DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Thực Trạng ô nhiễm Hồ Gươm và Bệnh Tình Cụ Rùa

Trông xa xa, Hồ Gươm xanh trong như một viên ngọc lục thủy giữa trời. Nhưng chỉ khi nhìn gần, cảnh tượng nước Hồ Gươm nổi váng với những vết đen loang lổ và rác lềnh bềnh… khiến những người chứng kiến không khỏi “ghê người”.
Hồ Gươm Xưa
Hồ Gương trong quy hoạch
Hiện Trạng Hồ Gươm
Dạo quanh Hồ Gươm, không khó để bắt gặp những vết đen, loang lổ như váng dầu ở khu vực gần bờ. Có những nơi các vết loang này làm thành một mảng lớn trên nền xanh lục của nước Hồ Gươm.
Đây là biểu hiện rõ ràng nhất cho tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường nước Hồ Gươm. Cùng với thực tế nhìn thấy được là nước ngày càng bẩn, còn một thực tế “ẩn” nữa là việc bùn và các chất thải cứng hàng trăm năm nay không ngừng dồn xuống nơi đây.
Mầu nước & cá chết
Nước Hồ Ô Nhiễm
Váng Nước
Những dị vật như gạch đá, bê tông, chai lọ, bát hương, kim tiêm, túi ni lông đang đầy dần lòng hồ đang đe doạ hệ sinh thái nơi đây, trong đó phải kể đến những ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe “cụ Rùa”.
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Hồ Gươm đã chịu không ít tác động của con người. Chất lượng nước hồ ngày càng suy giảm, lượng nước trong hồ giảm dần do rác thải tích tụ, lớp bùn ngày một dày lên và lòng hồ không được nạo vét trong nhiều năm.
Hậu Quả đối với Môi trường Hồ
Hậu quả biểu hiện rõ nhất hiện nay là các sinh vật sống dưới hồ. Chỉ thị sinh học thể hiện khá rõ nét, các sinh vật sống trong hồ, các loại cá chết nhiều và đến cụ Rùa cũng chịu hậu quả của tình trạng ô nhiễm này. Tình trạng bệnh lở loét trên da của rùa hồ Gươm hiện tại là rất nghiêm trọng. Đó chỉ là những gì chúng ta nhìn thấy qua các bức ảnh và các băng video do những người quan tâm tình cờ chụp và quay được, chứ chưa phải là ảnh và phim của chuyên gia về rùa chụp. Ngoài ra cụ rùa hồ Gươm còn có thể mắc một số bệnh khác, không nhìn thấy trên ảnh và video được.  
Rùa hồ Gươm nổi tại khu vực cầu Thê Húc lúc 8h sáng 19/3.
Rùa tiến sát bờ như muốn ngoi lên khỏi mặt nước.
Trên mình rùa nổi nhiều vết thương quen thuộc.
 Những gì mà Sở KH&CN đã tổng kết, đề xuất và công bố với báo chí có tính hợp lý, tính khoa học và tập trung trí tuệ cao. Ngoài ra đây là việc khả thi, không quá cầu kỳ, phù hợp với đặc điểm sinh thái và tập tính của rùa mai mềm nước ngọt. Đơn vị này đã thận trọng trong việc đưa ra phác đồ chẩn đoán, điều trị cho loài động vật hoang dã mà nước ta không có chuyên gia từng làm. Thứ ba là đồng bộ, không chỉ riêng việc chữa trị bệnh, mà còn làm sạch và cải thiện chất lượng môi trường sinh thái hồ Gươm về các yếu tố sinh học và phi sinh học.
Khắc phục cứu các sinh vật tiêu điểm là cụ Rùa
Tính khả thi thể hiện ở giải pháp đồng bộ và luôn có nhiều phương án. Ví dụ như việc làm sạch nước, thì nước trong bể sẽ được lọc và kiểm tra các thông số vệ sinh, toàn bộ nước hồ cũng được pha loãng bằng nước sạch, vớt bỏ những thứ gây bẩn…Về giải pháp bắt nhốt cụ rùa cũng có 2 phương án, bắt bị động, tức là chờ cụ rùa Hồ Gươm lên bãi cát trên Tháp Rùa phơi nắng, nếu không được thì dùng lưới vây dồn về nơi điều trị. Phác đồ chẩn đoán và điều trị có sự chỉ đạo của chuyên gia y tế và chuyên gia nông nghiệp (thủy sản). 


 





Được biết, đã có nhiều giải pháp được đưa ra bởi các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, tổ chức, cá nhân… nhằm cải tạo môi trường nước Hồ Gươm. Tuy nhiên, thực tế hiện nay là vấn đề nước Hồ Gươm vẫn rất đáng báo động.
Trước đó, giải pháp hút bùn ngầm sử dụng công nghệ và thiết bị của Cộng hòa liên bang Đức đã thực hiện hút thử nghiệm trên khoảng 1% diện tích hồ. Bên cạnh ưu điểm là hút bùn mà không gây xáo trộn nhiều đến hệ sinh thái hồ, vẫn có một số nhược điểm mà giải pháp này chưa khắc phục được như thiết bị chỉ hút được bùn mà không loại bỏ được dị vật như gạch, đá, bê tông, sành sứ, chai lọ thủy tinh, cành cây, sắt thép… có trong hồ.

