DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Vertical Mapper 3.1 Soft Gis Mapinfo

Trần Văn Toàn



Vertical Mapper là giải pháp cung cấp các công cụ phân tích dựa trên ô lưới và hình ảnh ba chiều (3D). Bằng cách phân tích dữ liệu dưới dạng ô lưới, người dùng có thể dễ dàng xem những tham số dữ liệu liên tục thay đổi có liên quan đến vị trí bằng cách tạo dữ liệu bản đồ chủ đề theo màu hay hình bóng hoặc theo lớp và so sánh dữ liệu chủ đề với các ô lưới khác để xác định mối quan hệ duy nhất hay quan hệ ẩn. Giá của Vertical Mapper từ 95 - 125 USD, cho quy mô từ 40 người sử dụng trở lên. Trong khuôn khổ bài viết xin tặng các độc giả bản Vertical Mapper 3.0Soft GIS Mapinfo Full và bản Update 3.1.1 Các bạn download về và cùng trải nghiệm.
sử dụng pass: trantoanvertical
Download tại đây:
DOWNLOAD



Ảnh chương trình (tham khảo):





Cần Soft liêm hệ tại đây 

Phương pháp xác định tọa độ VN2000 bằng định vị GPS cầm tay

 Lược sử Hệ VN-2000

Một trong những vấn đề mà rất nhiều các anh chị em trong ngành thường thắc mắc là việc sử dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ VN-2000 khi thực hiện dữ liệu bản đồ. Trong số này, chúng tôi xin giới thiệu với độc giả những thông tin chung về VN-2000 và những thông tin cập nhật mới nhất.

 

Hệ quy chiếu và hệ tọa độ VN-2000 được chính thức đưa vào áp dụng trên toàn quốc khoảng từ tháng 8 năm 2000 theo quyết định số 83/2000/QĐ-TTg do thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 12 tháng 7 năm 2000. Cũng theo quyết định này, VN-2000 sử dụng ellipsoid WGS-84 quốc tế và lưới chiếu sử dụng là lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc UTM quốc tế. Từ đó VN-2000 chính thức thay thế HN-72.
Kế sau quyết định này, vào ngày 20 tháng 6 năm 2001, Tổng cục Địa chính đã có thông tư số 973/2001/TT-TCĐC nhằm hướng dẫn áp dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000. Độc giả có nhu cầu có thể tham khảo thêm thông tư này để có thể áp dụng vào công tác của mình.
Gần đây nhất, vào ngày 27 tháng 02 năm 2007, Bộ Tài nguyên Môi trường đã ký quyết định 05/2007/QĐ-BTNMT về sử dụng các tham số tính chuyển giữa hệ tọa độ quốc tế WGS-84 và hệ tọa độ quốc gia VN-2000. Trong quyết định này Bộ Tài nguyên Môi trường đã công bố 3 tham số dịch chuyển gốc tọa độ, 3 tham số góc xoay trục tọa độ và hệ số tỉ lệ chiều dài nhằm phục vụ cho công tác tính chuyển tọa độ và chuyển đổi tọa độ bản đồ qua lại giữa hai hệ nêu trên.

Xác định tọa độ VN2000 bằng định vị GPS cầm tay


Do tính năng tiện lợi, cơ động và dễ sử dụng nên ngày nay máy định vị GPS cầm tay đang được sử dụng ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có liên quan đến đo đạc bản đồ. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng thiết bị này để xác định hệ tọa độ và hệ quy chiếu quốc gia VN-2000 ở nhiều nơi đang còn nhiều bất cập và thiếu tính nhất quán; một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do người sử dụng thiếu thông tin cài đặt trên phần mềm của máy định vị GPS cầm tay.
Bài viết này được tổng hợp dựa trên một số tài liệu có liên quan và những kinh nghiệm thực tế với hy vọng giúp bạn có thể tự cài đặt trên máy định vị GPS cầm tay để sử dụng xác định toạ độ điểm đứng theo hệ VN-2000.

Hệ thống GPS (Global Posityoing System) được thiết lập mạng lưới vệ tinh trong không gian bao quanh trái đất để cung cấp thông tin về vị trí và thời gian ở mọi lúc, mọi nơi trên trái đất và trong mọi điều kiện thời tiết. Cấu trúc của hệ thống này bao gồm 3 đoạn hoạt động (không gian, điều khiển và sử dụng), trong đó các máy GPS nói chung là những thiết bị thành phần nằm trong đoạn sử dụng nhằm thực hiện chức năng thu tín hiệu từ vệ tinh và xử lý các thông tin về vị trí và thời gian thuộc hệ thống đang quản lý để đáp ứng nhu cầu sử dụng cho nhiều mục đích.

Hệ thống GPS nhận hệ tọa độ thế giới WGS-84 (World Geodetic System 1984) làm cơ sở hoạt động. Sở dĩ trong các máy định vị GPS cầm tay có nhiều hệ tọa độ của nhiều quốc gia là do những quốc gia đó có hệ tọa độ được định vị trên Ellipsoid của hệ tọa độ thế giới WGS-84; khi tham gia khai thác sử dụng hệ thống định vị GPS, các nước đó đã đăng ký với nhà chế tạo tham số dịch chuyển để được xác định tuyệt đối hệ tọa độ của quốc gia mình thông qua màn hình tiện ích của máy định vị.

Hệ tọa độ VN-2000 cũng được định vị trên Ellipsoid của hệ tọa độ thế giới WGS-84 và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có Quyết định số 05/2007/QĐ-BTNMT ngày 27/02/2007 về công bố tham số dịch chuyển gốc tọa độ VN-2000 với các đại lượng như sau:

”X = -191.90441429 (mét) ; ”Y = -39.30318279(mét); ”Z = -111.45032835 (mét)

Các máy định vị GPS cầm tay thường sử dụng cho các ứng dụng có độ chính xác thấp (5-10m) vì tính năng cơ học của máy chỉ cung cấp tọa độ theo phương pháp định vị tuyệt đối, nên việc cài đặt các thông số nêu trên có thể làm tròn đến đơn vị mét. Mặt khác theo Thông tư số 973/2001/TT-TCĐC ngày 20/6/2001 của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) về hướng dẫn áp dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 thì việc phân mảnh bản đồ theo hệ VN-2000 cho từng loại tỷ lệ còn phụ thuộc vào độ lớn của từng múi chiếu (30 hoặc 60) nên khi cài đặt các tham số dịch chuyển trên máy định vị GPS cầm tay cần phải lưu ý đến sự tương thích khi sử dụng ứng với từng nhóm tỷ lệ bản đồ.

Trong trường hợp điển hình, việc cài đặt sử dụng trên máy GPS cầm tay hiệu Map 60CSX được thực hiện như sau:

DX = -191.90441429 (mét);

DY = -39.30318279 (mét);

DZ = -111.45032835 (mét).

* Đối với nhóm các loại bản đồ có tỷ lệ từ 1/10000 đến lớn hơn (múi chiếu 30)

Bật máy dùng nút Page chọn Menu và tìm thư mục Setup màn hình xuất hiện:

- Chức năng Time (thời gian) thiết lập

24 h

other

+ 07h00

- Chức năng Units:

+ Hộp Position Format chọn User UTM Grid để thiết lập thông số:

E 107045.000' (Đối với Quảng Nam)

+ 0.9999000

+ 500000.0 m

0.0 m

+ Hộp Map Datum chọn User để thiết lập thông số :

DX : - 192 m

DY : - 39 m

DZ : - 111 m

DA : 0.0 m

DF : 0.0

Kết thúc các thao tác chọn chức năng Save để ghi lại và dùng nút Page về màn hình chính để thực hiện các chế độ đo bình thường.

