thường tiết lộ những xu hướng, những mô hình và những cơ hội trong kinh doanh mà thường không nhận thấy từ các bảng biểu đơn thuần. Bản đồ là chìa khóa để thành công trong thương mại. Trong nội dung bài viết này sẽ tìm hiểu GIS có vai trò như thế nào trong hoạt động nghiên cứu và phân tích thị trường

GIS và nghiên cứu động thái của người tiêu dùng

Tất cả mọi nỗ lực marketing đều nhắm tới mục tiêu là người tiêu dùng. Bởi vậy, điều rất quan trọng là nhà quản trị tiếp thị phải hiểu các đặc điểm và động thái của người mua. Đặc biệt phải trả lời các câu hỏi như Who, What, When, Why, Where, How,… Để có hiểu biết kỹ lưỡng hơn về người tiêu dùng, nhà quản trị tiếp thị phải tiến hành một số h.nh thức, công cụ hỗ trợ nghiên cứu và GIS đặc biệt hữu dụng để tích hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau hỗ trợ trả lời được tất cả các câu hỏi trên

GIS và phân khúc thị trường

Thị trường bao gồm rất nhiều loại người tiêu dùng, nhiều loại hàng hóa và nhiều nhu
cầu. Các nhóm người tiêu dùng có thể hình thành theo các đặc điểm địa lý (khu vực,
thành phố), đặc điểm nhân khẩu (giới tính, tuổi tác, thu nhập, tr.nh độ học vấn), đặc
điểm xã hội học (tầng lớp xã hội, lối sống) và đặc điểm hành vi (lý do mua, lợi ích tìm
kiếm, cường độ tiêu dùng). Cùng với GIS, là sự kết hợp giữa yếu tố về địa lý (không gian) và các tham biến
Cùng với GIS, là sự kết hợp giữa yếu tố về địa lý  (không gian) và các tham biến được dùng để phân khúc thị trường như nhân khẩu học, tâm lý, hành vi của người
tiêu dùng để tạo ra hệ thống các bản đồ phân loại thị trường. Điều này làm tăng sự
hiểu biết nhiều hơn của các nhà quản lý tiếp thị về khách hàng của mình và nhanh
chóng định vị được thị trường mục tiêu để xây dựng chương trình quảng cáo, tiếp thị
thích hợp đến thị trường mục tiêu, đồng thời cung cấp sản phẩm và dịch vụ thích hợp tại vị trí thích hợp
Bản đồ doanh thu thuốc bảo vệ thực vật
GIS và phân tích thị trường cạnh tranh

Thông qua GIS, chúng ta nhanh chóng xác định vị trí của đối thủ cạnh tranh, điều này sẽ rất hữu dụng lúc nhà quản lý thấy được bản đồ tổng quan về các đối thủ cạnh tranh chính của m.nh trên những vị trí địa lý khác nhau. Trên bản đồ này, chúng ta có thể chồng nhiều lớp thông tin về đối thủ cạnh tranh như thị phần của từng sản phẩm, vùng bán hàng mà đối thủ đang chiếm lĩnh thị trường cũng như phạm vi mở rộng thị trường trong tương lai, mật độ phân phối,...trong những vùng địa lý khác nhau. Phương pháp phân tích này giúp doanh nghiệp nhanh chóng xác định được bản chất của thị trường cạnh tranh tại mỗi vị trí, mỗi vùng bán hàng riêng biệt và doanh nghiệp sẽ thực hiện những chiến lược marketing đặc biệt cho mỗi vùng này, ví dụ như có thể tăng quảng cáo khuyến mãi cho vùng 1 để chống lại đối thủ cạnh tranh A trong khi tăng mật độ phân phối trên vùng 2 để chống lại đối thủ cạnh tranh B.
                                                     Bản đồ thị phần bia
Theo đặc san viễn thám và địa tin học

