DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Phần mềm ESRI ArcPad 7.1.1 đã được phát hành




ArcPad 7.1.1 và ArcPad Application Builder 7.1.1, phiên bản mới nhất của ESRI Mobile GIS cho thu thập dữ liệu và thực hiện bản đồ trên thực địa đã được phát hành. Những cải tiến của ArcPad 7.1.1 đã tăng cường tốc độ và các tính năng dễ sử dụng hơn.
Phần mềm ArcPad được thiết kế cho nhiều lĩnh vực và tổ chức khác nhau muốn mở rộng những lợi ích của GIS từ văn phòng ra thực địa. Cùng với ArcPad Application Builder, framework cho phát triển ArcPad, phiên bản 7.1.1 tăng cường quá trình thu thập dữ liệu trên thực địa, và cho phép người dùng có thể quyết định nhanh chóng và chính xác.
ArcPad hỗ trợ thực hiện bản đồ, GIS, và GPS tích hợp cho người dùng các thiết bị cầm tay. Phần mềm này có thể được phát triển hoặc được cấu hình riêng cho các dự án thực địa cụ thể bằng cách sử dụng ArcPad Application Builder. Phần mềm ArcPad cũng tích hợp với các phần mềm của ESRI cho máy để bàn một cách chặc chẽ trong biên tập dữ liệu.

"Trong phiên bản mới nhất của ArcPad này, chúng tôi đã quan tâm đến mức cao nhất những ý kiến phản hồi của khách hàng từ phiên bản 7.1 trong sự cố gắng để cải tiến hiệu suất cho người dùng của chúng tôi" Jian Lange, Gíam đốc Sản phẩm ArcPad, nói.

Những điểm nhấn của ArcPad gồm:
- StreetMap Desktop Data Extractor: tiện ích này cho phép người dùng dễ dàng rút trích dữ liệu từ dữ liệu StreetMap Premium của Tele Atlas Bắc Mỹ đã được lần đầu tiên tích hợp ArcPad 7.1. Người dùng có thể lưu dữ liệu đã rút trích sang máy để bàn và chuyển chúng sang các thiết bị cầm tay sử dụng ArcPad cho thực địa.
- Tốc độ và hiệu suất được cải thiện rõ rệt, người dùng dễ dàng nhận thấy điều này, phần bộ nhớ chưa sử dụng sẽ tăng lên rõ rệt khi đang sử dụng.
- Tăng cường hỗ trợ cơ sở dữ liệu quan hệ: các bảng dữ liệu quan hệ được hỗ trợ dựa trên nền cơ sở dữ liệu Microsoft SQL đã được tăng cường trong phiên bản 7.1.1 với những khắc phục các lỗi đã biết và những cải tiến bao gồm hỗ trợ ID trong geodatabase.

- Các đối tượng vệ tinh đã được bổ sung: một thuộc tính mới gọi là Satellites đã được bổ sung vào tính năng GPS, tăng cường hiệu quả và dễ sử dụng hơn. Satellites sẽ trả về một tập hợp các đối tượng vệ tinh, lập trình viên có thể cập nhật các module mở rộng cho GPS để có thể truy cập những đối tượng này.


Bản cập nhật của ArcPad Application Builder 7.1.1 sẽ được kèm trong gói ArcPad mà người dùng không cần phải trả thêm chi phí. Người dùng đã mua ArcPad 7.1 có thể download bản cập nhật này miễn phí từ trang web ArcPad. Những số đăng ký đã sử dụng cho ArcPad 7.1 và ArcPad Application Builder 7.1 cũng có thể sử dụng hợp lệ cho ArcPad 7.1.1 và ArcPad Application Builder 7.1.1 một cách tương ứng. Người dùng ngoài phạm vi Hòa Kỳ nên liên hệ với các nhà phân phối của hảng này để nhận phiên bản cập nhật, xem thêm danh sách này tại http://www.esri.com/distributors.

GIS với công tác quản lý môi trường, đánh giá biến động về môi trường trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Xem hình