* Đối với nhóm các loại bản đồ có tỷ lệ từ 1/25000 đến nhỏ hơn (múi chiếu 60)

Trong trường hợp này thì việc cài đặt các tham số dịch chuyển trên máy định vị GPS cầm tay vẫn được tiến hành như các nội dung và thao tác nêu trên. Riêng tại thư mục User UTM Grid cần thay đổi thông số Scale = + 0,9996 và kinh tuyến trục Longitude Origin = E 1050 hoặc E 1110 hoặc E 1170 tuỳ theo vị trí bản đồ đang ở múi chiếu thứ 48(1020-1080), 49(1080-1140) hay 50(1140-1200).

Với những thao tác cơ bản nêu trên thì việc cài đặt tham số dịch chuyển ở các dòng máy GPS cầm tay khác cũng có thể làm tương tự. Trong quá trình tác nghiệp cần định vị tối thiểu ít nhất là 03 vệ tinh trở lên nhằm đa dạng đồ hình quan sát để tránh sự bất biến của trị đo, đồng thời xác định những giá trị tin cậy nhất.

Ưu Thế đa dạng sinh học và nông nghiệp bền vững



cây phủ đất ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước có đa dạng sinh học cao, đặc biệt là ở vùng đồi núi, vùng cửa sông và bãi bồi ven biển. Chỉ qua 1 huyện miền núi Lào Cai ta đã có thể thất sự phong phú của thảm thực vật. Riêng Sa Pa đã có tới 1.680 loài thuộc 679 chi của 210 họ thuộc 7 ngành: Ngành Rêu, Quyết lá thông, thông đất, cỏ tháp bút, Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín. Về dược liệu có 370 loài thuốc thuộc 102 họ trong đó 98 loài được trồng như: hoàng liên, tam thất, ngũ gia bì, bạch truật, thảo quả, xuyên khung, vân mộc hương, đương qui, đỗ trọng...
Sự đặc sắc đó hiếm nơi trên thế giới có được, do vậy một trong những tiêu chí quan trọng của sử dụng đất nông lâm nghiệp phải là bảo tồn cho được sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên. Đối với vùng núi sự thay thế hệ canh tác truyền thống bằng độc canh một vài cây thương phẩm đại trà, đơn loài cho lợi ích tức thời không tránh khỏi phá hoại tính đa dạng sinh học mà sự cứu vãn là hết sức khó khăn, nếu không muốn nói là vô phương cứu chữa.
Điều kiện khí hậu nóng ẩm, thực vật sinh trưởng nhanh, tốc độ hoạt động sinh học mạnh là những nhân tố chủ yếu xúc tiến mạnh mẽ việc thành tạo chất hữu cơ và chuyển hóa chúng với tốc độ nhanh hơn hàng chục lần so với ở điều kiện ôn đới. Những ưu thế này cần được tận dụng trong khi phục hồi độ phì nhiêu hữu hiệu của các đất thoái hóa ở Việt Nam. Về mặt này thì cây phủ đất đóng vai trò hết sức trọng yếu như một công cụ hữu hiệu để kiểm soát xói mòn, tăng cường độ xốp, sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng, bổ sung dự trữ dinh dưỡng, cải thiện mức độ dễ tiêu của các nguyên tố, tạo ra môi trường thích hợp cho hoạt động bộ rễ của cây trồng. Bởi vậy, việc phát triển cây cải tạo đất, nhất là các cây đa mục tiêu, cần phải xem như một hợp phần không thể thiếu được của chiến lược quốc gia về quản lý quỹ đất, phục hồi đất thoái hóa và sử dụng bền vững đất dốc, đất đầm lầy, đất ngập mặn ven.
    Nghiên cứu và sử dụng cây phủ đất ở Việt Nam.

Có thể nói nông nghiệp Việt Nam là một trong những nền nông nghiệp có truyền thống sử dụng sớm và kiên trì theo hướng tận dụng hữu cơ, nguồn đạm sinh học từ cây phân xanh, cây họ đậu. Thật vậy, luân canh cây hòa thảo với cây họ đậu. Thật vậy, luân canh hòa thảo với cây họ đậu hoặc sử dụng tàn dư cây trồng làm phân, làm tốt đất đã được mô tả khá sớm trong thư tích cổ Việt Nam.
Trong “Vân đài loại ngữ “ Lê Quý Đôn viết:
“Phương pháp làm tốt ruộng thứ nhất là trồng đậu xanh, sau đó là đậu nhỏ và vừng. Tháng 5 tháng 6 gieo các thứ đó, đến tháng 7 tháng 8 cày úp cho chết đi. Làm như vậy đối với lúa vụ xuân thì mỗi mẫu thu được 10 thạch thóc, tốt ngang với bón xác tằm hay phân bắc hoai.” (vi thạch = 103,5 lít).
Trong những năm 1926 – 1927 Nguyễn Công Tiễn đã có những nghiên cứu khám phá tác dụng của cây bèo dâu ở đồng bằng và báo cáo tại hội nghị khoa học châu á ở Yorjakarta (1927). Cùng thời gian đó, nhà nông học Pháp Chauvin đã thu thập và thử nghiệm tại Pleiku một tập đoàn phân xanh gồm 62 giống bản địa  và nhập nội từ jankarta. Kết quả đã chọn được 12 giống phân xanh thích hợp để làm cây tiên phong cải tạo đất hoặc trồng xen trong vườn cây lâu năm như chè, cà phê, cao su, cây quả. Đó là các cây: đậu triều, đậu lông, đậu bướm, lục lạc mũi mác, muồng lá tròn, muồng lá dài, hàn the, chàm, trinh nữ và 3 loài cốt khí.
Từ 1949 tại Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Blao (Lâm Đồng), một tập đoàn phân xanh phủ đất thuộc họ đậu gồm 21 giống đã được khảo nghiệm bởi A.Chavaney và J.Lanfranchi. Sau 6 năm nghiên cứu hai ông đã rút ra kết luận trên đất đỏ bazan có 5 cây phủ đất tốt nhất. Đó là: đậu triều, muồng lông, quỳ dại và 2 loài cốt khí. Quỳ dại là cây cho năng suất chất xanh cao nhất, tới trên 100 tấn/ ha sau 2 năm trồng.
Trong các đồn điền cà phê, cao su, chè trước đây trồng cây phân xanh để phủ đất, làm đai rừng chắn gió, hoặc làm cây che bóng là hạng mục bắt buộc trong quy trình sản xuất mặc dù lúc đó môi trường sinh thái chưa đến nỗi suy thoái.
Từ đầu những năm 1960, cùng với việc thành lập các nông trường quốc doanh và hợp tác xã, việc tận dụng cây phân xanh cũng được chú trọng. Tiếp thu những kinh nghiệm trước đó, chủ trương cây phủ đất và vấn đề tuần hoàn hữu cơ kết hợp với sử dụng phân khoáng rất được chú trọng trong toàn ngành nông trường quốc doanh và một số hợp tác xã tiên tiến. Hàng chục loại phân xanh đã được thu nhận, nhập nội, thử nghiệm và đưa vào sản xuất đại trà. Chính nhờ vậy đất đai đỡ bị xói mòn, giảm bớt được tác hại phá đất do lạm dụng cơ giới nặng và phần nào bù đắp thiếu hụt phân khoáng trong thời kỳ khó khăn.
Từ sau đó đến cuối những năm 1980, trong bối cảnh khó khăn chung, thiếu sót trong quản lý kỹ thuật, do đề cao cực đoan tác dụng phân khoáng, và nhất là thiếu một cách hiểu đúng về tính bền vững của thâm canh, nên tuần hoàn hữu cơ bị xem nhẹ, cây phân xanh phủ đất cũng mai một dần. Mặc dù vậy những cây được nông dân chấp nhận vẫn tồn tại trên đồng ruộng nông dân, trong vườn hộ khẵp nơi trong nước.
Gần đây, như đã biết, vấn đề suy thoái đất, môi trường, sa mạc hóa... lại nổi lên, không phải chỉ ở Việt Nam, mà khắp vùng nhiệt đới. Các chính phủ và tổ chức quốc tế đã ý thức được và đang nỗ lực tìm giải pháp cho một nền nghiệp sinh thái bền vững, nhấn mạnh đến biện pháp sinh học và lớp phủ xanh an toàn, mặc dù ngày nay nền nông nghiệp có yểm trợ công nghiệp mạnh hơn nhiều so với trước đây, phân khoáng luôn có sẵn. Thiếu phân hóa học thì khó có thể đẩy năng suất sinh học và sản lượng nông phẩm lên được, nhưng lạm dụng phân hóa học cũng đưa lại hậu quả nhãn tiền. Mấy thập kỷ qua đã chứng kiến sự biến mất hàng loạt loài động vật thủy sinh. Cá tôm, cua ốc, lươn chạch trở nên hiếm hoi, đi theo chúng là sự thưa vắng cua, chim cò, giang sếu...
Cũng cần lưu ý rằng hàng ngàn năm trước khi sử dụng phân hóa học ở Việt Nam nông dân ta đã biết vận dụng các kỹ thuật của mình để điều khiển độ phì nhiêu đất, đặc biệt là kinh nghiệm về một nền nông nghiệp sinh thái cổ truyền trong đó chất hữu cơ được tuần hoàn liên tục, nên vấn đề thoái hóa đất, sa mạc hóa hầu như không xảy ra nghiêm trọng.
Nhắc lại mấy điểm trong lịch sử canh tác để có thể thấy rằng trồng cây phủ đất không thể xem là giải pháp tình thế hay biện pháp nhất thời. Trong khai thác đất đai, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nó phải được coi là một hợp thành của chiến lược phục hồi đất thoái hóa, sử dụng quỹ đất lâu bền.
Tổng kết nghiên cứu nhiều năm (Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, 1994, Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên, 1992) cho phép khẳng định “biện pháp công trình đơn độc dù tốt đến mấy cũng không thể thay thế biện pháp sinh học trong việc phục hồi đất dốc thoái hóa và phân khoáng dù đầy đủ cũng không thể thay thế hoàn toàn phân hữu cơ trong thâm canh cây trồng”.