Năng lượng mặt trời tại Việt Nam

Hiện trạng phát triển thiết bị đun nước nóng mặt trời(ĐNNMT) ở Việt Nam 
Thiết bị ĐNNMT bắt đầu được nghiên cứu ở Việt Nam trong khuôn khổ chương trình Nhà nước về năng lượng mới (1981 – 1985 và 1986 - 1990) do một số Viện nghiên cứu và trương Đại học thực hiện. Tuy nhiên, kết quả của các đề tài này mới chỉ dừng lại ở mô hình thí nghiệm, chưa đưa vào sản xuất. Trong giai độan 1991 – 1995, trường ĐH Bách Khoa Hà Nội đã đưa ra một mẫu thiết bị với giá thành rẻ. Sau đó cũng đã nghiên cứu \, cải tiến và hoàn thiện một mẫu ĐNNMT với bộ thu nhiệt có kết cấu tấm ống. Đến nay, hàng trăm thiết bị ĐNNMT của trường ĐHBKHN nghiên cứu được lắp đặt tại Hà nội và một số địa phương khác và đã được người tiêu dùng đánh giá cao. Tuy nhiên, quy trình sản xuất vẫn mang tính thủ công và quy mô sản xuất còn rất hạn chế.Từ năm 1997 đến nay, một số doanh nghiệp bắt đầu nhập thiết bị ĐNNMT của nước ngoài vào Việt Nam(như úc, Trung Quốc,Israel và hiện nay tại thị trường thiết bị ĐNNMT chủ yếu nhập thiết bị của Trung Quốc hoặc công nghệ của Trung Quốc).
thiết bị ĐNNMT hoạt động dựa trên nguyên lí hiệu ứng nhà kính biến quang năng của bức xạ mặt trời thành điện năng đun nóng nước. Thiết ĐNNMT điển hình gầm 3 bộ phận chính là bộ phận thu nhiệt, bình tích nước nóng và hệ giá đỡ. Hiệu suất của thiết bị phụ thuộc vào hệ số hấp thụ bức xạ mặt trời của bộ thu nhiệt, hệ số bức xạ nhiệt của màng háp thụ, khả năng cách nhiệt của bình thu nhiệt và bình tích nước nóng và kết cấu của bộ thu nhiệt.
Riêng bộ thu nhiệt có một số kết cấu sau: - bộ thu nhiệt vừa là bình tích nước nóng; - bộ thu nhiệt có kết cấu tấm ống; - bộ thu nhiệt là các ống thuỷ tinh chân không; - bộ thu nhiệt là các ống chân không.
Tiềm năng năng lượng mặt trời ở Việt nam: tiềm năng năng lượng gió phản ánh qua số giờ nắng. Trung bình năm ở nước ta có khoảng 1400 – 3000 giờ nắng. Theo bản đồ khí hậu về phân bố số giờ nắng có thể thấy sự phân bố của tiềm năng năng lượng mặt trời theo thứ tự giảm dần như sau:
+ Lớn nhất là các vùng Đồng bằng duyên hải cực Nam Trung Bộ và một phần lãnh thổ phía Đông Nam Bộ.
+ Đại bộ phận khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.
+ Phần lớn Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, vùng núi thấp và vừa ở sường phía Tây Hoàng Liên Sơn.
+ ít nhất là sườn Đông Hoàng Liên Sơn và phần lớn khu vực Đông Bắc.