Hệ thống thông tin địa lý (GIS - Geographic Information System) đã được công nhận là một hệ thống với nhiều lợi ích không chỉ trong các công tác thu thập đo đạc địa lý mà còn trong các công tác điều tra tài nguyên thiên nhiên, phân tích hiện trạng và dự báo xu hướng diễn biến môi trường. Chính nhờ những khả năng này mà công nghệ hệ thống thông tin địa lý đã được đón nhận và áp dụng rộng rãi trong các cơ quan nghiên cứu cũng như quản lý.
Ở nước ta nói chung cũng như trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng công tác kiểm soát môi trường đã được quan tâm từ lâu nhưng các thông tin thu được còn rời rạc, không đồng bộ, thời gian quan trắc ngắn nên không có khả năng đưa ra các kết luận chính xác, đầy đủ. Vì vậy ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong hệ thống kiểm soát môi trường trên địa bàn tỉnh đúng tiêu chuẩn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường được thực hiện dễ dàng. Năm 2005-2006 Trung tâm Tài nguyên và Môi trường - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc nghiên cứu đề tài “ứng dụng phần mềm tin học, GIS (hệ thống thông tin địa lý) để quản lý môi trường, đánh giá biến động về môi trường trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”. Kết quả của đề tài là đã tạo ra cơ sở dữ liệu cơ bản về hiện trạng môi trường, thường xuyên cảnh báo các nguy cơ ô nhiễm môi trường, từ đó nâng cao ý thức và trách nhiệm cộng đồng trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường, ứng dụng hệ thống thông tin địa lý nhằm thiết lập một hệ thống các chuỗi số liệu đồng bộ làm cơ sở đánh giá hiện trạng môi trường và kiểm soát hiện trạng môi trường trên địa bàn tỉnh, phục vụ xây dựng các chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH theo hướng phát triển bền vững. GIS lưu giữ thông tin về thế giới thực dưới dạng tập hợp các lớp chuyên đề có thể liên kết với nhau nhờ các đặc điểm địa lý. Điều này đơn giản nhưng vô cùng quan trọng và là một công cụ đa năng đã được chứng minh là rất có giá trị trong việc giải quyết nhiều vấn đề thực tế, từ thiết lập tuyến đường phân phối của các chuyến xe, đến lập báo cáo chi tiết cho các ứng dụng quy hoạch, hay mô phỏng sự lưu thông khí quyển, chất lượng môi trường một vùng, quốc gia hay toàn cầu.


Các cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý (HTTTĐL) về môi trường trước mắt được thiết kế phục vụ công tác theo dõi, đánh giá và dự báo môi truờng cho các cấp lãnh thổ là: toàn tỉnh, từng huyện, khu vực. Các căn cứ phân chia nhóm chuyên đề dữ liệu trong cơ sở dữ liệu HTTTĐL về môi trường. Thiết kế các bộ dữ liệu chuyên đề của HTTTĐL về môi trường là xác định rõ mối quan hệ, cấu trúc của các dữ liệu và tổ chức chúng một cách lôgic để có thể đáp ứng được các nhu cầu thông tin của công tác bảo vệ môi trường.


Quá trình xử lý dữ liệu của HTTTĐL bao gồm các bước sau: Thiết kế cơ sở dữ liệu, thu thập dữ liệu, lưu trữ và tìm kiếm dữ liệu, phân tích dữ liệu, hiển thị dữ liệu (hoặc kết xuất dữ liệu ra các thiết bị ngoại vi), cấu trúc và bản chất của dữ liệu HTTTĐL. Cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lí gồm hai phần cơ bản là dữ liệu bản đồ (hay gọi là dữ liệu đồ thị) và dữ liệu thuộc tính (hay gọi là dữ liệu phi đồ thị). Mỗi một loại dữ liệu có đặc trưng riêng và chúng khác nhau về yêu cầu lưu trữ, xử lí và hiển thị.


a/ Dữ liệu bản đồ: Điểm (Point), đường (Line), vùng (Polygon), ô lưới (Grid cell), ký hiệu (Sympol), điểm ảnh (Pixel).


b/ Dữ liệu thuộc tính: Là những mô tả về đặc tính, đặc điểm và các hiện tượng xảy ra tại vị trí địa lí xác định mà chúng khó hoặc không thể biểu thị trên bản đồ được. Cũng như các HTTTĐL khác, hệ thống này có 4 loại dữ liệu thuộc tính: Đặc tính của đối tượng, dữ liệu tham khảo địa lí (mô tả các sự kiện hoặc hiện tượng xảy ra tại một vị trí xác định), chỉ số địa lí (là các chỉ số về tên, địa chỉ, khối, phương hướng định vị), quan hệ không gian giữa các đối tượng.


c/ Mối quan hệ giữa dữ liệu bản đồ và dữ liệu thuộc tính: HTTĐL sử dụng phương pháp chung để liên kết hai loại dữ liệu đó thông qua bộ xác định, lưu trữ đồng thời trong các thành phần đồ thị và phi đồ thị. Các bộ xác định có thể đơn giản là một số duy nhất liên tục, ngẫu nhiên hoặc là các chỉ báo địa lí hay dữ liệu vị trí lưu trữ. Bộ xác định cho một thực thể có thể chứa tọa độ phân bố của nó, số hiệu mảnh bản đồ, mô tả khu vực hoặc là một con trỏ đến vị trí lưu trữ của dữ liệu liên quan.