VietMap 1.03.0926 Full (Dữ liệu bản đồ cập nhật tháng 01/2009)

Chi tiết cập nhật dữ liệu bản đồ tháng 01/2009:

- TP. Đà Nẵng.
- Huế.
- Đăk Lăk.
- Đăk Nông.
- Cầu Rạch Miễu.
- Các khu công nghiệp Mỹ Tho, VSIP2, Đại Đăng, Đông An 2, Sóng Thần 2.
- Chi tiết các đường nội bộ Phú Mỹ Hưng, Quận 7, TP Hồ Chí Minh.
- Một số khu vực TP Hồ Chí Minh.
- Các cập nhật nhỏ khác.

Đây là một phần mềm xem bản đồ, tra cứu dữ liệu bản đồ, tìm đường và dẫn đường đi cho người lái xe, đi bộ,... Với dữ liệu khá đầy đủ cho tất cả các Tỉnh Thành trên lãnh thổ Việt Nam, đây là một phần mềm thực sự hữu ích và được mong chờ bấy lâu của những người dùng điện thoại Symbian có tích hợp GPS.

Các tính năng chính của phần mềm VietMap:
* Hiển thị bản đồ 64 tỉnh thành.
* Tìm đường và hướng dẫn đường đi, lái xe trên khắp đất nước.
* Xác định lộ trình, điểm trung gian, cách tránh đường tắc.
* Dẫn đường trực tuyến theo tín hiệu GPS.
* Tìm cái địa điểm, địa chỉ, dịch vụ trên cả nước.
* Xác định các địa điểm, dịch vụ tại điểm lân cận đang đứng.
* Lưu trữ và định vị các địa điểm cá nhân (nhà, công ty,...)
* Dò, bắt, lưu vết và hiển thị các thông số GPS thông qua vệ tinh.
* Hướng dẫn bằng giọng nói qua nhiều ngôn ngữ.
* Bản đồ hỗ trợ hiển thị dạng 2D, 3D.












Hướng dẫn cài đặt:
Chỉ cài VietMap khi bạn đã hack phone thành công. Xem cách hack phone đơn giản nhất tại đây: http://tinhte.com/forum/showthread.php?t=113901
1) Giải nén file VietMap_012009.zip mà bạn vừa download về sẽ được 1 thư mục VietMap và 1 file VietMap_unsigned_cr@cked.sis
2) Chép thư mục VietMap để ngoài gốc của thẻ nhớ (hoặc Mass Memory), và chép file VietMap_unsigned_cr@cked.sis vào thẻ nhớ để được cài đặt.
3) Dùng X-plore để chạy file VietMap_unsigned_cr@cked.sis mà bạn đã chép vào thẻ nhớ. Chọn cài trên thẻ nhớ (hoặc Mass Memory), ko cài trên phone.
4) Chạy chương trình VietMap, chương trình sẽ đòi hỏi bạn điền vào mã đăng ký. Bạn điền vào dãy số bất kỳ (ví dụ: 12345678) sau đó bấm OK, nó sẽ báo lỗi mã đăng ký sai.
5) Bạn thoát VietMap, sau đó chạy lại VietMap, giờ thì ViepMap đã trở thành bản FULL rồi. Bạn có thể kiểm tra trong Options > About sẽ ko còn thấy thông báo trial 3 ngày nữa.
Như vậy là xong bước cài đặt và đăng ký, dưới đây là hướng dẫn sử dụng VietMap rất chi tiết, có gì khó khăn trong khi sử dụng thì các bạn tham khảo nhé!

Hướng dẫn sử dụng: (đã bao gồm trong bộ cài đặt)


Nhận xét:
- Đầy đủ bản đồ của 64 tỉnh thành tại Việt Nam và cực kỳ chi tiết, chi tiết hơn rất nhiều so với PGuider 2009, Emap và NAVFone Pro.
- Tuy mới là phiên bản đầu tiên trên HĐH Symbian s60v3 nhưng VietMap hầu như ko thiếu tính năng nào cả. Và khả năng chỉ và dẫn đường của VietMap là cực kỳ tốt (mình đã thử nghiệm sai số so với thực tế ko quá 10 mét). Có thể nói VietMap gần như đã so sánh được với những phần mềm chuyên nghiệp của nước ngoài như TomTom Mobile, Garmin City Navigator, Navigon Mobile Navigator,...
- Nếu cài đặt trên các điện thoại có tích hợp GPS thì sẽ phát uy được tối đa sức mạnh định vị và dẫn đường của chương trình. Còn nếu cài đặt trên điện thoại ko có GPS, VietMap cũng được xem như là 1 bản đồ số (giống như trang web www.diadiem.com) và tìm đường đi tối ưu nhất.