Năng lượng gió ở Việt Nam

 Nghiên cứu khai thác và sử dụng năng lượng gió ở Việt Nam – Những vấn đề đang tồn tại và cần phải giải quyết
Hiện tại,một trong những điểm còn trống trong việc nghiên cứu, khai thác, sử dụng năng lượng gió ở Việt Nam là cần thiết xây dựng bản đồ năng lượng kỹ thuật của gió.
Đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20, đã có chương trình năng lượng mới của Nhà nước, chủ yếu tập trung nghiên cứu khí hậu năng lượng gió. Những năm 90, Trung tâm nghiên cứu thiết bị và nhiệt và năng lượng tái tạo thuộc trường Đại học Bách Khoa TP. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu việc sử dụng năng lượng gió để phát điện, bơm nước, ca nô chạy bằng sức gió. Tuy nhiên, các thiết bị này công suất thấp từ vài trăm đến dưới 1000w. Song song với việc điều tra cơ bản, một số nhà kỹ thuật đã chế tạo hoặc nhập khẩu các thiết bị chạy bằng sức gió với công suất cỡ từ vài trăm đến 2000w và đã lắp đặt ở một vài nơi. Cũng ngay từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, một số nhà đầu tư và chuyên gia vè năng lượng gió của Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Italia, Mỹ… đã tiếp xúc và tìm hiểu nguồn năng lượng gió ở Việt Nam, cũng đã đề xuất hợp tác hoặc tài trợ, xây dựng các trạm phát điện sức gió ở đảo Bạch Long Vĩ do Tây Ban Nha tài trợ. Đây là trạm phát điện công suất lớn hoạt động đầu tiên ở Việt Nam.
Nguồn năng lượng kỹ thuật gió ở Việt Nam như thế nào? Đó là câu hỏi lớn còn chưa được minh chứng của các nhà đầu tư và chuyên gia năng lượng gió, bởi những nghiên cứu, tính toán năng lượng khí hậu của gió không đủ điều kiện cho việc đầu tư các trạm phát điện gió, đặc biệt là các trạm có công suất lớn. Đó là cần biết tốc độ gió đủ để khởi động turbine, tần suất và thời gian tồn tại của tốc độ gió trung bình.
Để án được nêu ra và sản phẩm của nó sẽ là lời giải cho các nhà kỹ thuật thiết kế và lắp đặt các thiết bị tương ứng cho các trạm phát điện sức gió.
 Khai thác, sử dụng năng lượng gió là hướng ưu tiên của đất nước
Kế hoạch phát triển nguồn điện đến năm 2010 của Tổng Công ty điện lực Việt Nam có nêu: Chú trọng phát triển thủy điện nhỏ, điện mặt trời, điện gió ở những vùng xa xôi, hẻo lánh.
Phát triển, khai thác sử dụng năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng gió được đề cập đến trong chính sách phát triển nông thôn, miền núi phục vụ xóa đói, giảm nghèo.
Dự án về năng lượng gió là một trong những vấn đề ưu tiên tài trợ từ GEF/SPG trong lĩnh vực biến đổi khí hậu.
Tầm quan trọng về mặt tính khoa học của nghiên cứu, về nội dung nghiên cứu, về sản phẩm nghiên cứu
Về mặt khao học của nghiên cứu: Như đã nêu ở trên, hiện tại chỉ có một tính toán mang tính chất khí hậu của năng lượng gió. Điều đó chỉ cho biết bức tranh chung và khái quát tiềm năng năng lượng gió ở Việt Nam. Ys nghĩa khao học của đề án chính là tính toán và xây dựng bản đồ năng lượng kỹ thuật của gió tại các điểm của vùng cụ thể. Hơn nữa, xác định độ cao trong lớp sát đất (dưới 100m) mà ở đó năng lượng gió tối ưu cho việc lắp đặt turbine với công suất tương ứng.
-    Về nội dung kỹ thuật nghiên cứu: bổ sung vào khoảng trống mà hiện tại các tính toán năng lượng kỹ thuật của gió chưa được đề cập đến.
-    Về sản phẩm của nghiên cứu: đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các nhà đầu tư, các chuyên gia năng lượng gió, để đánh giá, xây dựng trạm điện gió công suất lớn.
Tầm quan trọng đối với xã hội
Phục vụ cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo mà mạng lưới điện khó hoặc không có thể vươn tới được. Tạo nguồn điện cho các hộ dân cư cá lẻ, phân tán để phát triển kinh tế gia đình. Phục vụ cho sản xuất chế biến nông sản, hải sản quy mô nhỏ, vận hành động cơ quạt nước cho các vùng nuôi trồng thủy sản ở ven biển.
Tiềm năng khí hậu của năng lượng gió ở Việt Nam(ở độ cao 10m)
Tiềm năng năng lượng gió phụ thuộc vào tốc độ gió trung bình và hệ số năng lượng mẫu k. Do sự phân hoá của tiềm năng năng lượng gió phụ thuộc chủ yếu vào sự phân hoá tốc độ gió trung bình, nên nó chung sự phân bố của năng lượng gió tương tự sự phân bố của tốc độ gió trung bình.
Phân bố tổng năng lượng gió trên lãnh thổ Việt Nam [3] là:
tiềm năng năng lượng gió tăng từ đất liền ra ngoài khơi; và có xu hướng giảm khi càng gần xích đạo. Tiềm năng năng lượng lớn nhất tại các đảo phía Đông lãnh thổ, tổng năng lượng năm W> 400 Kwh/m2, trên các đảo xa bờ. Tại các đảo phía Nam giảm dần chỉ từ 400 – 900 Kwh/m2 . Ở vùng ven biển có tiềm năng đáng kể. Trên các bờ biển thoáng gió của Bắc Bộ và Trung Bộ , tiềm năng từ 800 – 1000 Kwh/m2, ven biển phía đông Nam Bộ từ 600 – 800 Kwh/m2 và giảm đi ở ven biển phía Nam và phía Tây.Ở Đồng bằng Bắc Bộ theo chiều từ trung du ra biển tiềm năng năng lượng gió tăng từ 250 đến 800 – 1000 Kwh/m2. Trên dải đồng bằng hẹp Trun g Bộ, nơi mà dãy Trường Sơn hạ xuống thấp, tiềm năng khs phong phú, khoảng 700 – 800 Kwh/m2 , có nơi tới 1000 Kwh/m2. Những khu vực bị ảnh hưởng bởi sự che chắn của khối núi đồ sộ Hoàng Liên Sơn như phía Tây Quảng Nam – Quảng Ngãi, chỉ vài ba trăm Kwh/m2. Ở Đồng bằng Đông Nam Bộ sự phân bố năng lượng gió đồng đều hơn, khoảng 300 – 450 Kwh/m2 và tăng lên đến 500 – 600 Kwh/m2 khi ra gần tới biển.
Ở trung du và núi thấp W nhỏ có giá trị dưới 200 Kwh/m2. Vùng núi Đông Bắc Bắc Bộ tiềm nưng lớn hơn vùng núi Tây Bắc và vùng núi phía Bắc. Ở Tây Nguyên, mặc dù gió không mạnh,nhưng do hệ số năng lượng mẫư k tương đối lớn nên tiềm năng tương đối khá, trên cao nguyên thoáng , W có thể đạt 600 Kwh/m2.
   Diễn biến của mật độ năng lượng gió năm
Phân bố năng lượng gió trung bình năm là thông tin quan trọng ban đầu đối với mục điích sử dụng và phương thức khai thác nguồn tiềm năng này đối với điều kiện cụ thể của từng địa phương.
biến trình năm của năng lượng gió có dạng như biến trình năm của tốc độ gió. Cụ thể : tại các đảo phía Đông, ưu thế năng lượng gió phụ thuộc về gió Đông Bắc, cực đại chính vào đầu mùa gió với mật độ trung bình  tại các đảo xa bờ > 6000w/m2, trong suốt mùa gió mùa Đông Bắc  > 550 w/m2, gần bờ  tháng lớn nhất > 200 w/m2, tháng nhỏ nhất cũng >100 w/m2.
trên đất liền ở Bắc Bộ, tiềm năng trong mùa gió mùa Đông Bắc nói chung vẫn chiếm ưu thế hơn gió mùa Đông nam với  tháng lớn nhất  > 100 w/m2, ở ven biển tới 150 w/m2 và giảm xuống 50 w/m2 khi đi sâu vào đất liền giáp vùng trung du. Ở vùng núi thấp Tây Bắc và vùng núi phía Bắc không vượt quá 40 w/m2;  vùng núi thấp Đông Bắc Bộ  > 70 w/m2. Cực đại thứ hai ở Đồng bằng Bắc Bộ thường vào giữa màu gió mùa Đông Nam với giá trị khá cao,có khi vượt cức đại mùa đông, nhưng thời gian xuất hiện năng lượng lớn lại rất ngắn.
Ở Trung Bộ, những vị trí nằm sát biển , tiềm năng năng lượng gió trong gió mùa Đông Bắc vẫn chiếm ưu thế với tháng lớn nhất từ 100 – 200 w/m2, vào đất liền , ưu thế chuyển dần sang gió mùa Tây Nam.
Ở Tây Nguyên , tiềm năng gió màu Đông Bắc xhiếm ưu thế, tuy nhiên ở các vị trí thấp , do địa hình nên trong năm gió Tây Nam mạnh hơn gió Đông Bắc.
ở Nam Bộ, vai trò của cả hai mùa gió đều gió rệt. Ở ven biển phía Đông, cực đại trong  biến trình vào mùa gió Đông Bắc với   tháng lớn nhất từ 100 – 150 w/m2. Ở đồng bằng , biến trình có 2 cực trị vào giữa 2 mùa gió, càng sang phía Tây gió Đông Bắc yếu dần. Ở phía Tây Nam Bộ biến trình năm của năng lượng gió chỉ còn một cực đại vào giữa mùa gió Tây Nam với  tháng lớn nhất khoảng 100 - 200 w/m2.

Động Đất và Sóng Thần

Hai hiện tượng tự nhiên này là những thiên tai có sức tàn phá khủng khiếp của nhân loại.
        Bằng phương pháp nghiên cứu như phương pháp địa chất - địa mạo, địa vật lý, động đất, định vị toàn cầu GPS, mô hình hoá biến đổi thường ứng suất và sóng thần.... Các nhà khoa học nhận định chuyển động kiến tạo hiện đại là nguồn gốc sâu xa gây ra các thảm hoạ như động đất, sóng thần
        Động đất là hiện tượng rung động đột ngột của vỏ Trái đất, mạnh hay yếu tuỳ từng trận (xác định bằng độ Richter) do sự dịch chuyển các mảng thạch quyển hoặc các đứt gãy ở dưới mặt đất và truyền qua các khoảng cách lớn. 
        Một chấn động đơn độc thường kéo dài không quá vài giây, những trận động đất nghiêm trọng nhất cũng chỉ kéo dài tối đa là 3 phút.