Những thách thức môi trường hiện nay trên Thế giới

  Báo cáo tổng quan môi trường Toàn cầu năm 2000 của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) viết tắt là "GEO - 2000" là một sản phẩm của hơn 850 tác giả trên khắp Thế giới và trên 30 cơ quan môi trường và các tổ chức khác của Liên Hợp Quốc đã cùng phối hợp tham gia biên soạn. Đây là một báo cáo đánh giá tổng hợp về môi trường Toàn cầu khi bước sang một thiên niên kỷ mới. GEO - 2000 đã tổng kết những gì chúng ta đã đạt được với tư cách là những người sử dụng và gìn giữ các hàng hoá và dịch vụ môi trường mà Hành tinh cung cấp.
    Báo cáo đã phân tích hai xu hướng bao trùm khi loài người bước vào thiên niên kỷ thứ 3.
    Thứ nhất: Đó là các hệ sinh thái và sinh thái nhân văn Toàn cầu bị đe doạ bởi sự mất cân bằng sâu sắc trong năng suất và trong phân bố hàng hoá và dịch vụ. Một tỷ lệ đáng kể nhân loại hiện nay vẫn đang sống trong sự nghèo khó và xu hướng được dự báo là sự khác biệt sẽ ngày càng tăng giữa những người thu được lợi ích từ sự phát triển kinh tế và công nghệ và những người không bền vững theo hai thái cực: Sự phồn thịnh và sự cùng cực đang đe doạ sự ổn định của toàn bộ hệ thống nhân văn và cùng với nó là môi trường Toàn cầu.
    Thứ hai: Thế giới hiện đang ngày càng biến đổi, trong đó sự phối hợp quản lý môi trường ở quy mô Quốc tế luôn bị tụt hậu so với sự phát triển kinh tế - xã hội. Những thành quả về môi trường thu được nhờ công nghệ và những chính sách mới đang không theo kịp nhịp độ và quy mô gia tăng dân số và phát triển kinh tế. Mỗi một phần trên bề mặt Trái Đất được thiên nhiên ban tặng cho các thuộc tính môi trường của riêng mình, mặt khác, lại cũng phải đương đầu với hàng loạt các vấn đề mang tính Toàn cầu đã và đang nổi lên. Những thách thức đó là:
 Khí hậu Toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng.
    Vào cuối những năm 1990, mức phát tán dioxit cacbon (CO2) hàng năm xấp xỉ bằng 4 lần mức phát tán năm 1950 và hàm lượng CO2 đã đạt đến mức cao nhất trong những năm gần đây. Theo đánh giá của Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu thì có bằng chứng cho thấy về ảnh hưởng rất rõ rệt của con người đến khí hậu Toàn cầu. Những kết quả dự báo gồm việc dịch chuyển của các đới khí hậu, những thay đổi trong thành phần loài và năng suất của các HST, sự gia tăng các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và những tác động đến sức khoẻ con người. Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5 - 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX. Trái Đất nóng lên có thể mang tới những bất lợi đó là:
     - Mực nước biển có thể dâng lên cao từ 25 đến 140cm, do sự tan băng và sẽ nhấn chìm một vùng ven biển rộng lớn, làm đất mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, dẫn đến nghèo đói, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
     - Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, động đất, phun trào núi lửa, hoả hoạn và lũ lụt. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác. Ví dụ, các trận hoả hoạn tự nhiên không kiểm soát được vào các năm từ 1996 - 1998 đã thiêu huỷ nhiều khu rừng ở Braxin,Canada, khu tự trị Nội Mông ở Đông Bắc Trung Quốc, Inđônêxia, Ý, Mêhicô, Liên Bang Nga và Hoa Kỳ. Những tác động của các vụ cháy rừng có thể rất nghiêm trọng. Các chuyên gia coi chỉ số ô nhiễm ở mức 100m/m3 là đã có tác động xấu đến sức khoẻ; Ở Malaixia, chỉ số này đã đạt tới 800 m/m3. Chi phí ước tính do nạn cháy rừng đối với người dân Đông Nam Á là 1,4 tỷ USD. Các vụ cháy rừng còn đe doạ nghiêm trọng tới đa dạng sinh học.
    Trái Đất nóng lên chủ yếu do hoạt động của con người mà cụ thể là:
     - Do sử dụng ngày càng tăng lượng than đá, dầu mỏ và phát triển công nghiệp dẫn đến gia tăng nồng độ CO2 và SO2 trong khí quyển.
     - Khai thác triệt để dẫn đến làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng và đất rừng, nước - là bộ máy khổng lồ giúp cho việc điều hoà khí hậu Trái Đất.
     - Nhiều HST bị mất cân bằng nghiêm trọng ở nhiều khu vực trên Thế giới. Tất cả các yếu tố này góp phần làm cho thiên nhiên mất đi khả năng từ điều chỉnh vốn có của mình.
    Việt Nam, tuy chưa phải là nước công nghiệp, nhưng xu thế đóng góp khí gây hiệu ứng nhà kính làm biến đổi khí hậu Toàn cầu cũng gia tăng theo năm tháng. Kết quả kiểm kê của dự án Môi trường Toàn cầu (RETA), Việt Nam được đưa ra ở bảng sau.
Nhìn chung, lượng phát thải trong các lĩnh vực chính của những năm gần đây có xu hướng tăng lên, đó chính là hệ quả của tốc độ phát triển và tỷ lệ tăng dân số ở nước ta hiện nay. Lượng phát thải CO2 do tiêu thụ năng lượng và sản xuất xi măng của năm 1993 tăng hơn so với năm 1990. Trong khi đó, lượng phát thải CO2 do các hoạt động lâm nghiệp tăng không đáng kể. Trong khu vực nông nghiệp, lượng phát thải CH4 trong chăn nuôi đã có những sai khác nhiều so với năm 1990. CO2 và CH4 là 2 loại khí nhà kính chủ yếu ở nước ta hiện nay. Tính đến năm 1993, lượng phát thải CO2 ở Việt Nam vào khoảng 27 - 28 triệu tấn do tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch từ các hoạt động năng lượng và phát thải CH4 và 3,2 triệu tấn do sản xuất lúa nước. Các hoạt động trong ngành lâm nghiệp phát thải khoảng 34,5 triệu tấn CO2 song lượng CO2 do đốt sinh khối cần được đánh giá và xác định một cách chính thức.
    Với những nguyên nhân trên, thiên tai không những chỉ xuất hiện với tần suất ngày càng gia tăng mà quy mô tác động gây thiệt hại cho con người cũng ngày càng lớn. Ví dụ, tháng 12/1999, hai trận mưa lớn ở Vênêzuêla đã làm cho 50.000 người chết và hơn 200.000 người không có nhà ở. Cũng vào năm đó, một cơn bão lớn đã cướp đi mạng sống của 10.000 người ở Orissa (Ấn Độ) và một trận động đất đã tàn phá đất nước Thổ Nhĩ Kỳ và đặc biệt gần đây, ngày 26/01/2001, thảm hoạ động đất ở Ấn Độ đã làm cho khoảng 30.000 người chết và hàng vạn người bị thương gây thiệt hại rất lớn về tiền của. Đầu tháng 9/2000, những cơn bão liên tiếp có kèm theo mưa lớn đã đổ xuống khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) làm cho vùng đất rộng lớn bị chìm ngập trong biển nước. Tính đến ngày 6/10/2000, tổng thiệt hại do lũ lụt gây ra tại các tỉnh ĐBSCL ước tính lên tới 3.125 tỷ đồng, 309 người chết trong đó có 232 trẻ em.
Sự suy giảm tầng Ôzôn (O3)
    Vấn đề gìn giữ tầng Ôzôn có vai trò sống còn đối với nhân loại. Tầng Ôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người và các loài sinh vật trên Trái Đất. Bức xạ tia cực tím có nhiều tác động, hầu hết mang tính chất phá huỷ đối với con người, động vật và thực vật cũng như các loại vật liệu khác, khi tầng Ôzôn tiếp tục bị suy thoái, các tác động này càng trở nên tồi tệ. Ví dụ, mức cạn kiệt tầng Ôzôn là 10% thì mức bức xạ tia cực tím ở các bước sóng gây phá huỷ tăng 20%. Bức xạ tia cực tím có thể gây huỷ hoại mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại võng mạc, gây ung thư da, làm tăng các bệnh về đường hô hấp. Đồng thời, bức xạ tia cực tím tăng lên được coi là nguyên nhân làm suy yếu các hệ miễn dịch của con người và động vật, đe doạ tới đời sống của động và thực vật nổi trong môi trường nước sống nhờ quá trình chuyển hoá năng lượng qua quang hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh.
    Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40 km phụ thuộc vào vĩ độ. Việc giao thông đường bộ do các phương tiện có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất. Nếu không khí có nồng độ Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khoẻ con người.
Ví dụ:    Nồng độ Ôzôn = 0,2ppm: Không gây bệnh.
        Nồng độ O3 = 0,3ppm: Mũi, họng bị kích thích và bị tấy.
        Nồng độ O3 = 1 - 3ppm: Gây mệt mỏi, bải hoải sau 2 giờ tiếp xúc.
        Nồng độ O3 = 8ppm: Nguy hiểm đối với phổi.
        Nồng độ O3 cao cũng gây tác động có hại đối với thực vật (bảng 4).
    Các chất làm cạn kiệt tầng Ôzôn (ODS - Ozon Depletion Substances) bao gồm: Cloruafluorocacbon (CFC); mêtan (CH4); các khí nitơ ôxit (NO2, NO, NOx) có khả năng hoá hợp với O3 và biến đổi nó thành ôxy. Các chất làm suy giảm tầng Ôzôn trong tầng bình lưu đạt ở mức cao nhất vào năm 1994 và hiện đang giảm dần. Theo Nghị định thư Montreal và các văn bản sửa đổi của Nghị định thư dự đoán rằng, tầng Ôzôn sẽ được phục hồi so với trước những năm 1980 vào năm 2050.
Tài nguyên bị suy thoái.
    Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc. Sa mạc Sa - ha - ra có diện tích rộng 8 triệu km2, mỗi năm bành trướng thêm từ 5 - 7km2. Một bằng chứng mới cho thấy, sự biến đổi khí hậu cũng là nguyên nhân gây thêm tình trạng xói mòn đất ở nhiều khu vực. Gần đây, 250 nhà Thổ nhưỡng học được Trung tâm Thông tin và Tư vấn Quốc tế Hà Lan tham khảo lấy ý kiến đã cho rằng, khoảng 305 triệu ha đất màu mỡ (gần bằng diện tích của Tây Âu) đã bị suy thoái do bàn tay của con người, làm mất đi tính năng sản xuất nông nghiệp. Khoảng 910 triệu ha đất tốt (tương đương với diện tích nước Úc) sẽ bị suy thoái ở mức trung bình, giảm tính năng sản xuất và nếu không có biện pháp cải tạo thì quỹ đất này sẽ bị suy thoái ở mức độ mạnh trong tương lai gần. Theo Tổ chức Lương thực Thực phẩm Thế giới (FAO) thì trong vòng 20 năm tới, hơn 140 triệu ha đất (tương đương với diện tích của Alaska) sẽ bị mất đi giá trị trồng trọt và chăn nuôi. Đất đai ở hơn 100 nước trên Thế giới đang chuyển chậm sang dạng hoang mạc, có nghĩa là 900 triệu người đang bị đe doạ. Trên phạm vi Toàn cầu, khoảng 25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hàng năm vào các sông ngòi và biển cả. Theo tài liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, diện tích đất canh tác bình quân đầu người trên Thế giới năm 1983 là 0,31ha/người thì đến năm 1993 chỉ còn 0,26 ha/người và còn tiếp tục giảm trong tương lai.
     - Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra với mức độ cao, trên Thế giới diện tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện tích này đã bị mất đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới chiếm 2/3. Sự phá huỷ rừng xảy ra mạnh, đặc biệt ở những nước đang phát triển. Chủ yếu do nhu cầu khai thác gỗ củi và nhu cầu lấy đất làm nông nghiệp và cho nhiều mục đích khác, gần 65 triệu ha rừng bị mất vào những năm 1990 - 1995.
    Ở các nước phát triển, diện tích rừng tăng 9 triệu ha, con số này còn quá nhỏ so với diện tích rừng đã bị mất đi. Chất lượng của những khu rừng còn lại đang bị đe doạ bởi nhiều sức ép do tình trạng gia tăng dân số, mưa axit, nhu cầu khai thác gỗ củi và cháy rừng. Nơi cư trú của các loài sinh vật bị thu hẹp, bị tàn phá, đe doạ tính đa dạng sinh học ở các mức độ về gen, các giống loài và các HST.
     - Với tổng lượng nước là 1386.106 km3, bao phủ gần 3/4 diện tích bề mặt Trái Đất, và như vậy Trái Đất của chúng ta có thể gọi là "Trái Nước", nhưng loài người vẫn "khát" giữa đại dương mênh mông, bởi vì với tổng lượng nước đó thì nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước, mà hầu hết tồn tại ở dạng đóng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%), còn lượng nước ngọt mà con người có thể tiếp cận để sử dụng trực tiếp thì lại càng ít ỏi (chỉ chiếm 0,26%). Sự gia tăng dân số nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi Toàn cầu. Gần 20% dân số Thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn. Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước ở nhiều nơi và đối với các khu vực ven biển đó là sự xâm nhập mặn. Ô nhiễm nước uống là phổ biến ở các siêu đô thị, ô nhiễm nitrat (NO3 -) và sự tăng khối lượng các kim loại nặng gây tác động đến chất lượng nước hầu như ở khắp mọi nơi. Nguồn cung cấp nước sạch trên Thế giới không thể tăng lên được nữa; ngày càng có nhiều người phụ thuộc vào nguồn cung cấp cố định này và ngày càng có nhiều người bị ô nhiễm hơn. Mất đất, mất rừng, cạn kiệt nguồn nước làm cho hàng chục triệu người buộc phải di cư, tị nạn môi trường,... gây xuống cấp các điều kiện sức khoẻ, nhà ở, môi trường. Có khoảng 1 tỷ người không có đủ chỗ để che thân và hàng chục triệu người khác phải sống trên các hè phố. Thật không thể tin được rằng, Thế giới ngày nay cứ mỗi năm có 20 triệu người dân chết vì nguyên nhân môi trường, trong khi đó, số người chế trong các cuộc xung đột vũ trang của hơn nửa thế kỷ tính từ sau năm 1945 tới nay cũng chỉ là 20 triệu người. Bài toán tăng 75% lượng lương thực từ nay tới năm 2030 do FAO đề ra là bài toán khó vẫn chưa có lời giải vì dân số liên tục gia tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp không tăng mà còn có xu hướng giảm, độ màu mỡ của đất ngày càng suy giảm.
Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng.
    Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị. Nhiều vấn đề môi trường tác động tương tác với nhau ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao. Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường. Khoảng 30 - 60% dân số đô thị ở các nước có thu nhập thấp vẫn còn thiếu nhà ở và các điều kiện vệ sinh. Sự tăng nhanh dân số Thế giới có phần đóng góp do sự phát triển đô thị. Bước sang thế kỷ XX, dân số Thế giới chủ yếu sống ở nông thôn, số người sống tại các đô thị chiếm 1/7 dân số Thế giới. Nhưng đến cuối thế kỷ XX, dân số sống ở đô thị đã tăng lên nhiều và chiếm tới 1/2 dân số Thế giới. Ở nhiều quốc gia đang phát triển, đô thị phát triển nhanh hơn mức tăng dân số. Châu Phi là vùng có mức độ đô thị hoá kém nhất, nay đã có mức đô thị hoá tăng hơn 4%/năm so với mức tăng dân số là 3%, số đô thị lớn ngày càng tăng hơn. Đầu thế kỷ XX chỉ có 11 đô thị loại 1 triệu dân và phần lớn tập trung ở Châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng đến cuối thế kỷ đã có khoảng 24 siêu đô thị với số dân trên 24 triệu người.
    Năm 1950, có 3 trong số 10 thành phố lớn nhất trên Thế giới là ở các nước đang phát triển như: Thượng Hải (Trung Quốc); Buenos Aires (Achentina) và Calcuta (Ấn Độ). Năm 1990, 7 thành phố lớn nhất là ở các nước đang phát triển. Năm 1995 và năm 2000 đã tăng lên 17 siêu đô thị (bảng)
    Ở Việt Nam hiện nay, trong 500 thành phố và thị trấn chỉ có 2 thành phố trên 1 triệu dân (Hà Nội khoảng 2,2 triệu người, kể cả ngoại thành; Thành phố Hồ Chí Minh khoảng hơn 4 triệu người với 1/4 là ngoại thành) và 2 thành phố với số dân từ 350.000 đến 1 triệu người. Trong vòng 15 năm tới, nếu không có sự quy hoạch đô thị hợp lý, có khả năng TPHCM và cả Hà Nội sẽ trở thành siêu đô thị với tất cả những vấn đề môi trường phức tạp về mật độ dân cư.
    Đặc biệt, lượng nước ngọt đang khan hiếm trên hành tinh cũng bị chính con người làm tổn thương, một số nguồn nước bị nhiễm bẩn nặng đến mức không còn khả năng hoàn nguyên. Hiện nay, Đại Dương đang bị biến thành nơi chứa rác khổng lồ của con người, nơi chứa đựng đủ loại chất thải của nền văn minh kỹ thuật, kể cả chất thải hạt nhân. Việc đổ các chất thải xuống biển đang làm xuống cấp các khu vực ven biển trên toàn Thế giới, gây huỷ hoại các hệ sinh thái như đất ngập nước, rừng ngập mặn và các dải san hô.
    Hiện nay, trên Thế giới, nhiều vùng đất đã được xác định là bị ô nhiễm. Ví dụ, ở Anh đã chính thức xác nhận 300 vùng với diện tích 10.000 ha bị ô nhiễm, tuy nhiên trên thực tế có tới 50.000 - 100.000 vùng với diện tích khoảng 100.000ha (Bridges, 1991). Còn ở Mỹ có khoảng 25.000 vùng, ở Hà Lan là 6.000 vùng đất bị ô nhiễm cần phải xử lý.
Sự gia tăng dân số.
    Con người là chủ của Trái Đất, là động lực chính làm tăng thêm giá trị của các điều kiện kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, xung lượng gia tăng dân số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái môi trường và tình hình kinh tế bất lợi đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng nghiêm trọng giữa dân số và môi trường.
    Đầu thế kỷ XIX, dân số Thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm 1927 tăng lên 2 tỷ người; năm 1960: 3 tỷ; năm 1974: 4 tỷ; năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ người, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi. Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người. Theo dự tính đến năm 2015, dân số Thế giới sẽ ở mức từ 6,9 - 7,4 tỷ người và đến 2025 dân số sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người. 95% dân số tăng thêm nằm ở các nước đang phát triển do đó các nước này sẽ phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng cả về kinh tế, xã hội đặc biệt là môi trường, sinh thái. Việc giải quyết những hậu quả do dân số tăng của những nước này có lẽ còn khó khăn hơn gấp nhiều lần những xung đột về chính trị trên Thế giới.
    Nhận thức được tầm quan trọng của sự gia tăng dân số trên Thế giới, nhiều Quốc gia đã phát triển chương trình kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ), mức tăng trưởng dân số Toàn cầu đã giảm từ 2% mỗi năm vào những năm trước 1980 xuống còn 1,7% và xu hướng này ngày càng thấp hơn.