Kết quả cụ thể của đề tài:


Xây dựng được phần mềm xây dựng bản đồ hiện trạng môi trường. Phần mềm MAES được lập bằng ngôn ngữ lập trình Delphi theo hướng đối tượng mô hình xoắn ốc nên rất dễ cho chúng ta trong việc đánh giá chất lượng môi trường theo từng chỉ tiêu hay chỉ tiêu tổng hợp. MAES được xây dựng theo hướng đối tượng nên có đặc điểm ưu việt: tính kế thừa, tính đóng kín (che dấu thông tin) và tính đa xạ, liên kết được các phần mềm của GIS, trong các phần mềm mô hình hóa môi trường tính toán dự báo nồng độ ô nhiễm theo không gian và thời gian (các mô hình tính toán Berliand, Gauss, Sutton, nguồn đường, mặt, thống kê, số trị…). MAES có thể cài đặt chạy trên Window2000, hoặc WindowXP người sử dụng có thể xuất thông tin dưới dạng bản đồ tùy ý. Kết quả của phần mềm sau khi chạy ta được như sau:


Xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý về môi trường gồm: Thông tin chung về các Nhà máy, chất lượng nước mặt, nước ngầm, đất


Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường, quy trình xây dựng hệ thống thông tin địa lý về môi trường, quy trình thành lập bản đồ hiện trạng môi trường và phần mềm MAES. Kết quả chính của đề tài sẽ là công cụ quản lý hữu ích cho các nhà quản lý về môi trường, là tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác nghiên cứu khoa học cũng như ứng dụng triển khai trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: đánh giá hiện trạng môi trường, đánh giá tác động môi trường, quy hoạch môi trường, xây dựng bản đồ hiện trạng môi trường tại đô thị, khu công nghiệp, các khu du lịch, vùng nông thôn… trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.


Đây chỉ là phần xây dựng nền móng ứng dụng, để kết quả đề tài phát huy tốt được khả năng ứng dụng của nó, tập thể tác giả của đề tài chúng tôi đề xuất các giải pháp như sau:


+ Về khoa học và công nghệ: Cho phép triển khai tiếp tục đề tài để hoàn hiện phần mềm và cơ sở dữ liệu vào năm tiếp theo. Xây dựng các trạm quan trắc môi trường cố định và lưu động nhằm thường xuyên cập nhật các số liệu về hiện trạng môi trường, từ đó có thể đánh giá được thường xuyên hiện trạng môi trường thông qua các bản đồ hiện trạng môi trường thành phần, đồng thời giúp các nhà quản lý có thể theo dõi diễn biến hiện trạng môi trường theo mọi thời gian và địa điểm phục vụ tốt công tác quy hoạch, công tác tuyên truyền;


+ Về cơ chế chính sách: Cần có cơ chế để các đơn vị cung cấp thông tin thường xuyên cho hệ thống bằng cách gửi và cập nhật thông tin thường xuyên như: hỗ trợ các thiết bị cập nhật thông tin;


+ Về đầu tư: Cần đầu tư hệ thống thiết bị đủ mạnh để truyền thông tin hiện trạng môi trường trên địa bàn tỉnh tới các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan thông tin đại chúng, tới mọi người dân thông qua cổng thông tin điện tử của tỉnh. Từ đó tăng cường được công tác quản lý, kiểm soát môi trường tới các đơn vị, nhà máy, xí nghiệp… góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường cho toàn dân.
(Theo Bản tin Tài nguyên & Môi trường)

Ứng dụng GPS trong thu thập số liệu hạ tầng tiện ích công


Điều tra thu thập số liệu liên quan tới hạ tầng các tiện ích công cũng là một trong những lĩnh vực áp dụng nhiều lợi thế của công nghệ GPS và GIS. Từ hệ thống cấp điện, cấp nước và cấp khí gaz cho tới các công ty truyền thông liên lạc, công nghệ không gian địa lý đã làm cho mọi việc trở nên đơn giản hơn rất nhiều, giúp cho những nhân viên có thể quản lý và triển khai nhiệm vụ thực địa của mình nhanh, chính xác và hiệu quả nhất.
Trimble hỗ trợ quá trình thành lập các bản đồ hệ thống tài sản cố định và gửi kết quả lại để đơn giản hoá và hỗ trợ quá trình duy tu bảo dưỡng. Ngày nay, công nghệ GPS và GIS không chỉ đơn giản sử dụng để thành lập bản đồ. Với những hệ thống thiết bị phục vụ cho thu thập và duy trì số liệu của Trimble, các ứng dụng điều tra quản lý hạ tầng tiện ích công có thể khai thác thế mạnh trong các giải pháp liên kết thực địa – văn phòng liên tục để quản lý và khai thác những số liệu không gian có độ chính xác cao.
Có thể chỉ là nhiệm vụ thành lập hay xác định vị trí của hệ thống tài sản cố định đơn giản, hay phức tạp hơn là quá trình tích hợp toàn bộ số liệu không gian vào một cơ sở dữ liệu tập chung nhằm phục vụ cho việc quản lý, thiết kế hệ thống, lập kếy hoạch và triển khai, công nghệ tiên tiến của Trimble luôn là câu trả lời hoàn chỉnh nhất.
Công nghệ GPS và GIS chính là lựa chọn tất yếu cho tương lai để sử dụng trong các ứng dụng quản lý hạ tầng tiện ích công. Mỗi ngày, càng có nhiều các tổ chức nhà nước và các công ty tư nhân sử dụng công nghệ GPS và GIS để quản lý hệ thống tài sản cố định của mình với độ chính xác cao hơn.