Lưu ý:
- Để VietMap có giao diện tiếng Việt như trong hình hướng dẫn. Phone Language của điện thoại phải chuyển sang tiếng Việt. Ví dụ: Vào Menu > Settings > General > Phone Language, chọn "Tiếng Việt" (nếu máy bạn có hỗ trợ).
- Theo như phản hồi của các bạn trong forum thì VietMap ko chạy được trên các máy N73, N73ME, N80, N91, N91 8GB, 3250, và 1 số máy thuộc dòng E-series. Lỗi chung là “Features not supported”.


Link tải phần mềm: DOWNLOAD

SỰ PHÂN LOẠI ĐỊA HÌNH

Hà Giang
Phân loại địa hình có nhiều cách và dựa vào nhiều đặc điểm khác nhau. Ở đây chỉ xét một số phân loại cơ bản.
1. Dựa vào hình thái bề mặt người ta chia địa hình ra thành:
a) Địa hình đồng bằng (hay địa hình bằng phẳng): Ở đây hình thái bề mặt đất ít bị phân cách, bề mặt đất tương đối đồng đều, không chênh lệch nhau nhiều.
b) Địa hình đồi núi: Ở đây bề mặt đất bị phân cách nhiều do sự chênh lệch về độ cao giữa đồi, núi và thung lũng.
Trên địa hình đồng bằng và đồi núi có các dạng địa hình lồi (như đồi, gò, đống) và địa hình lõm (hay trũng) như thung lũng, vạt đất sâu.
2. Dựa vào độ cao (độ cao tuyệt đối và độ cao tương đối) địa hình được chia ra:
Trong điều kiện cụ thể của nước ta về phương diện hình thành đất địa hình có thể chia làm 3 vùng:
- Vùng núi hay vùng thượng du ở độ cao > 500m so với mặt biển.
- Vùng đồi gò hay trung du ở độ cao 50-500m.
- Vùng đồng bằng ở độ cao < 50m.
Địa hình vùng đồi núi đặc trưng cho địa hình xói mòn, còn địa hình đồng bằng đặc trưng cho địa hình bồi tụ.
3. Dựa vào phạm vi ảnh hưởng và mức độ tác dụng của địa hình đối với những yếu tố khác của tự nhiên người ta chia ra địa hình lớn (đại địa hình), địa hình trung bình (trung địa hình) và địa hình nhỏ (tiểu địa hình). Tiêu chuẩn để phân chia ba loại địa hình này có thể khác nhau ít nhất ở những khoa học và tác giả khác nhau.
Ví dụ: Trong địa mạo học người ta chia ra: Địa hình lớn do đặc điểm bề mặt chung (như núi, đồi gò, thung lũng…) của một nước quyết định; và hình thái bề mặt của một vùng nhất định trong phạm vi hình thái bề mặt chung. Một số tác giả còn chia ra thêm địa hình trung bình. Đó là dạng trung gian của hai loại trên.
4. Dựa vào phạm vi và mức độ tác dụng của địa hình đến sự hình thành đất chúng ta có thể chia ra 3 loại địa hình sau:
a) Địa hình lớn: Đó là những dạng địa hình lớn nhất như đồng bằng bình nguyên, cao nguyên, dãy núi lớn. Dạng địa hình này ảnh hưởng tới sự vận chuyển của không khí đến sự hình thành khí hậu địa phương. Ở vùng núi địa hình này tạo ra quy luật biến đổi của khí hậu theo độ cao, hình thành quần thể thực vật và đất phù hợp với điều kiện khí hậu đó.
Sự phát sinh ra địa hình lớn liên quan với hiện tượng kiến tạo của vỏ đất.
b) Địa hình trung bình: Đó là dạng địa hình có kích thước trung bình, mức độ tác dụng hẹp như đồi, thung lũng bậc thang rộng. Nó ảnh hưởng trước hết đến sự phân bố lại lượng nước mưa trên bề mặt và điều chỉnh tỷ lệ nước chảy bề mặt và nước thấm sâu. Về sau nó ảnh hưởng đến hướng thấm sâu và tốc độ dòng chảy trong đất. Dòng nước này thấm sâu thẳng đứng ở bề mặt đất phẳng hoặc thấm xiên theo bề mặt sườn đồi.
Địa hình trung bình cũng ảnh hưởng tới sự phân bố lại nhiệt độ. Độ dốc và hướng dốc của đồi núi khác nhau sẽ nhận được năng lượng bức xạ mặt trời không giống nhau.
c) Địa hình nhỏ là dạng rất bé của địa hình như gò, đống, gố trũng. Nó là nguyên nhân gây ra những dạng đất không đồng nhất chủ yếu do chế độ nước khác nhau.
Sự hình thành trong địa hình liên quan với quá trình địa chất ngoại sinh tạo ra sự nâng lên hoặc lõm xuống những bộ phận nhỏ của mặt đất.

Bảo tồn với biến đổi khí hậu


Biến đổi khí hậu
    Biến đổi khí hậu đượ quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của con ngươi làm thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển làm gia tăng hiệu ứng nhà kính gây biến đổi hệ thống khí hậu trái đất
Thay đổi khí hậu do phát thải khí nhà kính qua hoạt động của con người ngày càng tăng Nồng độ C02 hiện nay cao hơn 30-35% so với nồng độ tự nhiên khoảng 10000 năm về trước Nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên trung bình 0,60c so với thế kỷ 20 và dự kiến có thể tăng tới 1,4 – 5,80c vào năm 2100, một mức chưa tong có trong khoảng 10000 năm qua Kết quả là lớp băng và tuyết sẻ chảy ra và mực nước biển đang dâng lên và chế độ khí hậu cũng đang thay đổi Hậu quả do thay đổi khí hậu gây ra sẽ không đều trên thế giới: hậu quả sẽ nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác Mức độ thay đổi khí hậu cũng thay đỏi phụ thuộc vào các khác nhau, tuy nhiên tất cả các vùng trên thế giới đều có thể bị tác động ít hay nhiều Số lượng các loài vật sẽ thay đổi, nhiệt độ bề mặt đất sẽ tăng lên, mực nước biển sẽ dâng cao và các hệ thống sản xuất cơ bản như nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ bị tác động đáng kể, tuy nhiên tính chất và phân bố của sự tác động đó sẽ xẩy ra như thế nào trong tương lai chưa thể xác định trước được Như vậy khí hậu tahy đổi sẽ làm thay đổi một số nhân tố bao gồm:
-    Nhiệt độ trái đất tăng dần lên
-    Mực nước biển dâng cao
-    Gây nên hiện tượng sa mạc hoá cục bộ hoặc trên diện rộng
-    Thay đổi chu trình thuỷ văn
-    Các quy luật thời tiết sẽ thay đổi như các hiện tượng mưa, nắng, lũ, lụt, gió bão…
    Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới mà khí hậu đang biến đổi, mực nước biển đang dâng dần lên,dân số tăng nhanh, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các sinh cảnh đang co hẹp lại và phân cách nhau, sức ép của công nghiệp hoá, thương mại toàn cầu… Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng lớn đến việc quản lý các khu bảo tồn cũng như cuộc sống chung của các loài

Tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn đa dạng sinh học
      Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những ảnh hưởng lớn tới tự nhiên và xã hội, gây ra những tác động trực tiếp tới cuộc sống của con người Biến đổi khí hậu cũng sẽ ảnh hưởng tới việc bảo tồn đa dạng sinh học cụ thể là:
-    Một số loài sẽ bị biến mất, một số loài được ghi trong Sách Đỏ của IUCN, nhất là các loài Rất nguy cấp và Nguy cấp mà chỉ còn sống sót ở một địa điểm nhất định
-    Các hệ sinh thái, các sinh cảnh cần thiết cho các loài di cư, hoặc các loài nguy cấp có phân bố hẹp, các loài đặc hữu sẽ bị biến mất hoặc thu hẹp
-    Các hệ sinh thái sẽ bị biến đổi và phân mảnh: Do mực nước biển dâng cao cho nên mọt số địa điểm mà ở đó tập trung những chủng quần quan trộng mức quốc tế hay hay là những chủng quần của các loài có vùng phân bố hẹp có thể bị biến mất hoặc bị chia cắt, phân mảnh, như các vùng đảo, vùng ven biển,…
-    Một số khu bảo tồn cảnh quan có tầm quan trọng về mặt kinh tế – xã hội, văn hoá và khoa học hoặc là đại diện, là độc nhất hay là có tầm quan trọng về mặt tiến hoá hay cho các quá trình sinh học ở các đảo hoặc ven biển, cửa sông sẽ bị mất hoặc bị thu hẹp
-    Sự xâm nhập của một số loài ngoại lai: do môi trường thay đổi tạo điều kiện cho các loài động thực vật ngoại lai xâm nhập, phát triển Cùng với các hoạt động buôn bán, sự xâm nhập của các loài ngoại lai hiện đang là mối đe doạ lớn lên tính  ổn định và đa dạng của các hệ sinh thái, chỉ sau nguy cơ mất sinh cảnh Các đảo nhỏ và các sinh thái thuỷ vực nước ngọt, các vụng ven biển là những nơi bị tác động nhiều nhất 
Tác động của hệ thống các KBT đối với biến đổi khí hậu
    Hệ thống khu bảo tồn hiện nay không những là nơi bảo tồn tốt nhất các giá trị đa dạng sinh học mà còn góp phần quan trọngtrong việc hạn chế sự biến đổi khí hậu cũng như những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu:
-    Các khu bảo tồn là những bể hấp phụ khí CO2 khổng lồ để giảm hiệu ứng nhà kính một trong những nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu
-    Giảm ảnh hưởng của lũ lụt, chống xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ sản xuất và các công trình hạ tầng cơ sở
-    Hạn chế hiện tượng sa mạc hoá cục bộ hay trên diện rộng, một trong những ảnh hưởng đang diễn ra tương đối phổ biến ở các nước hiện nay
-    Góp phần điều hào khí hậu trong vùng cũng như trên cả khu vực rộng lớn hơn…
Như vậy hệ thống các KBT không những chỉ có tác dụng về mặt bảo tồn mà còn đáp ứng được nhiều mục tiêu như phát triển kinh tế xã hội, hạn chế ảnh hưởng của thay đổi khí hậu… góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con ngưòi, một trong những mục tiêu mà chúng ta đang nổ lực phấn đấu thực hiện
 Các giải pháp để bảo tồn đa dạng sinh học trong sự biến đổi khí hậu
    Để giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đa dạng sinh học một số biện pháp cần phải áp dụng là:
-    Hoàn thiện và cụ thể háo các chính sách về bảo tồn đa dạng sinh học để áp dụng
-    Có chính sách cụ thể hoá để thu hút cá thành phần trong xã hội tham gia vào bảo tồn đa dạng sinh học
-    Thành lập các khu cứu hộ để bảo vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao do sự biến đổi của khí hậu
-    Có chương trình cụ thể để nâng cao nhận thức về bảo vệ đa dạng sinh học cho cộng đồng cũng như các ngành, các cấp
-    Tăng cường độ hợp tác quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học và biến đổi tkhí hậu của trái đất…

Khí nhà kính trong nông nghiệp và các quá trình biến đổi

Nhằm đối phó với hiện tượng nóng lên toàn cầu và hạn chế những tác động có thể đem lại do việc tăng nhiệt độ trung bình của trái đất, tại hội nghị của liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, Brazil tháng 6/1992, 155 nhà nước và chính phủ đã tham gia kí kết Công ước khung liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu toàn cầu (UNFCCC) nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định nồng độ khí nhà kính (KNK) trong khí quyển ở mức độ có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu.
Nghị định thư Kyôto là hiệp định được kí kết trong khuôn khổ UNFCCC tại hội nghị lần thứ 3 các bên tham gia UNFCCC tại Kyoto - Nhật Bản tháng 12/1997. Trong nghị định thư này đã đưa ra 3 cơ chế mềm dẻo (Buôn bán phát thải toàn cầu (IET), cơ chế đồng thực hiện (JI) và cơ chế sạch (CDM), để giúp các nước thực hiện và phát triển được mục tiêu giảm thải khí nhà kính, góp phần đạt được mục tiêu chung của công ước.
CDM được ghi trong điều 12 của nghị định thư Kyoto, cho phép chính phủ hoặc tổ chức, cá nhân ở các nước công nghiệp thực hiện dự án giảm phát thải ở các nước đang phát triển để nhận được “chứng chỉ giảm phát thải”, viết tắt là CERs, đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải của quốc gia đó. CDM cố gắng thúc đẩy phát triển bền vững ở các nước đang phát triển và cho phép các nước phát triển đóng góp vào mục tiêu giảm mật độ tập trung KNK trong khí quyển.
Tại điều 12.2 trong nghị định thư có nêu “mục đích của CDM sẽ là trợ giúp các bên không thuộc phụ lục I đạt được phát triển bền vững và góp phần thực hiện mục tiêu cuối cùng của công ước và giúp các bên phụ thuộc phụ lục I thực hiện được cam kết giảm và hạn chế phát thải của mình trong điều 3”.
Cơ chế phát triển sạch (CDM) là một trong những công cụ linh hoạt của nghị định thư Kyoto. CDM bao gồm các nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững: Phát triển kinh tế, cải thiện môi trường và tiến bộ xã hội và có tiềm năng ứng dụng lớn ở các nước đang phát triển.
Xem một ví dụ sau: “ Chẳng hạn với các nước công nghiệp phát triển như Đức, Pháp và các nước khác ở Châu Âu, theo nghị định thư Kyoto họ sẽ phải cắt giảm thấp nhất 5% lượng thải các-bon của mình. Thay vì phải cắt giảm sản xuất họ có thể tiến hành đầu tư tiền cho các nước ở Châu Á hoặc Châu Phi, tiến hành trồng rừng để hấp thụ khí các-bon, sao cho lượng khí hấp thụ được bằng với mức các-bon họ buộc phải cắt giảm. Như vậy, những nước này sẽ nhận được chứng nhận giảm phát thải theo đúng nghị định thư Kyôto.
Như vậy, cơ chế phát triển sạch (CDM) trong nghị định thư Kyôto cho phép nhận dạng được những cách bảo vệ khí hậu một cách linh hoạt và có hiệu quả cả về mặt chi phí bằng cách tạo ra một thị trường toàn cầu cho buôn bán chứng chỉ về việc giảm thải khí nhà kính và khuyến khích việc sử dụng tiềm năng, sử dụng hiệu quả năng lượng và những phương pháp bảo toàn năng lượng ở các quốc gia. CDM là một cơ hội để khẳng định rằng việc giảm thiểu phát thải khí CO2 không chỉ có ý nghĩa lớn cho việc bảo vệ môi trường mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế.
Việt Nam có các loại hình sử dụng đất trong nông nghiệp chính: Đất trồng lúa nước, đất trồng hoa mầu, Đất rừng và đất ngập nước.
 