    Theo dự tính, sau năm 2050, dân số Thế giới sẽ ngừng tăng và ổn định ở mức 10,3 tỷ. Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa đủ để tạo cân bằng giữa dân số và khả năng của môi trường. Các nước chưa liên kết được KHHGĐ với quy hoạch phát triển, thì cũng chưa thể gắn vấn đề dân số với hành động về môi trường. Một câu hỏi được đặt ra là liệu tài nguyên thiên nhiên và các HST của Trái Đất có thể chịu đựng được sự tác động thêm bởi những thành viên cuối cùng của loài người chúng ta hay không? Hơn nữa, điều gì sẽ xảy ra vào năm 2025, khi người thứ 8 tỷ của Trái Đất sẽ ra đời? Nếu người thứ 6 tỷ sinh ra tại một nước phát triển, ví dụ như ở Mỹ thì người đó đương nhiên thuộc vào dân số tầng lớp trên, ít nhất theo nghĩa là có nhà tốt, có nước sạch, có điều kiện vệ sinh và được hưởng giáo dục, chăm sóc y tế thích đáng, có việc làm, có thời gian giải trí. Song người thứ 6 tỷ cũng góp phần tiêu thụ những tài nguyên kỷ lục. Hàng năm, 270 triệu người Mỹ sử dụng khoảng 10 tỷ tấn nguyên liệu, chiếm 30% trữ lượng của toàn hành tinh; 1 tỷ người giàu nhất Thế giới, kể cả người Châu Âu và người Nhật tiêu thụ 80% tài nguyên Trái Đất. Nếu người thứ 6 tỷ được sinh ra tại một nước đang phát triển, nơi tập trung 3/4 dân số của Thế giới thì người đó chỉ có lâm vào cơ hội nghèo đói và thiếu thốn; 1/3 dân số Thế giới (2 tỷ người) đang sống với khoảng 2 USD/ngày; một nửa số người trên Trái Đất có điều kiện vệ sinh kém; 1/4 không được dùng nước sạch, 1/3 sống trong những khu nhà ở không đủ tiện nghi; 1/6 không biết chữ và 30% những người lao động không có được cơ hội có việc làm phù hợp; 5 tỷ người còn lại trên Trái Đất chỉ tiêu dùng vẻn vẹn 20% tài nguyên Trái Đất. Việc tăng những kỳ vọng và nhu cầu thiết yếu để cải thiện điều kiện sống trong những nước đang phát triển càng làm trầm trọng thêm sự tổn hại về môi trường. Một người Mỹ trung bình hàng năm tiêu thụ 37 tấn nhiên liệu, kim loại, khoáng chất, thực phẩm và lâm sản. Ngược lại, 1 người Ấn Độ trung bình tiêu thụ hàng năm ít hơn 1 tấn. Theo Liên Hợp Quốc, nếu toàn bộ dân số của Trái Đất có cùng mức tiêu thụ trung bình như người Mỹ hoặc Tây Âu, thì cần phải có 3 Trái Đất để đáp ứng tài nguyên cần thiết. Rõ ràng, cần phải quan tâm hơn nữa tới sự tiến bộ của con người và công bằng xã hội và phải coi đây là những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển nguồn nhân lực và cải thiện môi trường. Mỗi Quốc gia phải đảm bảo sự hài hoà giữa: Dân số, hoàn cảnh môi trường, tài nguyên, trình độ phát triển, kinh tế - xã hội.
Sự suy giảm tính đa dạng sinh học (ĐDSH) trên Trái Đất.
    Các loài động và thực vật qua quá trình tiến hoá trên Trái Đất hàng trăm triệu năm đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên Trái Đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn đất, làm tăng độ phì nhiêu đất. Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người, và là nguồn gen phong phú để tạo ra các giống loài mới. ĐDSH được chia thành 3 dạng: Đa dạng di truyền; đa dạng loài và đa dạng sinh thái.
     - Đa dạng di truyền: Vật liệu di truyền của vi sinh vật, thực vật và động vật chứa đựng nhiều thông tin xác định các tính chất của tất cả các loài và các cá thể tạo nên sự đa dạng của Thế giới hữu sinh. Theo định nghĩa, thì những cá thể cùng loài có những đặc điểm giống nhau, những biến đổi di truyền lại xác định những đặc điểm riêng biệt của những cá thể trong cùng loài.
     - Đa dạng loài: Được thể hiện đối với từng khu vực, đa dạng loài được tính bằng số lượng loài và những đơn vị dưới loài trong 1 vùng.
     - Đa dạng HST: Sự phong phú về môi trường trên cạn và môi trường dưới nước của Trái Đất đã tạo nên một số lượng lớn HST. Những sinh cảnh rộng lớn bao gồm rừng mưa nhiệt đới, đồng cỏ, đất ngập nước, san hô và rừng ngập mặn chứa đựng nhiều HST khác nhau và cũng rất giàu có về ĐDSH. Những HST riêng biệt chứa đựng các loài đặc hữu cũng góp phần quan trọng cho ĐDSH Toàn cầu. Các sinh cảnh giàu có nhất của Thế giới là rừng ẩm nhiệt đới, mặc dù chúng chỉ chiếm 70% tổng diện tích của bề mặt Trái Đất, nhưng chúng chiếm ít nhất 50%, thậm chí đến 90% số loài của động và thực vật.
    Sự đa dạng về các giống loài động thực vật trên hành tinh có vị trí vô cùng quan trọng. Việc bảo vệ ĐDSH còn có ý nghĩa đạo đức, thẩm mỹ và loài người phải có trách nhiệm tuyệt đối về mặt luân lý trong cộng đồng sinh vật sống. ĐDSH lại là nguồn tài nguyên nuôi sống con người. Chúng ta đã sử dụng sinh vật làm thức ăn, thuốc chữa bệnh, hoá chất, vật liệu xây dựng, năng lượng,... và cho nhiều mục đích khác, khoảng 100 loài cây cung cấp phần lớn lượng thức ăn cho Toàn cầu, chúng vô cùng quý giá và cần phải được bảo tồn và phát triển. Hơn 10.000 cây khác, nhất là ở các vùng nhiệt đới có thể dùng làm thực phẩm nếu chúng ta biết sử dụng chúng tốt hơn. Cây cối và các sinh vật khác còn là một "xí nghiệp" hoá - sinh tự nhiên. Sức khoẻ của hơn 60% dân số Thế giới phụ thuộc vào các loài cây làm thuốc. Ví dụ, Trung Quốc đã sử dụng 5.000 trong số 30.000 loài cây để làm thuốc. Mất ĐDSH chúng ta cũng mất đi các dịch vụ tự nhiên của các HST tự nhiên, đó là: Bảo vệ các lưu vực sông ngòi, điều hoà khí hậu, duy trì chất lượng không khí, hấp thụ ô nhiễm, sản sinh và duy trì đất đai. Tuy nhiên, nhân loại đang phải đối mặt với một thời kỳ tuyệt chủng lớn nhất của các loài động và thực vật. Thảm hoạ này tiến triển nhanh nhất và có hậu quả rất nghiêm trọng. Theo tính toán, trên Thế giới có 492 chủng quần thực vật có tính chất di truyền độc đáo đang bị đe doạ tuyệt chủng. Sự đe doạ không chỉ riêng đối với động và thực vật hoang dại mà trong nhiều thập kỷ gần đây với cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp, công nghiệp hoá đã làm biến mất nhiều giống loài địa phương quý hiếm, 1.500 giống lúa địa phương đã bị tuyệt chủng trong 20 năm qua ở Inđônêxia. Ở Việt Nam, việc áp dụng rộng rãi các giống lúa mới trong nông nghiệp,... đã dẫn tới sự thu hẹp hoặc mất đi các HST dẫn tới nguy cơ tuyệt diệt 28% các loài thú, 10% các loài chim, 21% loài bò sát và lưỡng cư (Lê Quý An, 2000). Hiện tượng này cũng xảy ra tương tự đối với vật nuôi trên Toàn cầu, đã có 474 giống vật nuôi được coi là quý hiếm và tổng cộng đã có 617 giống vật nuôi đã tuyệt chủng. Nguyên nhân chính của sự mất ĐDSH là:
     - Mất nơi sinh sống do chặt phá rừng và phát triển kinh tế.
     - Săn bắt quá mức để buôn bán.
     - Ô nhiễm đất, nước và không khí.
     - Việc du nhập nhiều loài ngoại lai cũng là nguyên nhân gây mất ĐDSH.
Thế nào là sinh vật ngoại lai? Đó là những sinh vật lạ lọt vào một HST mà trước đó không có do hoạt động vô tình hay hữu ý của con người, từ đó nảy sinh mối đe doạ cho các loài bản địa. Điều này xảy ra chủ yếu do 2 nguyên nhân:
    - Nhập nội các sinh vật lạ hoặc các sản phẩm sinh học mới mang tính thương mại nhưng chưa được các cơ quan chuyên môn kiểm tra và đánh giá.
    - Phóng thích các sinh vật được truyền gen vào môi trường tự nhiên nhưng chưa đánh giá được đầy đủ ảnh hưởng của chúng đến các HST.
    Liên quan đến vấn đề này, xuất hiện phạm trù về "An toàn sinh học trong quản lý môi trường". Đó là các quy định pháp lý thống nhất trên lãnh thổ một Quốc gia về các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học cao (công nghệ gen), nhằm đảm bảo an toàn cho người, các HST và môi trường.
Đặc điểm chung của những sinh vật ngoại lai là:
    + Sinh vật sản xuất nhanh (bằng cả sinh sản vô tính và hữu tính).
    + Biên độ sinh thái rộng, thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường.
    + Khả năng cạnh tranh về nguồn thức ăn, nơi cư trú lớn.
    + Khả năng phát tán lớn.
Những tác hại do sinh vật ngoại lai gây nên:  Các sinh vật lạ khi xâm nhập vào môi trường thích hợp, chúng có thể tiêu diệt dần các loài bản địa bằng:
    + Cạnh tranh nguồn thức ăn (động vật)
    + Ngăn cản khả năng gieo giống, tái sinh tự nhiên của các loài bản địa (thực vật) do khả năng phát triển nhanh với mật độ dày đặc
    + Cạnh tranh tiêu diệt dần các loài bản địa, làm suy thoái hoặc thay đổi tiến tới tiêu diệt luôn cả hệ sinh thái bản địa.
    Hậu quả của quá trình này không dễ khắc phục, không chỉ gây tổn thất về giá trị ĐDSH, mà còn gây tổn thất không nhỏ về kinh tế.
Những nơi sinh vật ngoại lai dễ xâm nhập: Sự xâm nhập của các loài sinh vật ngoại lai thường bắt đầu từ những vùng nhạy cảm, những HST kém bền vững như: Vùng cửa sông, bãi bồi, các vực nước nội địa, các vùng đảo nhỏ, các HST nông nghiệp độc canh, vùng núi cao với các HST bản địa thuần loài (thực vật). Ví dụ, Ốc bươi vàng (Pila sinensis) được nhập khẩu vào nước ta trong khoảng hơn 10 năm nay, với khả năng sinh sản rất nhanh và thức ăn chủ yếu là lúa đã gây nên đại dịch phá hoại lúa ở nhiều tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh thuộc miền Trung và miền Bắc nước ta. Nạn dịch này không chỉ làm giảm sản lượng lúa của các địa phương mà hàng năm, nhà nước đã phải chi ra hàng trăm triệu đồng để tiêu diệt loài ốc này.
    Hầu hết các loài bị đe doạ đều là các loài trên mặt đất và trên một nửa sống trong rừng. Các nơi cư trú nước ngọt và nước biển, đặc biển là các dải san hô là những môi trường sống rất dễ bị thương tổn
Nguồn: Môi trường và thách thứ GS Lê Văn Khoa - ĐH KHTN - ĐH QGHN
Độc giả tải nghiên cứu đầy đủ của GS tại đây: DOWNLOAD