Ứng dụng GPS trong thu thập GIS di động

GIS Di động chính là việc sử dụng số liệu địa lý ngay trên thực địa bằng các thiết bị di động. Đây thực sự là bước thay đổi lớn trong việc làm thế nào để cơ sở dữ liệu địa lý được sử dụng và quản lý một cách hiệu quả trong mỗi cơ quan hay tổ chức. GIS Di động là sự kết hợp hài hoà giữa ba hợp phần cơ bản: Hệ thống định vị vệ tinh GPS, máy tính cầm tay loại chắc chắn, và phần mềm GIS. Kết hợp tất cả những công nghệ này sẽ tạo điều kiện cho những người làm việc ngoài thực địa có thể truy cập trực tiếp vào cơ sở dữ liệu của tổ chức đó bất kỳ khi nào và bất kỳ ở đâu khi có nhu cầu khai thác.
Khi những người lính cứu hoả hoặc nhân viên cứu trợ khẩn cấp không thể kiểm soát được những ảnh hưởng từ thảm hoạ thiên nhiên họ sẽ cần đến những thông tin hiện trạng và chính xác để đưa ra chững quyết định quan trọng có liên quan đến mạng sống con người hay những nguồn tài nguyên. Đó chính là lý do mà việc ứng dụng GIS Di động ngày càng trở nên cấp bách; các nhóm làm việc trên thực địa được trang bị công nghệ GIS Di động bây giờ có thể ứng phó khi những điều kiện hiện trường thay đổi và ngay lập tức đưa ra được những quyết định hợp lý, thay đổi chiến thuật quản lý và điều khiển trên hiện trường, thông báo tình trạng cho tất cả các thành viên cũng như các nhóm làm việc khác – tất cả những thông tin và số liệu này được đảm bảo cập nhật tới từng phút.
Với những lợi thế vượt trội của công nghệ GIS Di động, nhân viên tìm kiếm cứu nạn, điều tra viên, các nhóm duy tu bảo dưỡng thiết bị, các đội kiểm tra đảm bảo hoạt động các trang thiết bị hạ tầng đô thị, và rất nhiều các nhóm ngành ứng dụng thực địa khác có khả năng truy cập vào cơ sở dữ liệu trong chế độ thời gian thực để đảm bảo thực thi nhiệm vụ được giao một cách hiệu quả, an toàn và tin cậy nhất, ngay trên thực địa.

ỨNG DỤNG REMOTE SENSING & GIS ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG KHAI THÁC THAN LỘ THIÊN TỚI ĐỊA HÌNH VÀ ĐƯỜNG BỜ BIỂN VÙNG CẨM PHẢ - CỬA ÔNG

Tóm tắt: Hoạt động khai thác than tại vùng Cẩm Phả - Cửa Ông đã tác động rất lớn đến môi trường trong vùng. Có khá nhiều các nghiên cứu về vùng này đã đề cập tới vấn đề trên, nhưng việc ứng dụng hệ thông tin địa lý và viễn thám trong nghiên cứu tác động môi trường liên quan tới khai thác than còn ở mức hạn chế.
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu tác động của khai thác than lộ thiên tới địa hình và đường bờ bằng việc phân tích các tư liệu viễn thám năm 1969, 1993 và 2001. Việc luận giải bằng mắt thường được kết hợp với các phương pháp xử lý số nhằm có được kết quả chính xác nhất. Phương pháp nghiên cứu trình bày trong bài báo có thể áp dụng ở những vùng khai thác than khác ở nước ta.