SỰ CHUYỂN HOÁ CÁC BON
Ở điều kiện thoáng khí sảy ra sự phân rã hữu cơ bởi sự hô hấp và ôxy hoá quá trình sảy ra mạnh yếu hoàn toàn phụ thuộc vào độ thoáng và ôxy hoá đến hoàn toàn thành CO2 và H2O.
      Trong khi sự phân rã các chất hữu cơ bởi sự hô hấp thoáng khí bị hạn chế do những điều kiện khử trong đất ngập nước(ĐNN) thì nhiều quá trình kỵ khí cũng có thể phân rã cacbon hữu cơ. Những quá trình chính của chuyển hoá cacbon ở những điều kiện kỵ khí và hiếu khí được minh hoạ ở hình
Sự men hoá chất hữu cơ xảy ra khi chất hữu cơ là chất nhận electron trong hô hấp kỵ khí bởi các vi sinh vật hình thành nên những axit hữu cơ có trọng lượng phân tử nhỏ, rượu và CO2.
      C6H12O6 ==> 2CH3CHOCOOH (axit lactic)
Hoặc   C6H12O6 ==> 2CH2CH2OH  +  2 CO2
                                                                 (ethanol).
      Quá trình có thể xảy ra trong ĐNN bởi những vi sinh vật kỵ khí không hoàn toàn và bắt buộc. Có ý kiến cho rằng, sự men hoá có vai trò trung tâm trong việc cung cấp cơ chất cho những sinh vật kỵ khí khác trong các trầm tích của những đất bị ngập nước. Nó là một trong những con đường chính, mà ở đó hyđrat cácbon có trọng lượng phân tử cao bị phân rã thành các hợp chất hữu cơ có trọng lượng phân tử thấp là cácbon hữu cơ hoà tan và dễ tiêu đối với những sinh vật khác (Valiela, 1984), quá trình đó xảy ra như sau:
      C6H12O6 ==> 2CH3CHOCOOH (axit lactic)
hoặc C6H12O6 ==> 2 CH2CH2OH + CO2
                                                                    ethanol
Sự sản sinh mêtan (CH4) trong ĐNN
      Quá trình này xảy ra khi một số vi khuẩn nhất định (vi khuẩn mê tan) sử dụng CO2 hoặc nhóm metyl như những chất thu nhận electron để sản sinh ra khí mêtan (CH4) theo phương trình:
      4H2 + CO2 ==> CH4 + 2H2O
CH3COO- + 4H2 ==> 2CH4 + 2H2O
      CH4 có thể đi vào khí quyển khi các trầm tích bị tác động và được gọi là "khí đầm lầy". Việc sản sinh CH4 đòi hỏi những điều kiện cực kỳ kỵ khí với Redox dao động từ - 250 và - 350 mV, sau những chất thu nhận electron cuối cùng khác (O2, NO3- và SO42-) đã được sử dụng. Nhìn chung, CH4 được phát hiện ở những nồng độ thấp trong những đất có môi trường khử, nếu nồng độ SO42- lớn (Valiela, 1984). Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là:
      - Sự cạnh tranh của các cơ chất xảy ra giữa sunfua và vi khuẩn mêtan.
      - Tác động kìm hãm của sunfat hoặc sunfit đến vi khuẩn mêtan.
      - Có thể có sự phụ thuộc vi khuẩn mêtan đến các sản phẩm của những vi khuẩn sản xuất sunfua.
      Những bằng chứng hiện nay còn cho rằng, mêtan có thể bị ôxy hoá đến CO2 bởi sinh vật khử sunfat (Valiela, 1984).
      So sánh sự sản sinh mêtan giữa môi trường nước ngọt và nước biển cho thấy, tốc độ sản sinh mêtan trong môi trường nước ngọt cao hơn vì lượng sunfat trong nước và trong trầm tích nhỏ hơn.
      Sử dụng các nghiên cứu khác nhau để so sánh tốc độ sản sinh mêtan rất khó, bởi vì các tác giả đã sử dụng những phương pháp khác nhau trong khi đó tốc độ sản sinh lại phụ thuộc vào nhiệt độ và thời kỳ thuỷ văn.
      Sự sản sinh mêtan thường theo mùa ở những vùng khí hậu ôn hoà. Ví dụ, Harris (1982) cho biết, sự sản sinh mêtan cực đại ở đầm lầy nước ngọt bang Virigina vào tháng 4 và 5, trong khi theo Wiebe (1981) ở những đầm lầy nước mặn lại vào cuối mùa hè
Chu trình sunfua
Chu trình sunfua rất quan trọng trong một số ĐNN để ôxy hoá các bon. Điều này chỉ đúng với ĐNN ven biển (bãi lầy mặn, khu rừng ngập mặn) là nơi rất giàu sunfua. Vi khuẩn khử sunfua cần cơ chất hữu cơ, nhìn chung có trọng lượng phân tử thấp, và như là nguồn năng lượng để chuyển sunfat thành sunfit. Quá trình men hoá được đề cập ở phần trên có thể cung cấp những hợp chất hữu cơ có trọng lượng phân tử thấp như lactat...
      Những phương trình khử sunfua đã cho thấy quá trình ôxy hoá chất hữu cơ xảy ra như sau:
     2CH3CHOHCOO-  +   SO42-  +   3H+ ==> 2CH3COO-  +   2CO2-  +  H2O  +  HS-
      lactat
     và CH3COO-   +   SO42- ==> 2CO2   +   2H2O   +   HS-
            axetat
Tầm quan trọng của con đường khử sunfua men hoá trong ôxy hoá các bon hữu cơ tới CO­2 trong ĐNN mặn đã được nhiều tác giả ở Anh đề cập đến.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, có tới 54% cacbon diôxyt được giải phóng từ đầm lầy là bằng con đường khử sunfua men hoá, và với sự hô hấp hiếu khí chiếm 45% phần còn lại và chỉ có tỷ lệ nhỏ CO2.