Công nghệ đo sâu

Hiện nay, với thế mạnh sở hữu trang thiết bị công nghệ hiện đại nhất trong lĩnh vực định vịGPS(6 máy thu GPS 2 tần số thế hệ mới của Topcon (Nhật Bản), 2 máy thu GPS 1 tần số Ashtech Promark2 (Pháp), & cặp máy thu GPS Omnistar của Hemisphere, ...) và thế mạnh trong công nghệ đo sâu (máy đo sâu 1 tần số Odom Hydrotrac, máy đo sâu 2 tần số Odom Echotrac MKIII, máy đo sâu đa tia Multibeam Odom ES3M (Mỹ), thiết bị đo độ lắc của tàu khảo sát Motion Sensor, máy đo vận tốc âm thanh DigibarPro, ...), cùng thiết bị quét hình Side Scan Sonar để nhận biết hình dạng và kích thước của vật liệu đáy, và kết hợp với phương pháp RTK(RealTime Kinematic), ĐỊA HẢI ngày càng nâng cao độ chính xác cho công tác khảo sát, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cao của các đơn vị tư vấn nước ngoài.

multibeam_1
Hình ảnh mô phỏng công tác đo sâu dùng máy đo đa chùm tia Multibeam ở Địa Hải

sidescan_2
Đo sâu kết hợp thiết bị quét Side Scan Sonar để kiểm tra kích thước vật liệu đáy ở Địa Hải


Sau đây là phần giới thiệu tổng quan về kỹ thuật đo GPS RTK hiện đại này :

KỸ THUẬT DGPS RTK (Real Time Kinematic)

Kỹ thuật đo RTK được thiết kế như ý tưởng ban đầu là nhằm đạt độ chính xác cao nhất và đặc biệt ứng dụng trong lĩnh vực đo sâu hồi âm dùng kỹ thuật DGPS, trị đo pha sóng tải.
d-gps
Độ chính xác khi dùng kỹ thuật định vị DGPS thông thường

Tổng quát, trong kỹ thuật đo này, người dùng cần cài đặt máy thu GPS trên 1 trạm đã biết tọa độ và độ cao (trạm base), và máy thu còn lại được lắp đặt tại trạm di chuyển Rover và cả 2 máy thu này cần phải nhận cùng một tín hiệu GPS tại cùng một thời điểm.
Số nguyên đa trị N (ambiguty interger) được giải bằng cách dùng dữ liệu được gửi từ trạm Base (trạm cơ sở - đã biết tọa độ, độ cao) tới trạm Rover (trạm di động), và việc giải tham số đa trị này được thực hiện ngay trong khi trạm Rover di chuyển.
r-t-k
Độ chính xác khi dùng kỹ thuật định vị DGPS RTK

Trị đo pha sóng tải DGPS RTK có khả năng cung cấp độ chính xác dưới dm (~cm) cho trạm Rover trên tàu khảo sát ở cả hai thành phần mặt bằng và độ cao. Kỹ thuật này có thể cung cấp cao độ của tàu khảo sát ngay thời gian thực.
principle-of-single-rtk
Nguyên lý của phép định vị RTK đơn giản

TRẠM THAM KHẢO TRÊN BỜ

Trạm tham khảo trên bờ cần phải được định vị trên một mốc đã biết tọa độ và cao độ. Tuy nhiên, máy thu tại trạm tham khảo phải có khả năng thu nhận tín hiệu ở cả trị đo pha và trị đo giả cự ly của vệ tinh GPS. Trạm tham khảo sẽ tập hợp trị đo pha, trên cả 2 tần số L1/L2 dùng kỹ thuật tương quan chéo. Bộ xử lý tại trạm tham khảo sẽ tính toán khoảng cách giả và số hiệu chỉnh pha sóng tải, và định dạng dữ liệu theo chuẩn phù hợp với việc truyền tải dữ liệu. Thông thường, các số hiệu chỉnh sẽ được định dạng theo chuẩn RTCM SC-104 v.2.1 để truyền đến trạm Rover ở trên tàu.

THIẾT BỊ TRUYỀN THÔNG

Hệ thống định vị RTK cần phải có thiết bị truyền tín hiệu với tốc độ nhỏ nhất là 4800. Sở dĩ phải cần có tốc độ cao như vậy để khử nhiều hệ thống phát tín hiệu tần số thấp, và giới hạn tầm phủ của các hệ thống phát tín hiệu tần số cao. Thông thường, hệ thống truyền thông UHF và VHF sẽ được dùng cho việc truyền tín hiệu trong kỹ thuật RTK.

THIẾT BỊ NGƯỜI DÙNG

Một máy vi tính để thu nhận và xử lý dữ liệu đo sâu. Hai thiết bị có cài sẵn phần mềm tích hợp để điều khiển máy thu GPS ở trạm base và trạm rover (thông thường ở hệ thống RTK của Topcon dùng thiết bị FC-2000, FC-200, hay FC-1000,… để điều khiển).
fc-200 fc-100
Thiết bị điều khiển tích hợp sẵn phần mềm TopSURV của Topcon

Một thiết bị truyền thông để chuyển đổi số hiệu chỉnh tới trạm Rover trên tàu khảo sát.
pdl-1 pdl-2
Thiết bị truyền thông Radio Link Pacific Crest

topcon
Thiết bị GPS 2 tần số của hãng Topcon


Thực tế, có 3 điều quan trọng cần lưu ý trong kỹ thuật đo này :
+ Cả 2 trạm base và rover phải quan trắc cùng số vệ tinh chung.
+ Trạm base phải gửi số hiệu chỉnh về vị trí và trị đo vệ tinh của nó tới trạm rover.
+ Trạm rover kết hợp các thông số được gửi từ trạm base với trị đo của chính nó để tính ra tọa độ và cao độ của trạm Rover.

Ngoài ra, do đặc tính độc đáo là cho kết quả tọa độ & độ cao ngay thời gian thực mà không cần phải qua một quá trình hậu xử lý nên nó còn được ứng dụng trong đo địa hình trên bờ.
nguyen-ly-do-tren-tau
Kỹ thuật xác định độ cao trên tàu khảo sát
Kỹ thuật RTK cho phép di chuyển máy thu ở trạm Rover trên tàu sau khi trị nhập nhằng (Integer Ambiguity - N) giữa vệ tinh và máy thu được giải thành công. Tuy nhiên, với các hệ thống GPS hiện đại ngày nay (đặc biệt là máy thu 2 tần số), việc giải đa trị thường xảy ra rất nhanh (khoảng vài giây), nên thông thường sau khi cài đặt các thiết bị, và phát tín hiệu thì hầu như lập tức ta có được nghiệm fixed ở trạm Rover. Vì vậy, cao độ an ten luôn luôn có được ngay thời gian thực. Khi đó, ảnh hưởng khi triều lên/ xuống, hay do sóng ảnh hưởng đến cao độ an ten bị thay đổi thì với kỹ thuật RTK đã được khắc phục triệt để.
nguyen-ly-rtk
Nguyên lý kỹ thuật đo RTK

Thực tế sử dụng kỹ thuật RTK cho nhiều dự án, chúng tôi nhận thấy, với kỹ thuật đo RTK OTK (On-the-fly) tiêu chuẩn với cự ly khoảng 15 km, có thế đạt được trong sai số 1-3 cm thành phần X, Y và 2-5 cm thành phần Z (độ cao).

Hiện nay, để phục vụ cho các dự án đo sâu xa bờ, Địa Hải đã trang bị thêm thiết bị REPEATER TRL-35 Radio.
repeater trl-35
Thiết bị tăng công suất tín hiệu RTK (Repeater TRL-35) của hãng Topcon

Đây là một thiết bị dùng để tăng công suất phát của tín hiệu RTK mà vẫn duy trì độ chính xác khi trạm Rover cách xa trạm Base với khoảng cách lớn (>35 km).

Qua dự án Tổ hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn (đo tuyến đường ống pipeline cách bờ > 40 km), chúng tôi nhận thấy, thiết bị hoàn toàn đạt được độ chính xác 5cm thành phần X, Y và 10cm thành phần Z (độ cao).

Đây là một kết quả tuyệt vời về độ chính xác định vị cả về thành phần mặt bằng & độ cao mà ĐỊA HẢI đã thực hiện được trong thời gian qua.

Như vậy, với kỹ thuật hiện nay có được, ĐỊA HẢI hoàn toàn có thể thực hiện đo sâu đạt độ chính xác cao trong điều kiện sóng gió (sử dụng kết hợp thiết bị đo độ rung lắc của tàu khảo sát Motion Sensor) và cách xa bờ đến hơn 40 km (sử dụng kết hợp thiết bị khuếch đại công suất phát tín hiệu RTK TRL-35) mà hầu như không có công ty đo đạc nào trong nước hiện nay có thể thực hiện được.

Tuy nhiên, hiện nay trong thực tế sản xuất, nhiều đơn vị, nếu chưa trang bị được những trang thiết bị hiện đại như trên, vẫn có thể kết hợp một số phương pháp dưới đây, nhưng đạt độ chính xác thấp hơn:

PHƯƠNG PHÁP ĐO SÂU THỦ CÔNG

Đây là phương pháp đo sâu rất đơn giản và xuất hiện từ rất lâu. Thiết bị và cách sử dụng rất đơn giản có thể phân làm hai loại sau:
- Dây dọi (Lead line): Làm bằng dây không co giãn, trên đó khắc vạch chia đơn vị đo chiều dài và một đầu có buộc vật nặng.
- Sào đo sâu (Sounding pole): Là những sào gỗ hoặc nhôm trên đó có khắc vạch chia đơn vị đo chiều dài, một đầu có tay cầm.
do-sau-truyen-thong-2
Đo sâu truyền thống dùng mia

Phương pháp đo sâu thủ công được áp dụng trong những tình huống mà khu đo không thể thực hiện bằng phương pháp đo sâu hồi âm hoặc nếu dùng phương pháp đo sâu hồi âm thì sẽ cho kết quả xấu. Phương pháp này đặc biệt thích hợp khi dưới mặt nước khảo sát là đá hay bê tông, trên mái dốc của các con đê, cập mạn tàu khảo sát (gần bờ). Vì trong những trường hợp kể trên phương pháp đo sâu hồi âm có thể cho kết quả không chính xác. Phương pháp đo sâu thủ công được dùng kết hợp với phương pháp đo sâu hồi âm như là một cách thức kiểm nghiệm máy hay là một phương pháp hỗ trợ tích cực.
do-sau-truyen-thong-1
Nguyên lý xác định độ sâu đáy sông bằng sào