I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã tác động rất lớn tới môi trường khu vực, trong đó có sự biến đổi địa hình, đặc biệt là từ những cuối những năm 1960 khi hoạt động khai thác được mở rộng [Đặng Văn Bát, 1999, Lưu trữ Đại học MĐC; Ngô Phúc Hưng và nnk, 1990, Lưu trữ Bộ Công nghiệp]. Các bãi thải và diện tích đổ thải ngày càng phát triển, việc bồi lấp sông suối và bãi biển trong vùng diễn ra với tốc độ nhanh. Các nghiên cứu có trước về tác động do khai thác than tới môi trường tại vùng nghiên cứu đã đề cập tới vấn đề nêu trên. Tuy nhiên việc xử lý ảnh viễn thám và phân tích thông tin trên hệ thông tin địa lý (GIS) liên quan tới ảnh hưởng của khai thác than tới địa hình mới chỉ được áp dụng trong khoảng thời gian gần đây và còn hạn chế ở việc phân tích ở từng thời điểm riêng biệt.
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của khai thác than lộ thiên tới biến động địa hình bằng tư liệu viễn thám và GIS trên khía cạnh biến động cao trình của mỏ, diện tích bãi thải và đường bờ biển ở thị trấn Cẩm Phả - Cửa Ông. Việc kết hợp viễn thám và GIS nhằm định lượng các biến động địa hình và đường bờ tại vùng nghiên cứu là một hướng tiếp cận mới nhằm nâng cao khả năng đánh giá tình hình môi trường vùng khai thác than.
II. VÙNG VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Phạm vi và dữ liệu vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu Cẩm Phả - Cửa Ông thuộc bể than Quảng Ninh (Hình 1).
Dữ liệu viễn thám được thể hiện trong bảng 1. Dữ liệu GIS bao gồm các lớp thông tin về địa hình, thủy văn, giao thông, điểm độ cao tỷ lệ 1:25000. Nguồn dữ liệu khác lấy từ Chương trình 364, Văn phòng Chính phủ hoàn thành năm 2000. Dữ liệu thực địa do tác giả thực hiện tháng 4/2003 với 15 điểm khảo sát và 90 ảnh chụp.
Các dữ liệu trên đều được xử lý đưa về hệ tọa độ Gauss Pulkovo 1942 Múi 18 đảm bảo thống nhất về tọa độ, góp phần nâng cao độ chính xác của kết quả.


Bảng 1. Dữ liệu viễn thám sử dụng trong nghiên cứu

Loại tư liệu viễn thám
Tên ảnh / ký hiệu ảnh
Thời gian chụp
Tỷ lệ hoặc độ
phân giải không gian
Ảnh máy bay
B6-12-1969
 12/1969
1 : 25 000
F5-93
 5 /1993
1 : 20 000
Ảnh vệ tinh
Ảnh LandSat 7 (Path 125, Row 45)
16/11/ 2001
30 m (ảnh đa phổ)
15 m (ảnh toàn sắc)


III. CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU
Trong hoạt động khai thác than, các tác động địa chất của con người vào địa hình bao gồm các yếu tố chính là phá hoại cơ học, vận chuyển vật liệu tạo nên các địa hình âm - moong khai thác và địa hình dương -bãi thải. Bãi thải than, vật liệu thải trong quá trình sàng tuyển cung cấp nguồn vật liệu và góp phần gia tăng hiện tượng lắng đọng trầm tích tại các sông suối, bồi lấp kênh mương, gây biến đổi đường bờ [Đặng Văn Bát, 1999, Lưu trữ Đại học MĐC].
Kết quả của các tác động này đều có thể phát hiện được trên tư liệu viễn thám thông qua các dấu hiệu trực tiếp (như hình dạng, tông ảnh, bóng địa vật), các dấu hiệu gián tiếp khác và tính đa thời gian của tư liệu viễn thám.
Thông tin luận giải dữ liệu viễn thám được phân tích bằng hệ thông tin địa lý trên cơ sở hiểu được mối tương quan của các quá trình kể trên với nhau. Đối với nghiên cứu này, việc phân tích có thể được trình bày như sau: biến động địa hình do khai thác than = F (biến động mỏ khai thác lộ thiên, biến động bãi thải, bồi lắng vật liệu thải, biến đổi đường bờ).
Có thể tóm tắt quá trình nghiên cứu nêu trên trong hình 2.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp luận giải ảnh viễn thám
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, ảnh máy bay và ảnh vệ tinh LandSat được xử lý trên phần mềm PCI và Rubber Map. Một cặp ảnh lập thể vùng mỏ Cọc 6, Đèo Nai được sử dụng để lập mô hình số địa hình bằng phần mềm PCI. Ảnh vệ tinh được nắn chỉnh hình học theo dữ liệu vectơ với sai số nhỏ hơn kích thước 2 pixel.



Bảng 2. Vai trò của dấu hiệu ảnh trong luận giải mắt thường tại vùng nghiên cứu

Đối tượng
Mô hình lập thể
Hình dạng
Tông ảnh
Kiến trúc
Hoa văn
Kích thước
Vị trí
Đa
thời gian
Mỏ khai thác lộ thiên
***
***
**
*
*
*
*
**
Bãi thải than
**
***
**
**
*
*
**
**
Các quá trình ngoại sinh hiện đại
**
***
**
***
**
*
**
***
Chú thích vai trò:  * bổ sung; ** thứ yếu; *** chủ yếu