Động đất xảy ra tại thành phố Hualien của Đài Loan

Nguyên nhân nào gây ra động đất, sóng thần?
Cảnh hoang tàn sau động đất tại thành phố Kesennuma, tỉnh Miyagi, Nhật Bản. Ảnh: AP.
Sóng thần ở Nhật Bản
        Sóng thần là một loạt các đợt sóng biển cao và mạnh, tạo nên khi một thể tích lớn nước đại dương bị chuyển dịch nhanh chóng, với nguyên nhân sâu xa là do động đầt, lở đất hoặc núi lửa phun trào dưới đáy biển hoặc sự rơi của những thiên thạch lớn (hiếm và không mạnh), khi các sự kiện này sẩy ra dưới đáy biển sẽ gây ra cơn dư trấn tâm là nơi sẩy ra sự kiện, hậu quả đột ngột làm cột nước dâng cao và liên tục tùy thuộc vào độ mạnh yếu của cơn dư trấn.
        Sóng thần chủ yếu là động đất dưới biển,  nhiều khi không có ảnh hưởng gì lớn (trừ một số trận rất khủng khiếp) nên ít được chú ý hơn.
Theo Don Blakeman, một nhà địa vật lý của Trung tâm Thông tin Động đất quốc gia Mỹ, cho biết "Những trận động đất có cường độ thấp hơn 7,5 độ Richter thường không gây sóng thần. Tuy nhiên, đôi khi một cơn địa chấn 6 độ Richter có thể gây sóng thần trong phạm vi nhỏ, với sức tàn phá tương đối thấp".Cường độ động đất được đo theo hàm logarith, một cơn địa chấn 5 độ Richter tạo nên sóng địa chấn có biên độ lớn gấp 10 lần so với trận động đất 4 độ Richter.
 
Thời tiết không tác động đến sóng thần. Ảnh minh họa: acehtsunami.com.
Thời tiết không tác động đến sóng thần. Ảnh minh họa: acehtsunami.com.
         Động đất gây nên sóng thần khi hoạt động địa chất khiến đất dọc theo các đường phay (hay đường đứt gãy) di chuyển lên phía trên hoặc xuống phía dưới. Theo Blakeman, khi một số vùng thuộc đáy biển dịch chuyển theo chiều dọc (lên hoặc xuống), toàn bộ nước ở phía trên sẽ bị đẩy khỏi vị trí. Hiện tượng đó tạo nên “sóng năng lượng” khiến nước bị đẩy về các hướng.
         John Bellini, một nhà  địa vật lý của Cục Địa chất Mỹ, khẳng định những cơn địa chấn khiến đáy biển dịch chuyển theo phương ngang hiếm khi gây sóng thần dữ dội. Do các mảng kiến tạo địa tầng dịch theo phương ngang, nước ở phía trên chỉ bị nâng lên hoặc hạ xuống ở mức độ nhẹ. Vì thế sóng thần không hình thành.
        Chiều cao của một đợt sóng thần được quyết định bởi chuyến động theo phương thẳng đứng của đáy biển. Vì thế mọi thay đổi về địa hình của đáy biển có thể làm tăng hoặc giảm chiều cao của sóng thần khi nó di chuyển trên mặt biển.
“Khi lan tỏa ở đại dương, sóng thần thường di chuyển với tốc độ từ 800 tới 1.000 km mỗi giờ, gần bằng tốc độ của máy bay phản lực. Nhưng sóng thần di chuyển chậm dần khi tiến về phía đất liền. Hiện tượng nước rút đột ngột và mạnh khỏi bờ biển là dấu hiệu cho thấy sóng thần sắp tới”, Blakeman nói với tạp chí Life’s Little Mysteries.
        Đôi khi sóng thần xuất hiện theo từng cặp. Cơ quan Khí tượng và Địa vật lý Indonesia cho hay, hồi tháng 4 một cơn địa chấn 7,7 độ Richter gây nên hai đợt sóng thần. Thời tiết không tác  động tới sóng thần, bởi nguồn gốc sức mạnh của sóng thần là sự dịch chuyển của đáy biển.
        Cục Địa chất Mỹ  khẳng định, nếu muốn dự đoán sóng thần xuất hiện sau động đất hay không, các nhà khoa học nên đo chiều cao và năng lượng của sóng biển bằng cách sử dụng các cảm biến đo áp lực trong nước biển và chiều cao của thủy triều.
Sóng thần sẩy ra nhưng chỉ gây thiệt hại ở những vùng ven biển, đại dương, vào sâu trong đất liền hầu như không bị ảnh hưởng.
        Tuy chỉ diễn ra trong thời gian ngắn như vừa nói, nhưng hậu quả của động đất và sóng thần rất to lớn. Động đất làm các công trình, nhà cửa bị phá huỷ, người chết kèm theo những hậu quả lở đất, hoả hoạn v.v… và sau đó là những vấn đề x ã hội. Hậu quả sẽ nhân lên khi động đất xảy ra ở nơi có nhà máy điện hạt nhân chẳng hạn…
        Sóng thần cao hàng chục mét có thể cuốn mọi thứ ra biển khơi.

Làm thế nào để biết trước động đất và sóng thần?

        Động đất được ví như kẻ địch không hề tuyên chiến như bão lũ và dù khoa học đã rất tập trung nghiên cứu với sự phối hợp của nhiều ngành khoa học: địa chấn học, kiến tạo học, địa vật lý kể cả hoá học và sinh học nữa nhưng kết quả vẫn rất khiêm tốn, nếu như không muốn nói rằng khoa học vẫn đang bất lực.
Ngay trước thời gian động đất hoặc sóng thần xảy ra người ta thường quan sát thấy có các dầu hiệu ở động vật vì rất có thể chúng cảm nhận dựoc những thay đổi bất thường về trường tĩnh điện, hạ âm… song không hoàn toàn là những dự báo đáng tin cậy.
        Các chuyên gia địa chất cho rằng “Dự báo thành phố nào sẽ bị động đất và sóng thần rất quan trọng, nhưng không quan trọng bằng làm thế nào để chúng không gây ra tổn thất quá lớn”. Có nghĩa là không ngoan nhất là tìm cách sống chung với động đất.
Sóng thần cũng không thể dự báo được chính xác hoàn toàn song vì là hậu quả của động đất nên có thể biết trước được ít nhiều. Tại nhiều vùng ven biển người ta dã xây dựng những hệ thống cảnh bảo sóng thần để các cơ quan chuyên môn căn cứ vào sự phát hiện của dụng cụ đo, thông báo thường xuyên cho nhân dân.


Nguyên nhân nào gây ra động đất, sóng thần?
Hình ảnh sóng thần tấn công Nhật Bản sau động đất. Ảnh: NHK.
4. Có những phương pháp nào để chống động đất và sóng thần ?