PHƯƠNG PHÁP GIAO HỘI GÓC THUẬN

Phương pháp xác định vị trí điểm áp dụng cho khu vực gần bờ mà trên đó đã có lưới khống chế dày đặc hoặc các điểm định hướng vị trí của tàu hay mục tiêu được xác định bằng 3 máy kinh vĩ đặt trên ba điểm đã biết tọa độ nằm trên đất liền. Do tính biến động của môi trường biển nên công tác xác định cần phải thực hiện một cách đồng bộ nhờ cờ hiệu và bộ đàm. Phương pháp chỉ tác dụng trong phạm vi cách bờ từ 20-25km với độ chính xác đạt từ 5-15m.
giao-hoi-goc-thuan
Nguyên lý định vị theo phương pháp giao hội thuận

Đặt 3 máy kinh vĩ tại các điểm I, II, III để tiến hành định vị các điểm ngoài thực địa:
- Máy tại điểm I ngắm hướng chuẩn I-II tia ngắm I2
- Máy tại điểm II ngắm hướng chuẩn II-I tia ngắm II2
- Máy tại điểm III ngắm hướng chuẩn III-I tia ngắm III2
Theo hiệu lệnh của người phất cờ đứng trên tàu người đứng máy tại các điểm I, II, III đồng thời đọc các góc a, b, c . Khi đó người phụ trách máy đo sâu trên tàu tiến hành đánh dấu lên băng đo sâu.

Trog phương pháp này, sai số trung phương vị trí điểm P được xác định theo công thức:
ct_giaohoigocthuan

PHƯƠNG PHÁP GIAO HỘI GÓC NGHỊCH

Để tiến hành ít nhất trên hai hướng, giữa các điểm định hướng hay điểm khoảng cách nằm trên bờ, thiết bị sử dụng là máy sekstan, thường được xác định đồng thời với hai người quan sát. Phương pháp này chỉ thực hiện ở phạm vi cách bờ từ 20-25km và độ chính xác đạt được từ 10-15m.
Để tiến hành xác định điểm 2 (hình trên) đặt máy sextant tại điểm 2 tiến hành ngắm hướng và đọc các góc

giao-hoi-goc-nghich
sextant
Thông thường mỗi đường trắc ngang xác định bằng 3 điểm: điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối. Trong trường hợp đường đo quá dài số lượng điểm có thể nhiều hơn
Trong quá trình đo máy đo sâu liên tục hoạt động để xác định độ sâu đáy sông, biển
Trong phương pháp này, độ chính xác phụ thuộc vào các góc kẹp . Giá trị này càng lớn thì mô hình càng chính xác. Người ta cố gắng thiết kế sao cho các góc kẹp lớn hơn 300.

PHƯƠNG PHÁP TỌA ĐỘ CỰC
Dùng máy toàn đạc điện tử đặt tại điểm tham chiếu trên bờ. Điểm P được định vị bằng góc nối và cự ly S đo được. Như vậy tại mỗi thời điểm, khi người đứng tại điểm P ra hiệu thì máy ngắm đúng vào P và fix một tín hiệu, đồng thời người tại P cũng ghi nhận độ sâu lúc đó.
toa do cuc

Trong phương pháp này, độ chính xác điểm P phụ thuộc vào sai số góc đo góc và sai số đo cạnh S.
PHƯƠNG PHÁP THIÊN VĂN & PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH VỊ

Khi đo vẽ bảo đảm địa hình tỷ lệ như ở vùng gần bờ. Để xác định vị trí vị trí của tàu có thể sử dụng phương pháp tìm phương vị của những điểm trên bờ bằng la bàn con quay đặt trên tàu. Ngoài ra khi tiến hành công tác ngoài khơi còn sử dụng phương pháp thiên văn và phương pháp tính toán đường đi để xác định vị trí của tàu. Phương pháp tính toán dựa trên cơ sở góc và vận tốc của tàu.
  • Ưu điểm: dùng được ngoài khơi
  • Nhươc điểm: độ chính xác thấp 4-5km với khoảng hai giờ đo
Ngoài ra trong phương pháp quang học còn sử dụng các máy đo dài laser và thiết bị định vị để đo lường khoảng cách trong môi trường nước. Định vị tại mặt nước, nghiên cứu địa hình đáy biển cũng nhờ tính chất hoá lý của nước và tính chất khác.

KỸ THUẬT ĐO SÂU KẾT HỢP QUAN TRẮC MỰC NƯỚC
Quan trắc mực nước là xác định độ cao của mực nước kết hợp với kết quả đo sâu ta tính được độ sâu của đáy.
do-sau-hau-xu-ly-1
Kỹ thuật đo sâu hậu xử lý
Sơ đồ dưới đây mô tả nguyên tắc xác định độ cao đáy sông (HB) bằng đo GPS động.
Trong đó:
· hA là chiều cao anten của trạm cơ sở so với mốc, được đo bằng thước với độ chính xác khoảng 5mm.
· hB: Độ cao anten của trạm động (Rover) so với mặt Ellipsoid tham khảo.
· f: là chiều cao anten của trạm động so với mặt đáy đầu sensor máy hồi âm tại vị trí của thuyền, được đo bằng thước với độ chính xác cm.
· D: là độ sâu của đáy, đo được bằng máy đo sâu hồi âm.
· HA: là độ cao của mốc so với mặt ellipsoid tham khảo (giả sử không sai số).
do-sau-hau-xu-ly-2
Nguyên lý xác định độ sâu trong kỹ thuật đo sâu hậu xử lý
· HB: là độ cao của đáy sông, được tính theo công thức:
HB = HC – D

Giả thiết trên chỉ đúng ở vùng nước yên tĩnh không có tác động của sóng, gió, dòng chảy….Trong thực tế nhiều nguyên nhân có thể gây ra sự chênh lệch mực nước giữa trạm đo gần bờ và vị trí đo sâu như: ảnh hưởng của đoạn sông cong, đoạn sông co hẹp hay mở rộng, tác động của gió sóng thủy triều….Những ảnh hưởng này làm cho độ cao mực nước tại thuyền và tại bờ có khi chênh nhau đến m.
multibeam_3
Mô phỏng các phương pháp đo sâu từ trước đến nay
Theo Địa Hải

Những nhầm lẫn to về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu toàn cầu là một trong những chủ đề mà không ít người đề cập và bàn luận. Tuy nhiên, trong số vô vàn những quan niệm, ý kiến, cũng có đúng, có sai, có quan niệm là sự thật, cũng có quan niệm là sự nhầm lẫn tai hại.
Hãy xem những lý giải của bạn về biến đổi khí hậu toàn cầu là đúng hay sai nhé.
Nhầm lẫn: Sự sống có thể thích nghi với tất cả những thay đổi. Văn minh nhân loại tồn tại cho đến ngày nay cũng đã trải qua sự khô hạn và thay đổi nhiệt độ không khí trong quá khứ.
Sự thật: Con người có thể trải qua những thay đổi thất thường như khô hạn, thời tiết quá nóng hay quá lạnh. Tuy nhiên, đừng quên rằng đã từng có không ít những loài động vật cho đến những xã hội đã bị diệt vong vì gặp phải điều kiện khí hậu quá khắc nghiệt. Hẳn bạn vẫn còn nhớ tới sự diệt vong của loài voi ma mút và khủng long? Nếu như chúng ta không hạn chế lượng khí nhà kính thải vào không khí mỗi năm, Trái đất sẽ phải đối mặt với một cuộc biến đổi to lớn trong 10 nghìn năm trở lại đây.
Nhầm lẫn: Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến công nhân và ngành công nghiệp của các nền kinh tế phát triển.
Sự thật: Nếu như chúng ta có một nền thương mại ít khí thải thì chúng ta có thể thúc đẩy một nền kính tế ít các-bon mới. Những công ty đã giảm thiểu lượng khí nhà kính thải ra môi trường đã phát hiện ra rằng, giảm thiểu ô nhiễm có thể tiết kiệm được rất nhiều tiền. So với những phương pháp quản lý khác, việc sách hoạch một nền mậu dịch hoàn thiện còn có thể giảm thiểu chi phí quản lý. Ngoài ra, những hạn mức mang tính cưỡng chế về lượng khí thải còn có thể kích thích khoa học công nghệ phát triển từ đó, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và của cải hơn.
Nhầm lẫn: Biến đổi khí hậu toàn cầu và sự gia tăng đột biết của khí CO2 thực tế là có lợi. Nó có thể giảm thiểu những trường hợp tử vong do quá lạnh đồng thời kích thích sinh vật phát triển.
Sự thật: Những ảnh hưởng có lợi của biến đổi khí hậu hoàn toàn quá ít so với những tai họa mà nó có thể đem đến cho con người. Mặc dù trong một số điều kiện nhất định, khí CO2 có thể trở thành một loại phân bón cho động vật. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho biết, sau một vài năm khi thực vật đã thích ứng với loại phân bón này thì tác dụng của chúng sẽ giảm đi rất nhiều. Đó là chưa nói đến việc lượng khí CO2 tăng nhanh khiến mực nước biển dân cao, nuốt chửng rất nhiều khu vực ven biển, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân, sinh vật biển, nghề cá,…
Nhầm lẫn: Lẽ nào trước đây, Bắc Cực chưa bao giờ ấm lên? Biến đổi khí hậu toàn cầu chỉ là một bộ phận trong vòng tuần hoàn của tự nhiên.
Sự thật: Những biến đổi mà Trái đất của chúng ta đang trải qua hoàn toàn không phải là một hiện tượng tự nhiên. Biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay là do con người tạo ra. Trước đây, Bắc Cực từng nóng lên, nhưng khi đó, con người vẫn chưa biết dùng các loại nhiên liệu hóa thạch, cũng chưa chặt phá rừng một cách khủng khiếp như ngày nay. Hiện tại, lượng khí CO2mà con người thải vào khí quyển cao gấp hàng trăm lần so với quá khứ. Lượng khí CO2 tự nhiên thải ra môi trường thường dao động từ 180-300 ppm, tuy nhiên, hiện nay hàm lượng khí CO2 đã ở vào mức 380 ppm.