- Đất trồng lúa và phát thải khí nhà kính    
      Theo định nghĩa của công ước Ramsar toàn bộ ĐNN của Việt Nam chiếm một phần không nhỏ toàn lãnh thổ. Các vùng biển nông, ven biển, cửa sông, đầm phá, đồng bằng châu thổ sông, tất cả các sông suối ao hồ, đầm lầy tự nhiên hay nhân tạo (Trong điều kiện Việt Nam diện tích > 2ha), các vùng nuôi trồng thuỷ sản và canh tác lúa nước... đều thuộc loại hình ĐNN.
      Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa nên vừa có những thuận lợi lại vừa có những thách thức. Nhiệt độ nóng và ẩm làm cho tốc độ sinh trưởng phát triển của thực vật nhanh. Mưa nhiều gây cho đất bị xói mòn nghiêm trọng, nhất là đất dốc. So sánh giữa các loại hình sử dụng đất ở vùng nhiệt đới ẩm mưa nhiều người ta thấy có hai phương thức sử dụng đất bền vững là lúa nước rừng (hoặc loại hình tương tự rừng như các trang trại trồng cây lưu niên).
Người ta thường nói đến vai trò của hệ canh tác lúa nước trong đảm bảo an ninh lương thực cho xã hội nhưng còn ít đề cập đến tác động của nó đối với môi trường. Một số ý kiến dưới đây của cơ quan Phối hợp Chính sách Môi trường Nhật Bản làm rõ thêm một số tác động tích cực của hệ canh tác lúa nước đối với môi trường.
      *Hạn chế lũ lụt: Đê điều nhằm bảo vệ các cánh đồng lúa khỏi bị ngập lụt nhưng mặt khác cần thấy tác động ngược lại là chính chúng đã góp phần hạn chế lũ lụt. Các cánh đồng lúa được bao bọc bởi hệ thống bờ vùng bờ thửa do đó hạn chế lượng nước chảy tràn của các trận mưa tạo nên lũ lụt. Có thể xem vai trò các cánh đồng lúa như các hồ chứa nước và trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, chúng có giá trị tương đương như các hồ chứa nước nhất là các cánh đồng cao, ít bằng phẳng.
      *Duy trì tài nguyên nước: Các cánh đồng lúa luôn lưu giữ lớp nước trên bề mặt trải rộng trên diện tích lớn của lãnh thổ nhờ đó đã tác động tích cực đến chế độ nước ngầm. Nước ngầm được các cánh đồng lúa duy trì đã đóng góp vào sự ổn định lưu lượng các dòng sông về mùa cạn và duy trì mức nước ngầm cho các giếng nước sinh hoạt.
      *Làm trong sạch môi trường (đất và khí quyển) và tạo cảnh quan đẹp cho vùng quê. Các cánh đồng lúa và kể cả các đồng màu, các vườn cây đã tiêu thụ sản phẩm phân giải các rác thải góp phần giảm thiểu ô nhiễm đất. Đối với việc làm sạch bầu không khí ngoài chức năng điều tiết khí cacbônic (CO2), các cánh đồng lúa còn hấp thu các khí độc như khí sunfurơ (SO2) và khí nitơ ôxyt (NO2). Mỗi năm 1 ha lúa hấp thu được 4,86kgSO2 và 7,87kngO2. Nếu tính ra thể tích khí thì con số này sẽ làm chúng ta phải kinh ngạc.
Như chúng ta đã biết, ngoài cacbon diôxyt (CO2) thì mêtan (CH4) là hợp chất chứa cacbon phong phú trong khí quyển. Và hàng năm lượng CH4 trong khí quyển đã tăng lên khoảng 0,8 - 1,0%. Trong vòng 150 năm trở lại đây, lượng CH4 trong khí quyển đã tăng lên 2 lần. Mặc dù nồng độ của nó tương đối thấp nhưng CH4 có tầm quan trọng đặc biệt đối với môi trường. Nó là loại khí có liên quan tới khí hậu và đóng góp khẳng 20% vào sự nóng lên của khí hậu toàn cầu 0,70C trong vòng 100 năm qua. Tác động này càng tăng lên do sự ôxy hóa CH4 bởi các phản ứng của OH- tại những nồng độ NO­x cao dẫn tới việc hình thành ôzôn (O3) ở tầng đối lưu gây ảnh hưởng tới điều kiện khí hậu. Hơn nữa, nồng độ ôzôn của tầng đối lưu quyết định tiềm năng ôxy hóa của tầng này và do đó có ảnh hưởng tới sự phân bố và tính phong phú của các hợp phần môi trường khác.
      Nguồn gốc chủ yếu của CH4 là bề mặt Trái Đất với diện tích khoảng 150 triệu km2, thông qua qúa trình khoáng hóa chất hữu cơ bởi vi sinh vật trong điều kiện khử hoàn toàn. Quá trình này xảy ra trong ĐNN (đầm lầy, ruộng lúa, đầm phá, bãi rác) và trong quá trình lên men ở bộ máy tiêu hóa của các động vật và những loài động vật ăn cỏ khác.
* Phát thải khí CH4 ở ruộng lúa: Toàn thế giới hiện có khoảng 79 triệu ha, với 43% (34 triệu ha) ở Đông Á (Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Triều Tiên), 24 triệu ha ở Nam Á và 15 triệu ha ở Đông Nam Châu Á. Những nước có nhiều diện tích ĐNN trồng lúa là Trung Quốc (31 triệu ha), Ấn Độ (19 triệu ha); Inđônêsia (7 triệu ha) và Việt Nam (4 triệu ha) (Thomas Fairhurst, 2000).
      Thế nhưng sự phát thải CH4từ ruộng lúa là một trong những nguồn chủ yếu nhất của CH4 khí quyển. Khoảng 90% diện tích trồng lúa phân bố ở Châu Á. Sự ngập nước làm cho đất luôn ở trạng thái khử và sản sinh CH4
      Sự hình thành CH4 ở ruộng lúa và ảnh hưởng đến nồng độ, sự phân bố của CH4 trong khí quyển được Koyama nghiên cứu đầu tiên vào năm 1964. Dựa vào các thí nghiệm trong phòng và những mẫu đất lúa ở Nhật Bản, tác giả đã ước tính hàng năm sự phát thải CH4 từ những ruộng lúa vào khí quyển khoảng 190 triệu tấn trong những năm đầu thập kỷ 60. Đến giữa năm 1970, theo Ehhalt và Schmidt (1968) ước tính khoảng 280 triệu tấn/năm. Nghĩa là chiếm 50% tổng lượng CH4 được phát thải vào khí quyển
     Thí nghiệm đo trực tiếp ngoài ruộng lúa lượng CH4 phát thải được thực hiện đầu tiên vào năm 1980 tại California (Mỹ). Cicerone và Shetter (1981) cho biết, lượng phát thải CH4 vào khoảng 59 triệu tấn/năm. Sau đó, năm 1984 Seiler lặp lại thí nghiệm ở Tây Ban Nha và cũng đưa ra giá trị tương tự từ 35 - 59 triệu tấn/năm
      Holzapfer và Seiler (1986) đo lượng CH4 phát thải từ ruộng lúa ở Italia đã cho kết quả cao hơn, trung bình từ 12 ± 6mg/m2/giờ. Căn cứ vào diện tích đồng lúa và nhiệt độ đất ở các vùng, Schutz (1989) ước đoán lượng CH4 phát thải trên toàn cầu khoảng 100 ± 50 triệu tấn/năm. Thế nhưng sự ảnh hưởng của khí hậu, loại đất, giống cây trồng, quản lý đồng ruộng, loại và cách sử dụng phân bón đến nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Điều trở nên hấp dẫn là cường độ phát thải mạnh ở Italia và Trung Quốc phản ánh sự biến đổi ngày đêm và theo mùa, phụ thuộc vào điều kiện khí hậu và phương thức quản lý đồng ruộng. Ở Italia, sự phát thải CH4 đạt giá trị cực đại vào nửa buổi chiều khi nhiệt độ đất tới sâu 5cm đạt cực đại. Tương quan thuận giữa nhiệt độ đất và lượng CH4 phát thải (trong suốt thời kỳ sinh trưởng) đã được các thí nghiệm khẳng định
      Về giá trị trung bình theo mùa, tỷ lệ CH4 phát thải tăng gấp đôi, nếu nhiệt độ tăng lên 50C. Khác với ở Italia tỷ lệ CH4 phát thải ở ruộng lúa ở Trung Quốc có 2 điểm cực đại vào giai đoạn sinh trưởng sớm ở cây lúa, nghĩa là vào cuối tháng 4 và cuối tháng 6. Trong thời kỳ sinh trưởng, tỷ lệ phát thải CH4 cực đại xảy ra vào buổi trưa và trong đêm. Điều ngạc nhiên là tỷ lệ phát thải CH4 đạt giá trị cực đại vào ban đêm chỉ xảy ra ở thời gian muộn của thời kỳ sinh trưởng, nghĩa là đầu tháng 8 và đầu tháng 9.
          Việc sử dụng phân khoáng cũng có ảnh hưởng tới lượng CH4 phát thải. Cicerone và Shetter (1981) cho biết, sau khi bón amôni sunphat (NH4)SO4, lượng CH4 phát thải tăng lên gấp 5 lần. Nhiều thí nghiệm đại trà ở Italia cũng cho thấy, sự ảnh hưởng của phân bón đến sự phát thải CH4 cũng rất lớn, phụ thuộc vào loại, liều lượng và phương pháp sử dụng phân bón. Việc sử dụng phân hữu cơ như phân chuồng, phân rác càng làm tăng lượng CH4và tăng gấp 2 lần. Ngược lại, nếu bón sâu và phối hợp với phân urê (200kg N/ha) hoặc amôni sunphat thì lượng CH4 phát thải lại giảm đi một nửa.
Ở Việt Nam, diện tích trồng lúa khoảng 4,3 triệu ha, nhưng do tăng vụ nên tính ra khoảng trên 7 triệu ha.
          Trong chăn nuôi thải ra khoảng 50 - 65 triệu tấn phân chuồng, chủ yếu dùng để bón cho lúa, nên lượng phát thải CH4 trong các ruộng lúa khá lớn. Ngoài ra, diện tích ĐNN có rừng ngập mặn khoảng 156.000ha (Ngô Đình Quế, 2003), ĐNN có RNM phát thải khoảng 38 triệu tấn CH4 và CO2 (Nguyễn Văn Hiệu, 1997). Văn phòng ôzôn của VN đã thử kiểm kê khí nhà kính.
Như  vậy, CO2 và CH4 là 2 loại khí nhà kính chủ yếu ở Việt Nam hiện nay. Tính đến 1993, luợng phát thải CO2 ở Việt Nam vào khoảng 27 - 28 triệu tấn do tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch từ các hoạt động năng lượng và lượng phát thải CH4 vào khoảng 3,2 triệu tấn từ các ĐNN trồng lúa. Các hoạt động trong ngành lâm nghiệp phát thải khoảng 34,5 triệu tấn CO2 đó là chưa kể lượng phát thải CO2 do đốt sinh khối.
Chuyển hoá nitơ
 