       Như đã nói, không thể bỏ một vùng đang sinh sống, ngay khi là nơi động đất xảy ra khá thường xuyên mà phải tìm cách “chung sống” với nó một cách chủ động.
Chủ động là:
- Về mặt chính quyền cần tuyên truyền, phổ biến nâng cao hiểu biết của cộng đồng về động đất và các giải pháp phòng, tránh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, đưa vào chương trình giảng dạy của các cấp học; tổ chức hội thảo, tập huấn nâng cao nhận thức của cộng đồng để người dân hiểu biết, chuẩn bị và có phản ứng kịp thời khi xảy ra động đất.
- Khi xây dựng các công trình công cộng, công trình cao tầng và các công trình công nghiệp quan trọng phải tính đến yếu tố động đất và tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật trong vùng có nguy cơ động đất.
- Thành lập Ban chỉ đạo ứng phó với động đất, lập kế hoạch và tổ chức diễn tập phòng, tránh động đất trên từng địa bàn dân cư.
       Ở nước ta đẫ có những thông tư cụ thể của Chính phủ về vấn đề này từ lâu, song việc triên khai quá chậm chạp và không kiên quyết nên chưa làm được gì nhiều. Việc diễn tập cho quần chúng là hết sức cần thiết.
        Về nguy cơ sóng thần, cấn có hệ thống cảnh báo ở ven biển, theo dõi thường xuyên và sát sao, hướng dẫn cho cộng đồng những việc làm cấp thiết khi sóng thần xuất hiện từ xa. Ở nhiều nước, người ta xây dựng những bức tường chống sóng thần cao và chắc chắn tại các vùng ven biển đông dân cư, trồng những khu rừng phòng hộ để giảm bớt năng lượng phá hoại của sóng.

ArcGIS 10

ArcGIS là dòng sản phẩm hỗ trợ trong hệ thống thông tin địa lý (GIS) của ESRI. Các phiên bản ban đầu là ArcInfo, được cài đặt dưới dạng DOS, ngày nay các sản phẩm này được phát triển lên nhiều phiên bản cao cấp hợp dùng chạy trên nhiều hệ điều hành khách nhau như: Windows, Unix...

ArcInfo là phần mềm GIS đầy đủ nhất. ArcInfo bao gồm tất cả các chức năng của ArcView lẫn ArcEditor, các tính năng cao cấp trong xử lý dữ liệu không gian và khả năng chuyển đổi dữ liệu. Người dùng GIS chuyên nghiệp sử dụng ArcInfo để thực hiện toàn bộ các mảng công việc như xây dựng dữ liệu, mô hình hóa, phân tích, hiển thị bản đồ trên màn hình máy tính và xuất bản bản đồ ra các phương tiện khác nhau.

ArcInfo còn cung cấp tất cả các chức năng tạo và quản lý một hệ GIS thông minh. Với chức năng này, người dùng có thể truy nhập dễ dàng thông qua giao diện đơn giản đã được mô hình một cách tùy biến và mở rộng hoặc thông qua các script và các ứng dụng khác.
Với ArcInfo bạn có thể:
+ Xây dựng một mô hình xử lý không gian rất hữu dụng cho việc tìm ra các mối quan hệ, phân tích dữ liệu và tích hợp dữ liệu
+ Thực hiện chồng lớp các véc tơ, tính xấp xỉ và phân tích thống kê
+ Tạo ra các đặc tính cho sự kiện và chồng xếp các đặc tính của các sự kiện đó
+ Chuyển đổi dữ liệu và các định dạng của dữ liệu theo rất nhiều loại định dạng
+ Xây dựng những dữ liệu phức tạp, các mô hình phân tích và các đoạn mã để tự động hóa các quá trình GIS
+ Sử dụng các phương pháp trình diễn, thiết kế, in ấn và quản lý bản đồ để xuất bản bản đồ
Download và cùng trải nghiệm với version Trial 30day mới nhé: Download


Cần soft liên hệ tại đây

Công nghệ định vị GPS/ GPRS

Khác với hệ thống định vị GPS/GSM hệ thống định vị GPS/GSM/GPRS sử dụng công nghệ GPRS để truyền số liệu về server qua hệ thống sóng của điện thọai di động, trong đó sử dụng GSM để gửi đến các câu lệnh bằng tin nhắn SMS điều khiển, kích họat thiết bị.

GIỚI THIỆU CÔNG NGHỆ ĐỊNH VỊ GPS, GSM/GPRS
Với hệ thống GPS/GSM người sử dụng phải sử dụng tin nhắn để yêu cầu thiết bị trả về tọa độ hiện tại đồng thời kích họat và cấu hình hệ thống với việc sử dụng tin nhắn nhiều hơn so với hệ thống sử dụng GPS/GPRS do đó sự khác biệt chính là khách hàng phải trang bị thêm một GSM modem điều khiển thiết bị bằng phần mềm từ máy tính trung tâm quan sát. Hệ thống sử dụng GPRS phức tạp hơn nhiều so với hệ thống GSM vì bạn phải xây dựng một hệ thống server và tổng đài nhắn tin để đáp ứng việc truyền tải số liệu liên tục từ các đối tượng theo dõi gắn thiết bị định vị.
Giới thiệu
Trong các bộ phim hành động liên qua đến theo dõi đối tượng di chuyển, hẳn các bạn đã khá quen thuộc với những màn hình hiện các đối tượng chuyển động qua các tòa nhà góc phố… Xin thưa rằng họ đã cài thiết bị theo dõi vào các đối tượng này sử dụng vệ tinh và các sóng hiện hữu để truyền tính hiệu về mành hình quan sát.
Ở đây chúng tôi sử dụng sóng GPRS để truyền về trung tâm. GPRS có ở Việt nam trong những năm gần đây và bắt đầu quen thuộc đối với chúng ta qua các ứng dụng tải game, nhạc giải trí và lưới Wap.
Giao diện theo dõi và điều kiển thiết bị được sử dụng qua phần mềm giao tiếp Dragonfly và bản đồ chúng tôi xử lý và cấp phát cho người dùng miễn phí có thể kết hợp với phầm mềm Google Earth hay Ozi để quan sát đối tượng. Hoặc có thể theo dõi bằng bản đồ số qua website: www.adagps.com.
Sơ đồ hoạt động hệ thống ADA - DragonFly
  1. Start tracking: Từ máy tính, người sử dụng ra lệnh cấu hình (thời gian định vị, chế độ định vị) hay ra lệnh bắt đầu (ON) hay kết thúc định vị (OFF) lệnh được chuyển lên máy chủ (Server) và ra lệnh tới thiết bị Định vị (qua giao thức GSM bằng tin nhắn).
  2. Get Position: Sau khi nhận dạng được mệnh lệnh, hệ thống lấy tọa độ từ vệ tinh về để chuẩn bị cho bước tiếp theo.
  3. Reply Position: Thiết bị sẽ truyền tín hiệu theo yêu cầu lên server cho đến khi nhận được hiệu lệnh ngưng.
Như vậy đối với hệ thống GPS, GSM/GPRS, thiết bị định vị sẽ nhận một lệnh duy nhất và trả về theo thời gian đã lập lịch từ người dùng. Nhìn vào sơ đồ ta nhận ra rằng, chi phí sẽ phát sinh cho các tin nhắn (GSM) các gói dữ liệu truyền về trung tâm (GPRS) và các chi phí thuê server và ADSL khác.
Hệ thống cho phép người dùng định nghĩa theo dõi liên tục cứ mỗi 20 giây cho tới 9999 giây (~2.8 giờ).
Chi phí vận hành
  • Chi phí vệ tinh miễn phí trong thời gian sử dụng.
  • Chi phí GPRS rẻ hơn từ 100 - 200 lần so với tin nhắn (so sánh chi phí truyền về một tọa độ)
  • Chi phí thuê bao GPS Server, thuê bao SIM điện thọai