Nhầm lẫn: Những mùa đông lạnh giá và những mùa hè không hề nóng nực trong một vài năm trở lại đây khiến tôi cảm thấy Trái đất không hề ấm lên.
Sự thật: Ở một số khu vực trên thế giới quả thực có xuất hiện thời tiết giá lạnh bất thường vào mùa đông, tuy nhiên, về tổng thể, Trái đất đang ấm lên từng ngày. Những mùa đông lạnh bất thường chỉ chứng tỏ rằng, khí hậu đang trở nên cực đoan hơn chứ không phải là không ấm lên.
Nhầm lẫn: Nếu như biến đổi khí hậu toàn cầu thực sự tồn tại thì tại sao có một số sông băng và tảng băng vẫn không ngừng mở rộng chứ không phải là nhỏ lại.
Sự thật: Ở rất nhiều khu vực trên thế giới, các sông băng đang bị thu hẹp đi một cách rất rõ. Những số liệu khoa học mới nhất cho thấy, diện tích băng bao phủ đảo Greenland đang bị thu hẹp một cách mau chóng. Ở phía Na Uy, Iceland và New Zealand, một số sông băng trong một vài chục năm trở lại đây diện tích đang không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, đây chỉ là những hiện tượng mang tính cục bộ do mưa bão và tuyết rơi tạo thành chứ không phải là do nhiệt độ Trái đất lạnh đi.
Từ năm 1961 đến 1997, diện tích sông băng trên toàn thế giới đã giảm đi 1432 km3. Theo số liệu của Trung tâm số liệu băng tuyết quốc gia của Mỹ thì từ năm 1976 đến 2006, diện tích băng trên đảo Greenland vào mùa hè giảm đi hơn 30%. Từ năm 1950 đến nay, nhiệt độ trung bình ở bán đảo Nam Cực cũng tăng lên 2,5 độ C.
Nhầm lẫn: Hiện tại đến dự báo thời tiết trước vài ngày cũng khó, chúng ta làm sao có thể dự đoán trước sự thay đổi của khí hậu hàng chục hàng trăm năm sau?
Sự thật: Dự đoán về sự biến đổi khí hậu hoàn toàn khác với dự báo thời tiết. Dự báo thời tiết có chính xác hay không tùy thuộc vào việc mô tả trạng thái của tầng khí quyển của Trái đất ở một thời điể nhất định. Trong khi đó, dự đoán khí hậu lại dựa vào những số liệu có thể kéo dài trong nhiều tháng, nhiều năm, thậm chí nhiều thế kỷ. Chẳng hạn, chúng ta không thể biết chính xác một ngày nào đó của tháng 12 ở New England trời có lạnh xuống dưới 0 độ C hay không, tuy nhiên nếu dựa trên những theo dõi khí hậu của khu vực này, chúng ta có thể biết rằng tháng 12 ở New England có nền nhiệt rất thấp.
Nhầm lẫn: Lỗ thủng tầng ozon đang nhỏ lại, sự ấm lên toàn cầu sẽ không còn là vấn đề gì to tát nữa.
Sự thật: Sự ấm lên toàn cầu và lỗ thủng tầng ozon là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Tầng ozon tồn tại ở tầng bình lưu (cách mặt đất từ 9 đến 31 dặm Anh), bao trùm toàn bộ Trái đất, bảo vệ Trái đất không bị ảnh hưởng bởi các tia tử ngoại. Lỗ thủng tầng ozon xuất hiện là do lượng ozon ở tầng bình lưu bị giảm đi. Trong khi đó, khí CO2 và các loại khí nhà kính khác do hoạt động của con người thải ra không ngừng tích tụ trong tầng khí quyển chính là nguyên nhân khiến cho nhiệt độ trung bình của Trái đất tăng lên.

Nguyên nhân khiến sóng thần xuất hiện sau động đất

Địa chấn dưới đáy đại dương chỉ có thể tạo nên sóng thần trong một số điều kiện nhất định.

Những chiếc tàu lật vì sóng thần tại một cảng ở thành phố Hachinohe, quận Aomori hôm 11/3.
Ảnh: AFP.
Sóng thần ập tới Nhật Bản sau khi trận động đất mạnh nhất trong vòng 140 năm qua xảy ra tại đảo quốc này. Ngay sau khi địa chấn xảy ra, giới chức Nhật Bản đã ban bố cảnh báo sóng thần.
Livescience cho hay, sóng thần có thể hình thành khi các mảng địa tầng dưới đáy biển va chạm vào nhau vào gây nên động đất.
Nếu chấn mạnh xảy ra dưới đáy đại dương, một hoặc nhiều mảng địa tầng có thể được nâng lên hoặc sụt xuống khiến nước ở phía trên trồi lên hoặc sụt xuống theo. Sóng lớn hình thành ngay sau đó trong cả hai trường hợp. Như vậy, khi một hoặc nhiều khu vực dưới đáy đại dương nâng lên hoặc hạ xuống mạnh, sóng thần có thể hình thành.
Vì nhiều lý do mà người ta không thể dự đoán được sự xuất hiện của sóng thần sau những trận động đất ngoài đại dương. Thông thường, nếu động đất xảy ra, các nhà khoa học không thể biết ngay tác động của nó đối với đáy đại dương, mà phải chờ vài giờ sau đó. Ngoài ra con người không thể phát hiện sóng thần nếu chúng ta ở giữa đại dương, bởi chúng chỉ thể hiện sức mạnh khi tới gần bờ.
Không phải mọi cơn địa chấn dưới đáy biển đều gây nên sóng thần. Giới chuyên gia nhận định, sóng thần chỉ xảy ra sau động đất nhờ sự kết hợp của ba yếu tố sau: cường độ địa chấn, hướng dịch chuyển của mảng địa tầng và địa hình đáy biển. Khả năng hình thành của sóng thần sẽ rất thấp nếu sự va chạm giữa các mảng địa tầng xảy ra rất sâu so với đáy đại dương, mảng địa tầng chỉ dịch chuyển nhẹ theo phương thẳng đứng, mảng địa tầng dịch chuyển theo phương ngang.
Đáy biển chuyển động càng mạnh theo phương thẳng đứng thì độ cao của sóng thần càng tăng. Sức mạnh của sóng thần sẽ tăng tới mức khủng khiếp nếu tâm chấn của động đất nằm dưới đáy đại dương và mảng địa tầng dịch chuyển mạnh theo phương thẳng đứng. Trận sóng thần năm 2004 trên Ấn Độ Dương và năm 1964 trên Đại Tây Dương là những đợt sóng có khả năng vượt qua cả đại dương. Khi lan truyền trên mặt đại dương, sóng thần thường đạt vận tốc gần bằng máy bay phản lực, nghĩa là từ 800 tới 1.000 km/h. Nhưng khi tới gần đất liền tốc độ của sóng thần giảm dần.
Cục Địa chất Mỹ khẳng định, trừ những trận sóng thần lớn nhất, chẳng hạn như sóng thần trên Ấn Độ Dương vào năm 2004, phần lớn sóng thần không mang đến những đợt sóng khổng lồ. Thay vào đó chúng ập vào đất liền dưới dạng những đợt thủy triều cực mạnh và nhanh. Khi lan tỏa trên bề mặt đại dương, độ cao của chúng chỉ khoảng vài cm. Nhưng lúc tới gần bờ, lực dưới đáy biển có thể biến chúng thành những con sóng có độ cao vào mét.
Cả Google và NASA đang phát hành các vệ tinh thu tín hiệu hình ảnh miêu tả sự tàn phá của trận động đất và gây ra sóng thần tuần trước tại Nhật Bản.

Google đã hợp tác với GeoEye, một vệ tinh hình ảnh của công ty để cung cấp hình ảnh của khu vực bị ảnh hưởng có sẵn cho mọi người xem trong Google Earth hay Google Maps.