a. Luận giải ảnh bằng mắt thường
Ảnh máy bay sử dụng cho luận giải mắt thường được nắn chỉnh bằng phần mềm Rubber Map. Việc sử dụng phần mềm này tuy không đạt độ chính xác cao như nắn ảnh trực chiếu, nhưng có thể ứng dụng cho luận giải ảnh mắt thường. Kết hợp nhiều loại dấu hiệu trong luận giải là việc cần thiết nhằm nhận dạng các đối tượng khác nhau.
Bản đồ hiện trạng môi trường vùng nghiên cứu các năm 1969, 1993 được thành lập từ sự luận giải ảnh máy bay các năm 1969 và 1993 (Hình 4, 5). Ảnh vệ tinh LandSat năm 2001 được sử dụng để xác định ranh giới bờ mỏ các mỏ Đèo Nai và Cọc Sáu. Khi xây dựng các bản đồ hiện trạng môi trường liên quan tới khai thác than cho mỗi thời kỳ, tác giả xây dựng bản đồ trên quan điểm nguồn gốc hình thái kết hợp với quan điểm địa chất môi trường. Với mục đích đó, để làm nổi bật tác động nhân sinh tới môi trường trong khu vực, thì ngoài các kiểu địa hình  thành tạo do tác động của tự nhiên thì các dạng địa hình đã được cải tạo do bàn tay con người được gộp chung thành địa hình nhân sinh. Các kiểu địa hình được thành tạo hoặc chịu tác động lớn của quá trình khai thác than sẽ được nhấn mạnh.
Để kiểm chứng kết quả và thu thập thông tin thực địa vùng nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa với tổng số 15 điểm kiểm tra. Thông tin của các điểm được chuyển vào cơ sở dữ liệu GIS của vùng nghiên cứu phục vụ luận giải ảnh và phân tích thông tin (Hình 3).




b. Xử lý ảnh số - chiết suất đường bờ năm 2001
Trên nguyên tắc, vệ tinh quang học chụp được các đối tượng trên mặt đất bao gồm đất, nước và thực vật. Sở dĩ ảnh vệ tinh quang học có thể phân biệt được các đối tượng nêu trên là do khả năng phản xạ ánh sáng mặt trời của chúng khác nhau. Nghĩa là, trên các kênh ảnh khác nhau, một đối tượng sẽ có các giá trị số (digital number) khác nhau. Sự khác biệt này là cơ sở để tiến hành luận giải mắt thường và xử lý số với ảnh vệ tinh trong nghiên cứu.
Việc xử lý số được tiến hành trên ảnh vệ tinh LandSat năm 2001. Với mục tiêu chiết suất ranh giới nước và đất, tác giả đã sử dụng phương pháp chiết suất đường bờ từ ảnh LandSat do G. Winasor và S. Budhiman [3] nghiên cứu.
Phương pháp này tiến hành chiết xuất ranh giới đất-nước trên cơ sở thống kê giá trị phản xạ của các đối tượng trên các kênh tỷ lệ 4/2 và 5/2 (kênh 2, 4 và 5 của ảnh LandSat).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, kênh tỷ lệ b4/b2 sẽ cho ranh giới đất và nước ở những vùng bờ có thực vật, nhưng những vùng đất không có thực vật sẽ bị “cho” là biển. Ngược lại kênh tỷ lệ b5/b2 sẽ thể hiện đường bờ tốt ở những vùng không có thực vật.
Để hạn chế sai số, tác giả kết hợp đồng thời cả hai kênh b4/b2 và b5/b2. Qua thống kê ảnh và thực hiện phân loại nhiều lần, tác giả thấy rằng ranh giới nước và đất chỉ khó xác định ở những vùng giao nhau nước-đất (ví dụ cửa sông, vùng có dòng bùn). Do vậy tác giả sử dụng ngưỡng lấy từ thống kê vùng mẫu sa bồi ven biển và áp dụng vào điều kiện sau. Giá trị kênh ảnh kết quả được ghi nhận là “đất liền” nếu giá trị pixel của kênh b4/b2 ≥ 0,39 hoặc của kênh b5/b2 ≥ 0,42. Nếu không thỏa mãn điều kiện này thì pixel kênh ảnh kết quả được ghi nhận là “biển”. Đường bờ thu được từ phương pháp này được so sánh với dữ liệu đường bờ các năm 1969, 1993 từ ảnh máy bay nhằm đánh giá xu thế phát triển của đường bờ.
Hạn chế của phương pháp này là chưa được quy chuẩn với mực thủy triều. Tuy nhiên đặc điểm địa hình phần ven bờ tại vùng nghiên cứu có độ dốc lớn nên mực thủy triều không ảnh hưởng lớn tới sai số của kết quả.