Khả năng Sử dụng ảnh vệ tinh để thành lập bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước ở Việt Nam


Ảnh minh họa - Nguồn: Internet 

Từ đầu năm 1989 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 50 trên Thế giới và là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á ký công ước quốc tế về các vùng đất ngập nước (Công ước Ramsar). Đất ngập nước của Việt Nam rất đa dạng, chiếm diện tích lớn và là một dạng tài nguyên quan trọng. Tuy nhiên việc quản lý, khai thác và bảo vệ hệ sinh thái này vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Nghiên cứu khả năng sử dụng ảnh vệ tinh để thành lập bản đồ phân bố các loại hình thể đất ngập nước ở Việt Nam để có kiến nghị và đề xuất các phương pháp quản lý và khai thác hợp lý là rất cần thiết.
Đất ngập nước là một hệ sinh thái rất đặc thù, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Trước hết đây là vùng có năng suất sinh học cao, cung cấp nguồn lương thực và thực phẩm chủ yếu để nuôi sống con người; Đồng thời cũng là vùng đất có chức năng bảo vệ môi trường cơ bản như điều tiết nguồn nước ngầm, khống chế lũ lụt, bảo vệ bờ biển, ổn định vi khí hậu...
Ở nước ta, đất ngập nước có phân bố ở nhiều nơi và ở các vùng khác nhau. Nhưng tập trung hơn cả vẫn là ở các khu vực đồng bằng và dải ven biển với nhiều loại hình và rất phong phú về các đặc trưng sinh thái. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu kiểm kê nào có thể đưa ra được những thông tin đầy đủ và hệ thống về hiện trạng phân bố của các loại đất này. Quan điểm về các chỉ tiêu phân loại vẫn còn có những điểm chưa được thống nhất.
Với khả năng thông tin của ảnh vệ tinh, đặc biệt là khả năng xác định được các đối tượng trên mặt phủ có độ chính xác và tính khách quan cao, cho phép có thể thành lập được bản đồ về phân bố các loại hình đất ngập nước trong phạm vi các cấp lãnh thổ khác nhau- từ cấp khu vực, cấp vùng đến toàn quốc.

Các loại ảnh vệ tinh hiện có

Cho đến thời điểm hiện nay, ảnh vệ tinh có nhiều loại và đã có nhiều thế hệ. Song được sử dụng phổ biến hơn cả vẫn là các ảnh vệ tinh tài nguyên chụp ở dải phổ nhìn thấy và cận hồng ngoại; Như hệ thống ảnh Landsat của Mỹ, ảnh SPOT của Pháp, ảnh KFA-1000, MK-4 và KATE-200 của Nga... Các loại ảnh này có thể được dùng trong các lĩnh vực về điều tra tài nguyên, giám sát môi trường; Đặc biệt được sử dụng để thành lập ra các bản đồ về hiện trạng (hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng rừng, hiện trạng lớp phủ, hiện trạng môi trường, bản đồ địa hình...) và các bản đồ biến động (biến động diện tích rừng, biến động bờ sông-bờ biển, biến động lớp phủ...). Có thể nói rằng, ảnh vệ tinh là tư liệu rất tốt để nghiên cứu các đối tượng trên bề mặt đất. Hiện nay đã có những loại ảnh có độ phân giải hình học khác nhau, cho phép xác định nhiều đối tượng và hiện tượng ở những mức độ chi tiết cũng khác nhau. ảnh được chụp với diện rộng và ở tầm cao nên có thể ghi nhận được nhiều đối tượng, hiện tượng trong một phạm vi lớn ở cùng một thời điểm và có khả năng tự tổng hợp hoá tự nhiên.
Để xác định phạm vi phân bố các loại hình đất ngập nước, có thể coi ảnh vệ tinhlà tư liệu và công cụ hữu hiệu.

Khả năng đáp ứng của ảnh vệ tinh đối với nội dung của bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước

Theo hệ thống phân loại của Công ước Ramsar, đối chiếu với điều kiện thực tế ở Việt Nam, bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước có thể gồm các nội dung sau đây:

Đất ngập nước nước mặn

Thuộc biển: Thuỷ vực nông bao gồm cả vịnh và eo biển; Thảm thực vật thuỷ sinh (rong, có biển); Rạn san hô; Bờ biển đá gồm vách đá và bờ đá; Bãi đá, bãi cát, bãi bùn; Bãi có rừng ngập mặn; Bãi có cỏ, cói, lau, sậy; Đầm lầy mặn          
Thuộc cửa sông: Nước vùng cửa sông; Bãi cát, bãi bùn; Bãi có cỏ, cói, lau, sậy; Bãi có rừng ngập mặn, dừa nước; Bãi có rừng ngập mặn, dừa nước; Đầm lầy mặn
Thuộc đầm phá, hồ nước mặn: Đầm phá nước mặn, nước lợ; Hồ nước mặn, nước lợ

Đất ngập nước nước ngọt.