Trước và sau khi diễn ra động đất gây sóng thần tại Nhật Bản. (Ảnh: Google)

Ryan Falor, một thành viên đội phản ứng khủng hoảng của Google, đã lưu ý trong một bài blog cuối tuần qua rằng những hình ảnh đang được cung cấp sẽ hỗ trợ các tổ chức trong nỗ lực cứu hộ của mình.

Falor cho biết: “Chúng tôi hy vọng các hình ảnh vệ tinh chụp được luôn mới để cung cấp một giá trị cho họ cũng như những người khác các hình ảnh minh họa cho mức độ thiệt hại rõ nhất”.

Trong khi đó NASA cho biết, các nhà khoa học đã sử dụng một góc độ hình ảnh lớn của vệ tinh SpectroRadiometer trên tàu vũ trụ Terra để hiển thị hình ảnh trước và sau khi bị tàn phá bởi sóng thần. Các hình ảnh từ NASA cho thấy rằng lũ lụt do sóng thần kéo dài trên đất liền hơn 2,5 dặm từ bờ biển phía đông. Những bãi cát trắng có thể nhìn thấy trong ảnh chụp là hình ảnh trước khi sóng thần đổ vào nay đã bị bao phủ toàn bằng nước.

Trận động đất với cường độ 8,9 độ richter (sau đó được đính chính lại là 9 độ richter) tại Nhật Bản hôm thứ Sáu đã kéo theo sóng thần và tình trạng khẩn cấp tại các lò phản ứng hạt nhân đã khiến khoảng hơn 1.900 người chết, mặc dù con số này còn đang tiếp tục tăng lên đáng kể. Các quan chức Nhật báo cáo rằng họ đã tìm thấy thêm khoảng 2.000 xác chết dọc theo bờ biển Miyagi Prefecture vốn bị ảnh hưởng nặng nhất bởi sóng thần. Và theo tờWashingtonPost thì tại một mình thị trấn Minamisanriku, hơn 1 nửa dân số ở đó (17.000 người) được báo cáo là đang mất tích.
Theo XHTT

Cuộc đua hệ thống định vị toàn cầu đã mở màn

5 giờ GMT sáng ngày 28-12-2005, Cơ quan Không gian châu Âu (ESA) đã phóng vệ tinh GIOVE-A lên quỹ đạo địa tĩnh, bắt đầu bước thử nghiệm cho chương trình Hệ thống định vị toàn cầu Galileo trị giá 4 tỉ USD.
3g
Vệ tinh GIOVE-A nặng 600 kg, sẽ hoạt động ở độ cao 23.222 km. Nhiệm vụ đầu tiên của vệ tinh GIOVE-A là bảo đảm việc sử dụng tần số sóng vô tuyến được Liên đoàn Viễn thông Quốc tế (ITU) phân bổ cho hệ thống Galileo, đồng thời thử nghiệm hiệu quả hoạt động của 2 chiếc đồng hồ nguyên tử (cốt lõi sống còn của các hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu) cùng với các thông số kỹ thuật khác phục vụ cho việc triển khai các vệ tinh trong chương trình Galileo sẽ bắt đầu được phóng lên trong năm 2006. Theo ESA, hệ thống Galileo có tổng cộng 30 vệ tinh, dự kiến bắt đầu hoạt động vào năm 2008 và hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống vào năm 2010.

Việc châu Âu triển khai hệ thống Galileo đã làm sôi động thêm cho cuộc đua xây dựng hệ thống vệ tinh định vị toàn cầu giữa 3 thế lực không gian của thế giới. Ngoài hệ thống GPS đã hoạt động nhiều năm của Mỹ, Nga hiện cũng đang xây dựng hệ thống riêng mang tên GLONASS (Global Navigation Satellite System). GLONASS hiện đang trong giai đoạn đầu hoạt động với 14 vệ tinh. Ngày 25-12-2005, Roskosmos (Cơ quan Không gian Nga) đã phóng bổ xung 3 vệ tinh trong hệ thống GLONASS của mình, và việc phóng thêm 3 vệ tinh mới nằm trong kế hoạch triển khai cho hoàn chỉnh mạng lưới 24 vệ tinh được triển khai thành 3 chuỗi bao quanh trái đất. Toàn hệ thống sẽ hoạt động vào năm 2010

Khi đi vào hoạt động, Galileo sẽ là đối thủ cạnh tranh đáng gờm đối với hệ thống GPS (Global Positioning System) của Mỹ. Xét về mặt kỹ thuật, những hình ảnh, thời gian và tín hiệu định vị của Galileo có độ chính xác hơn hẳn GPS của Mỹ. Galileo sẽ xác định vị trí bằng công nghệ real-time, tức là dựa vào thời gian truyền tín hiệu để xác định vị trí cần tìm. Với tốc độ truyền tín hiệu cực nhanh, gần như tức thời, Galileo được trông đợi có thể xác định một vật thể trên mặt đất với sai số trong khoảng 1 mét.

Vì là hệ thống định vị đầu tiên phục vụ cho mục đích dân sự, Galileo còn hứa hẹn rất nhiều lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật. Cụ thể, nhờ độ chính xác cao của Galileo, hệ thống quản lý giao thông tại nhiều nước có thể được tự động hóa hoàn toàn, giúp các cơ quan chức trách theo dõi chặt chẽ và chính xác mọi hoạt động lưu thông trên các tuyến xa lộ, giám sát hiệu quả các điểm kẹt xe, tai nạn, Galileo có khả năng kết nối với các chip đặt biệt gắn bên trong điện thọai di động, biến chiếc máy điện thoại nhỏ bé thành thiết bị định vị vô cùng tiện lợi, nhờ đó rất tiện cho việc giám sát, theo dõi các đối tượng tội phạm, khủng bố sử dụng điên thoại di động. Còn nhiều nữa các tiện ích đa dạng của Galileo. Nó giúp du khách trong tương lai xác định được những nhà hàng, khách sạn, trạm bưu điện, máy rút tiền ATM ở nơi gần nhất. Nó giúp các nhà khoa học thực hiện các chuyến khảo sát thực địa nhanh và hiệu quả. Galileo còn mang ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị: nó giúp châu Âu và cả nước đối tác giảm lệ thuộc vào hệ thống định vị toàn cầu của Mỹ, tăng cường tính độc lập trên nhiều lĩnh vực chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, và các hoạt động do thám, phòng chống tội phạm.

Với những lợi ích như vậy, chương trình Galileo của châu Âu lẽ ra đã được triển khai sớm hơn nếu không gặp một số trục trặc, đầu tiên là tranh cãi trong nội bộ các nước thành viên EU xung quanh vấn đề đóng góp tài chính cho chương trình. Đó là chưa kể những rắc rối xung quanh vấn đề thủ tục hành chính, do đây là chương trình liên kết mở rộng, bao gồm cả các đối tác Trung Quốc, Ấn độ, Maroc, Arập Xêút và Ukraina, mỗi nước có hệ thống thủ tục hành chính khác nhau. Galileo cũng từng là đề tài tranh cãi gay gắt giữa Mỹ và châu Âu trong thời gian qua, khiến cho chương trình có lúc tưởng đã không thể triển khai được. Phía Mỹ, cụ thể là Lầu Năm Góc lo ngại rằng, sóng tín hiệu của Galileo có thể gây nhiễu hệ thống GPS quan sự thế hệ mới của mình, từ đó de dọa đến an ninh quốc gia Mỹ trong trường hợp có chiến tranh. Hơn nữa, Mỹ cũng phản đối việc EU cho một số nước đối tác kể trên tham gia chương trình vì lo ngại hệ thống Galileo sẽ tạo điều kiện cho các nước “thù địch” với Mỹ chia sẻ thông tin định vị toàn cầu, đặc biệt là Trung Quốc. Washington đã dọa dùng kỹ thuật “chèn sóng” để phá Galileo nếu châu Âu không gạt Trung Quốc và một số nước khác ra. Tuy nhiên đây là phương án không hiệu quả, và có khả năng chính GPS của Mỹ cũng bị thiệt hại. Cuối cùng, 2 bên đã đạt được một số thỏa hiệp, trong đó , châu Âu đồng ý chuyển sang sử dụng tần số khác, an toàn hơn cho hệ thống GPS của Mỹ, đồng thời một thỏa thuận hợp tác giữa 2 hệ thống trong trường hợp khẩn cấp cũng đã được ký kết.

Hiện tại, ngoài các ứng dụng hạn chế trong lĩnh vực quân sự và tình báo của Mỹ, chỉ có một số ít đối tượng dân sự sử dụng hệ thống GPS. Hướng sắp tới có thể sẽ là việc hợp nhất 3 hệ thống định vị toàn cầu do Nga đề xuất nhằm phục vụ hoàn hảo hơn cho nhu cầu khổng lồ của thế giới. Một khi ý tưởng hợp tác này được thực hiện, cư dân ở mọi ngóc ngách địa cầu sẽ có cơ may chuyển mạch giữa các hệ thống sử dụng.
Nguồn P-GIS Home

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482