Bảng 3. Thống kê giá trị độ xám của đối tượng trên ảnh LandSat vùng nghiên cứu

                 Tên mẫu
Số pixel được tính toán
(b4/b2)
(b5/b2)
Giá trị
trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị
trung bình
Độ lệch chuẩn
Nước
2422
0,228
0,021
0,201
0,023
Sa bồi ven biển (vùng giao nhau nước - đất)
1086
0,394
0,105
0,419
      0,17
Đất đá (vùng không bị ảnh hưởng của thủy triều)
  825
1,346
0,226
1,238
      0,272
Vùng lấn biển dân sinh
    52
0,648
0,074
0,472
      0,05






2. Phân tích thông tin
Dữ liệu trên GIS về địa hình, đường bờ của các năm 1969 và 1993 được phân tích bằng phương pháp chồng ghép dữ liệu, một phương pháp thông dụng trong GIS. Kết quả thu được từ việc chồng ghép được tiến hành định lượng bằng chức năng thành lập bảng ma trận chéo (crossing table). Trong nghiên cứu này kết quả về số liệu biến động địa hình và đường bờ vùng Cẩm Phả - Cửa Ông giai đoạn 1969 – 1993 được trình bày trong bảng 7.
V. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN TỚI ĐỊA HÌNH VÀ ĐƯỜNG BỜ VÙNG CẨM PHẢ - CỬA ÔNG
Biến đổi địa hình và bãi thải do khai thác than tác động tới môi trường vùng nghiên cứu
Biến dạng bề mặt đất là một trong nhiều vấn đề môi trường nổi cộm nhất đối với các vùng khai thác mỏ. Vùng khai thác lộ thiên ở Hạ Long - Cẩm Phả cũng đã và đang phải đối mặt với vấn đề này cùng với việc tạo ra địa hình âm là sự phát triển của các bãi thải. Bản đồ hiện trạng môi trường các năm 1969, 1993 và thông tin từ ảnh vệ tinh năm 2001 đã được sử dụng để phân tích vấn đề này.
Dữ liệu phân tích ảnh máy bay cho thấy diện tích bãi thải không ngừng tăng theo thời gian (Bảng 3). Nếu năm 1969, diện tích của bãi thải Nam Đèo Nai mới chỉ là 42,9 ha thì tới năm 1993, diện tích của bãi thải đã tăng hơn 4,2 lần. Diện tích bãi thải nhà sàng Cửa Ông trong 24 năm tăng gấp 4,5 lần từ 10,3 ha lên 48 ha. Và chỉ trong 8 năm, từ năm 1993 tới 2001, bãi thải này đã tăng 1,5 lần từ 48 ha lên 73,24 ha.
Bảng 4. Cao trình đáy moong khai thác thời kỳ 1969 và 2000 ở các mỏ Đèo Nai, Cọc Sáu

(Dữ liệu cao trình moong khai thác tính từ mô hình số địa hình thành lập từ cặp ảnh máy bay năm 1969 và dữ liệu địa hình năm 2000.  Người thực hiện: Trần Quốc Cường)

Dữ liệu luận giải năm 1969 và 1993 được ghép chồng để có được kết quả về biến động một số loại địa hình vùng Cẩm Phả - Cửa Ông (Bảng 7). Tổng diện tích bãi thải lấn biển từ năm 1969 tới năm 1993 là 89,7 ha. Qua phân tích ảnh viễn thám, tác giả nhận thấy chân của bãi thải từ nam Đèo Nai từ năm 1993 tới năm 2003 đã tiến thêm 200 m theo hướng đông nam về phía khu dân cư. Ngăn cách giữa khu dân cư và bãi thải hiện tại là một con đê được đắp bằng vật liệu thải nằm về phía bắc, cạnh đường tàu hỏa. Vấn đề trôi lấp bãi thãi mỏ đang uy hiếp trực tiếp tới đời sống của nhân dân trong các khu dân cư kề cận với chân bãi thải. Ngoài ra, nó còn bồi lấp các mương thoát ở khu này.



Bảng 7:Biến động một số loại địa hình ở vùng Cẩm Phả - Cửa Ông giai đoạn 1969-1993
(tính từ bản đồ hiện trạng môi trường các năm 1969 và 1993)
Đơn vị diện tích: ha
Năm 1969
         NĂM 1993
Bãi bồi
Bãi thải
Biển
Địa hình nhân sinh
Vùng bị tác động do khai thác than
Sa bồi
San lấp xây dựng
 Bãi bồi
5,3

47,2
0,3

2,9

 Bãi thải
43,7
66,2
89,7
58,1
22,0
12,0

 Biển

1,5
1,304,4


4,0

 Địa hình nhân sinh
48,6
6,7
34,1
684,3
1,3
15,5
5,6
 Vùng bị tác động do
 khai thác than