Thuộc sông suối, kênh rạch: Sông suối, kênh rạch có nước thường xuyên, thác nước; Vùng Châu thổ sông; Sông suối, kênh rạch có nước theo mùa; Đồng bằng ngập nước sông theo mùa.
Thuộc ao hồ: Ao hồ có nước thường xuyên; Ao hồ có nước theo mùa; Vùng đất trũng ven ao hồ ngập nước theo mùa
Thuộc đầm lầy: Đầm lầy nước ngọt thường xuyên; Đầm lầy nước ngọt theo mùa; Đất than bùn; Suối phun nước ngọt và đất ngập nước ở các ô trũng trên núi; Đầm lầy có rừng cây chịu ngập úng (rừng tràm); Đầm lầy có rừng cây bụi

Đất ngập nước nhân tạo

Đất nuôi trồng thuỷ sản: Đất nuôi trồng thuỷ sản ở vùng bãi bồi cửa sông, ven biển; Đất nuôi trồng thuỷ sản ở vùng rừng ngập mặn; Đất nuôi trồng thuỷ sản ở đất ruộng lúa; Đất nuôi trồng thuỷ sản trên cát; Nuôi ở hồ ao, sông cụt, đấu, thùng đào
Đất canh tác nông nghiệp: Đất trồng lúa được tưới nước; Đất trồng lúa ở vùng ngập trũng
Đất làm muối
Đất công nghiệp: Khu vực khai thác, đào bới; Nơi xử lý nước thải
Hồ chứa nước và hệ thống đập, kênh dẫn nước
Với khả năng thông tin của ảnh vệ tinh, có thể đưa ra hai nhóm đối tượng có mức độ khai thác được trên ảnh như sau:
- Nhóm các đối tượng dễ xác định được trên ảnh gồm: Thuỷ vực nông; Bãi có rừng ngập mặn, dừa nước; Bãi có cỏ, cói, lau sậy; Đầm lầy; Nước vùng cửa sông; Bãi, đầm, phá; Sông suối; Kênh rạch, ao hồ; Vùng nuôi trồng thuỷ sản; Rừng tràm; Đất canh tác nông nghiệp; Đất làm muối; Khu vực khai thác, đào bới; Nơi xử lý nước thải; Hồ chứa nước; Đập và kênh dẫn nước.
- Nhóm các đối tượng xác định được trên ảnh nhưng phải có tài liệu khác hỗ trợ gồm: Đầm lầy phân thành đầm lầy mặn, ngọt; Sông ngòi, hồ ao có nước thường xuyên hay theo mùa; Đất than bùn; Rạn san hô; Bờ biển đá, vách đá; Bãi ven bờ phân ra bãi đá, bãi cát, bãi bùn; Đầm phá, hồ là loại nước mặn, nước lợ. Thảm thực vật thuỷ sinh.
Thông tin khai thác được trên ảnh vệ tinh phụ thuộc rất nhiều vào độ phân giải của ảnh (độ phân giải hình học, độ phân giải phổ). Vì vậy khi xây dựng các chỉ tiêu phân loại cũng như chọn tỷ lệ bản đồ, việc đầu tiên là phải đánh giá tư liệu ảnh. Với ảnh vệ tinh độ phân giải cao (5-20m) và siêu cao (dưới 5m) cho phép thành lập các bản đồ đất ngập nước ở tỷ lệ 1:10.000 và nhỏ hơn. Còn đối với ảnh vệ tinh độ phân giải trung bình (trên 20m) chỉ có thể thành lập được các bản đồ ở tỷ lệ 1:100.000 và nhỏ hơn.

Khả năng giải đoán các đối tượng là nội dung bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước trên ảnh vệ tinh