28,4

36,9
348,9


 Sa bồi


75,4


2,7

 San lấp xây dựng
3,7

15,7
0,5

36,2



2. Tác động của khai thác than tới đường bờ khu vực nghiên cứu
Đường bờ khi luận giải ảnh máy bay được quan niệm là đường bờ nước tại mức triều cao. Ở các vùng có thực vật ngập mặn không xác định được bằng khái niệm trên thì ranh giới được quy ước là ranh giới của thảm thực vật ngập mặn và biển [3]. 
Đối với ảnh LandSat năm 2001 khi chiết xuất tự động thì đường bờ là ranh giới đất và nước ở thời điểm chụp.
Một giới hạn khác của nghiên cứu này là đường bờ luận giải từ tư liệu viễn thám chưa được định chuẩn với mức triều. Tuy vậy, đặc điểm địa hình đới bờ tại vùng nghiên cứu có độ dốc lớn nên sai lệch do mức triều tới vị trí đường bờ ở các thời điểm sẽ không chịu tác động lớn của thủy triều xét trên phương nằm ngang.
Năm 1969, khoảng cách từ đất liền (nơi xa nhất theo hướng bắc-nam) tới Hòn Hai là 160 m. Tới năm 1993, đường bờ đã vượt quá Hòn Hai về phía nam. Số liệu phân tích ảnh cho thấy tại khu Cẩm Phả so với năm 1969, đường bờ năm 1993 đã lấn ra 700 m và 2001 đã lấn ra 1000 m. Theo [Đặng Văn Bát, 1999; Ngô Phúc Hưng và nnk, 1990; Phạm Khả Tùy, 1995, Lưu trữ Viện ĐCKS] đoạn đường bờ tại vùng thị trấn Cẩm Phả lấn ra biển trung bình 300-400 m trong giai đoạn 1969-1985. Tại vùng này quá trình bồi tụ do các dòng bùn đá đã tạo ra lưỡi bồi tụ rộng lớn đang tiến dần về phía đảo Khỉ. Vật liệu thải cũng gây bồi lấp các mương thoát nước cạnh mỏ Đèo Nai. Tại khu nhà máy tuyển than Cửa Ông, bãi thải đã lấp mất cửa sông và hình thành một hồ nhân tạo. Các số liệu nghiên cứu của tác giả cho thấy từ năm 1993 tới năm 2001 bãi thải đã lấn về phía tây-tây nam 450 m. Trong đợt thực địa tháng 4/2003 với sự hỗ trợ của máy định vị (GPS), tác giả xác định điểm xa nhất của bãi thải năm 2003 cách ranh giới năm 2001 một khoảng 60 m theo hướng tây-tây nam, chiều rộng trung bình của bãi thải là 400 m.
Nghiên cứu ảnh vệ tinh năm 2001 cho phép tác giả chỉ ra hướng vận chuyển vật liệu trầm tích ven bờ. Sự vận chuyển vật liệu trầm tích này ở đoạn từ vụng Cửa Lớn tới Cửa Ông có chiều hướng từ đông bắc xuống tây nam. Các dòng vật liệu này còn chịu tác động của sóng nên dễ dàng tích tụ ở ven bờ, đặc biệt ở những nơi có các địa hình chắn theo hướng vuông góc với bờ như đoạn Khe Cát, bến tàu Cẩm Phả, thị trấn Cẩm Phả.
VI. KẾT LUẬN
Từ những kết quả nghiên cứu trên, có thể rút ra một số kết luận như sau.
Công tác khai đào và đổ thải từ các hoạt động khai thác than lộ thiên là yếu tố chính gây biến động về vi địa hình, làm thay đổi chế độ thủy văn cục bộ. Cụ thể cao trình khai thác mỏ Cọc Sáu năm 1969 là 45 m, và dữ liệu địa hình năm 2000 cho thấy đã giảm xuống -127,39 m. Tương tự, đối với mỏ Đèo Nai là 147 m năm 1969 và 12,79 m năm 2000.
Sự biến đổi đường bờ do các hoạt động khai thác than diễn ra với cường độ lớn và làm thay đổi đáng kể cảnh quan ven biển vùng nghiên cứu. Từ năm 1969 tới năm 1993 diện tích đổ thải ở vùng Cẩm Phả - Cửa Ông lấn ra biển là 89,7 ha, trong đó, diện tích bãi thải nhà sàng Cửa Ông (đổ ven bờ) đã tăng từ 10,3 ha năm 1969 lên 73,24 ha năm 2001.
Các phương pháp được áp dụng cho vùng nghiên cứu có thể áp dụng cho các vùng khai thác than khác. Đối với việc luận giải đường bờ, tại những vùng đới bờ có độ dốc nhỏ, khi áp dụng phương pháp nhất thiết phải quy chiếu với mực nước triều. Trong khâu tính ngưỡng cho chiết suất đường bờ từ ảnh LandSat, nên tính tới yếu tố không đồng nhất của đặc điểm thực vật, phù sa, dòng ven bờ của khu vực tính toán. Các yếu tố này có thể gây sai lệch đường bờ được chiết suất với đường bờ thực.
VĂN LIỆU
1. Aronoff, S. 1989. GIS. A management perspective. WDL Publication, Ottawa, Canada, 293 p.
2. Phạm Văn Cự, 1996. Xây dựng bản đồ địa mạo một vùng đồng bằng trên cơ sở phối hợp hệ xử lý ảnh số và hệ thông tin địa lý. Luận văn Tiến sĩ, Thư viện Quốc gia, Hà Nội. 140 tr.
3. Winarso G., Budhiman S., 2001. The potential application of Remote sensing data for coastal study. Proc. 22nd Asian Conference on Remote Sensing. Singapore.

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482