Giải đoán ảnh hay còn gọi là điều vẽ, suy giải ảnh là việc “đọc” ảnh thông qua các dấu hiệu trực tiếp có trên ảnh hoặc các dấu hiệu gián tiếp (dấu hiệu chỉ định) để suy diễn. Các dấu hiệu trực tiếp bao gồm dấu hiệu về màu sắc, cấu trúc, diện mạo và mật độ ảnh. Các dấu hiệu gián tiếp là các quy luật, đặc điểm phân bố, điều kiện sinh thái về các mối quan hệ tương hỗ giữa các đối tượng.
Theo nội dung của bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước, các mẫu giải đoán ảnh (cụ thể là ảnh vệ tinh SPOT) cho một số đối tượng được mô tả như sau:
- Thuỷ vực nông, thực chất đây là vùng biển ven bờ có độ sâu dưới triều khoảng 3-5m. Trên ảnh có thể xác định nhờ sắc ảnh có màu lơ, lơ đục; Cấu trúc hạt mịn.
- Rạn san hô là đối tượng tương đối khó xác định trực tiếp được trên ảnh mà phải dựa vào dấu hiệu gián tiếp (sinh thái-chỉ định) và dựa vào mô hình tương tự để ngoại suy. Tuy nhiên, do đặc điểm chung của rạn san hô ở Việt Nam thường có dạng cấu trúc rạn viền bờ, nên với các đảo trên ảnh hoặc đường bờ biển có viền trắng bao quanh.
- Vách đá, bờ đá có phân bố ở rìa các khối núi đá sát biển, thường là ở các vùng biển mở. Quan sát trên ảnh thấy đường bờ biển loại này là các đoạn thẳng, dưới chân bờ không có bãi.
- Bãi ngập ven bờ (bãi đá, bãi cát, bãi bùn) là phần bãi chỉ lộ ra khi triều kiệt. ở vùng cửa sông hoặc chỗ đoạn bờ biển kín có thể mở rộng thành vùng lồi ra phía biển. Trên ảnh thường có màu xanh lơ đục chạy dọc thành vệt theo bãi.
- Bãi bồi ven sông, ven biển là các bãi được hình thành của quá trình bồi tụ tự nhiên. Kết cấu bề mặt thường là bùn, cát hoặc cát-bùn. Các bãi này thường đã ổn định, nhiều nơi đã được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng ngập mặn, trồng cói. Trên ảnh bãi bồi chưa được sử dụng có màu lơ xám, xám, xám nâu; Cấu trúc hạt mịn.
- Bãi cát, cồn cát có phân bố ở dải ven biển, ven sông. Trên ảnh có màu trắng, trắng xám hoặc trắng phớt xanh lơ (phụ thuộc vào độ ẩm và thực phủ trên cát); Cấu trúc hạt mịn.
 - Rừng ngập mặn, dừa nước là đối tượng dễ xác định được trên ảnh, đặc biệt là khi các loại cây này có tán che phủ lớn. Trên ảnh có sắc màu đỏ, đỏ hồng hoặc nâu đỏ; Cấu trúc hạt mịn.
- Rừng tràm phát triển trên vùng đất chua phèn, thường bị ngập nước nhất là vào mùa mưa và ở một số vùng có ở các ô trũng nước ngọt, phía sau các đồi cát ven biển, ven sông. Trên ảnh có màu đỏ, nâu đỏ; Diện mạo ô vệt; Cấu trúc hạt mịn.
- Vùng cửa sông là khu vực tiếp giáp giữa sông và biển. Trên ảnh rất dễ xác định thông qua hình ảnh như màu sắc, hình thù. Tuy nhiên không phải vùng cửa sông nào cũng có màu xanh đậm mà có khi là màu xanh lam, lam nhạt do ảnh hưởng của dòng phù sa.
- Đầm, phá được tạo bởi các doi cát chạy song song với bờ biển rồi khép kín lại, chỉ để thông với biển bằng các cửa lạch nhỏ. Do đặc điểm phân bố và hình dạng rất đặc trưng nên có thể xác định được một cách dễ dàng các đầm, phá trên ảnh.
- Đầm lầy là các vùng đất thấp, có thể bị ngập nước theo mùa. Đầm lầy có hai loại: Đầm lầy mặn có ở vùng ven biển do ảnh hưởng của nước biển và đầm lầy ngọt phân bố sâu ở trong đất liền, thường gắn với vùng trũng ao, hồ, sông cụt tù đọng và ở vùng ven sông. Trên bề mặt có thể có thực phủ ở dạng cây bụi, cỏ, lau sậy. Hình ảnh trên ảnh có dạng loang lổ, cấu trúc ô vệt, có màu nâu, nâu xám, xanh xám.
- Bãi cỏ ngập nước gặp ở vùng bãi nông bằng phẳng ven biển, mấp mé ở mặt nước triều thấp. Trên ảnh có màu nâu, nâu lơ.
- Ruộng muối là diện tích đất ở vùng ven biển được sử dụng vào sản xuất muối. Trên ảnh rất dễ xác định vì ruộng muối có cấu trúc ô đều đặn với các vệt màu đốm trắng và các sọc xanh, xanh xám là kênh và rạch dẫn nước biển vào.
- Vùng nuôi trồng thuỷ sản bao gồm các hồ ao, đầm, phá, thùng đào, sông cụt, ruộng trũng và kênh rạch được sử dụng để nuôi trồng các loại thuỷ sản. Trong thực tế các vùng đất được cải tạo có thể chỉ chuyên nuôi tôm, cá... hoặc có khi lại là vùng rừng ngập mặn hoặc ruộng lúa một vụ kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản. Có thể nhận biết được loại đất này trên ảnh thông qua diện mạo ô thửa, cấu trúc hạt mịn đều hoặc ô vệt (đối với vùng chuyên nuôi); Còn loại có diện mạo tuyến sọc với màu sắc xen kẽ nhau đó là vùng nuôi trồng thuỷ sản trong vùng rừng ngập mặn.
- Ruộng cói, bàng phân bố ở vùng nước lợ, nước mặn ở chân ruộng trũng hoặc bãi bồi vùng cửa sông ven biển. Loại đất này trên ảnh có diện mạo ô thửa lớn được tạo thành bởi các bờ vùng, đê bao hoặc tạo thành từng vạt lớn dọc theo bãi bồi ven sông, ven biển. Màu sắc phụ thuộc vào tán che của cây cói, bàng, có thể ở dạng màu đỏ, đỏ sẫm hoặc nâu, nâu lơ; Cấu trúc hạt mịn.
- Đất canh tác ngập nước. Đây là vùng đất bằng phẳng ở đồng bằng, lòng chảo, thung lũng trên chân ruộng trũng và thấp chuyên để trồng lúa. Hình ảnh loại đất này có thể phân biệt dễ dàng thông qua diện mạo ô thửa do hệ thống kênh rạch, bờ vùng bờ thửa tạo nên. Màu sắc phụ thuộc vào trạng thái của cây trồng. Sau thu hoạch hoặc mới gieo cấy có màu lơ, lơ xám. Thời kỳ lúa tươi tốt có màu đỏ, đỏ sẫm; Cấu trúc hạt mịn.
- Đất ngập nước từng mùa có ở vùng đất trũng. Vào mùa mưa lũ, nước được dồn đọng ở đây. Việc xác định loại đất này trên ảnh hoàn toàn phụ thuộc vào thời điểm chụp ảnh. Vì vậy phải sử dụng kết hợp với bản đồ địa hình để xác định đối tượng này.
- Hồ ao tự nhiên có hai loại: Có nước thường xuyên và có nước từng mùa. Trên ảnh có thể xác định được các đối tượng này thông qua hình ảnh về màu sắc và hình dạng.
- Sông suối cũng có 2 loại: Có nước thường xuyên và có nước theo mùa. Giống như hồ ao tự nhiên có thể xác định được dễ dàng trên ảnh. Tuy nhiên để phân biệt có nước thường xuyên hay có nước từng mùa phải có ảnh chụp ở 2 thời điểm ở mùa mưa và mùa khô, kết hợp với điều tra thực địa.
- Kênh rạch là đối tượng dễ phát hiện trên ảnh, bởi có hình dạng là các tuyến đường thẳng màu lơ, lơ đậm.
- Khu vực khai thác, đào bới. Đây có thể là vùng khai thác khoáng sản, khai thác đá, khai thác đất hoặc vùng được đào bới phục vụ cho mục đích khác. Trên ảnh là những vệt loang lổ nhiều màu phụ thuộc vào loại đất đá được đào bới. Màu đen, xám thẫm, xám là vùng khai thác than lộ thiên. Màu trắng, xám sáng, lơ xám là vùng khai thác đá. Màu trắng, lơ là vùng khai thác đất...
- Nơi xử lý nước thải có phân bố chủ yếu ở các khu công nghiệp hoặc khu dân cư đông đúc. Do diện tích nhỏ, nên khó phát hiện được trên ảnh, trừ những hồ chứa có diện tích lớn.
- Hồ chứa nước là hồ nhân tạo phục vụ để chứa nước cho mục đích thuỷ lợi, dân sinh và thuỷ điện. Đây là đối tượng rất dễ phát hiện được trên ảnh nhờ hình dạng, màu sắc và đặc biệt là hình ảnh của đập ngăn nước có dạng thẳng nằm ở phía hạ lưu của hồ.

Một vài nhận xét

Ở Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều ảnh vệ tinh, có loại đã phủ trùm toàn quốc. Công nghệ xử lý và khai thác ảnh đã có nhiều tiến bộ, nhất là đã có những thiết bị và phần mềm chuyên dụng khá hiện đại. Các loại hình đất ngập nước thực chất cũng chỉ là những đối tượng của lớp phủ bề mặt, được hệ thống và sắp xếp theo những chuẩn mực nhất định. Vì vậy, khả năng sử dụng ảnh vệ tinh để thành lập loại bản đồ này là hoàn toàn có thể thực hiện được. Hơn thế nữa, khi phân tích ảnh còn có thể tìm ra được các quy luật và đặc điểm phân bố, ghi nhận hiện trạng và biến động của các loại đất này cũng như có thể tiến hành nghiên cứu về các quan hệ tương hỗ giữa chúng với nhau và giữa hệ sinh thái đất ngập nước với các hệ sinh thái tự nhiên khác.

Tài liệu tham khảo:

Tài liệu về “Bảo vệ đất ngập nước-Tổng quan các vấn đề hiện tại và hành động cần thiết”. Biên soạn Patrik J. Dugan - Điều phối viên, Chương trình Đất ngập nước. Người dịch Nguyễn Khắc Kinh


Nguồn: http://vea.gov.vn