Sự chuyển hoá nitơ trong đất bao gồm nhiều quá trình có sự tham gia của các vi sinh vất. NH4+ là dạng phổ biến của nitơ khoáng trong hầu hết các loại đất, mặc dù nhiều nitơ bị liên kết chặt ở các dạng hữu cơ, trong các đất có hàm lượng hữu cơ cao. Sự hiện diện của tầng ôxy hoá bên trên tầng khử hoặc kỵ khí là ngưỡng tới hạn đối với nhiều quá trình. Một trong số quá trình đó là sự khoáng hoá chất hữu cơ chứa nitơ.
Một số ion NH4+ có thể khuyếch tán vào tầng đất ôxy hoá và và được cây lúa hút thu, hoặc bị mất do bay hơi, hoặc bị nitrat hoá và rửa trôi trở lại tầng đất khử và ở đây có thể bị mất nitơ dạng phân tử (N2) do quá trình phản nitrat hoá.
      Khi phân bón nitơ amôni (urê, amôni sunfat) được bón bằng cách rải trên bề mặt ruộng lúa thì có thể mất nitơ ở dạng NH3 do bay hơi.Bay hơi NH3 phụ thuộc vào nhiệt độ, tốc độ gió, sự biến đổi pH ngày đêm do hoạt động sinh học trong nước ngập. Một cách luân phiên, những ion NH4+ khuếch tán vào tầng đất bị ôxy hoá kéo theo quá trình thuỷ phân và được cây lúa hút thu trực tiếp hoặc bị nitrat hoá, hoặc bị cố định trong hợp chất hữu cơ.
      Tiếp theo quá trình nitrat hoá NH4 - N trong tầng đất bị ôxy hoá, thì NO3 - N hoặc được rễ hút thu, hoặc rửa trôi xuống tầng đất khử và ở đây nó bị phản nitrat hoá và mất nitơ ở dạng khí N2O, NO và N2.
      Quá trình khoáng hoá nitơ là sự chuyển hoá sinh học các chất hữu cơ chứa nitơ đến nitơ amôni (NH4 - N). Quá trình này xảy ra trong cả hai điều kiện kỵ khí và hiếu khí và được gọi là quá trình amôn hoá theo các phản ứng:
     NH2- CO- NH2 + H2O ==> 2 NH3 + CO2 (1)
      (Urê)
     NH3 + H2O ==> NH4+ + OH-          (2)
      Khi NH4+ được tạo thành, nó có thể được hút thu bởi hệ rễ thực vật, hoặc vi sinh vật và cũng có thể lại biến đổi trong thành phần chất hữu cơ.
      Ở những điều kiện khử của ĐNN và tồn tại một građiên giữa nồng độ cao của NH4+ trong các tầng đất khử và nồng độ thấp trong tầng đất bị ôxy hoá sẽ gây nên sự khuếch tán của NH4+ lên tầng trên.
      NH4+ - N bị ôxy hoá bởi các vi khuẩn hoá dưỡng qua quá trình nitrat hoá theo hai giai đoạn:
      - Do vi khuẩn Nitrosomonas.sp.
2NH4+ + 3O2 ==> 2NO2- + 2H2O + 4H+ + năng lượng (3)
      - Do vi khuẩn Nitrobacter sp.
2NO2- + O2 ==> 2NO3- + năng lượng (4)
      NO3- rất linh động trong dung dịch đất và biến đổi theo nhiều cách khác nhau.
      Một quá trình khác chiếm ưu thế là sự khử NH4+ và phản nitrat hoá do hoạt động của vi khuẩn denitrificans trong điều kiện kỵ khí thành ôxyt nitơ khí và nitơ phân tử.
C6H12O6 + 4 NO3- ==> 6CO2 + H2O + 2 N2 ­ (5)
      Quá trình khử nitrat hoá là một quá trình quan trọng làm mất nitơ khỏi đất.
      Quá trình cố định nitơ là quá trình chuyển hoá N2 dạng khí thành nitơ hữu cơ qua hoạt động của các vi sinh vật nhất định với sự có mặt của enzyme nitrogenaza. Quá trình này có thể là nguồn nitơ đáng kể cho một số loại đất.
      Quá trình cố định N2 diễn ra do những vi khuẩn hiếu khí và có ưu thế ở nồng độ ôxy thấp vì ở nồng độ ôxy cao thì hoạt tính của enzyme nitrogenaza bị kìm hãm (Ethrington, 1983).
      Cố định N2 có thể xảy ra do vi khuẩn sống tự do và vi khuẩn cộng sinh giống Rhizobium hoặc bởi xạ khuẩn Actinomycete. Whitney (1981) cho biết, cố định bởi vi sinh vật (VSV) là con đường quan trọng nhất trong những đất đầm lầy mặn. Một mặt khác, cả hai loại vi khuẩn (VK) cố định N2 và VK nitrat hoá đều không có hoạt tính ở điều kiện pH thấp. Tảo xanh lục không cố định N2 cộng sinh có nhiều ở ĐNN cũng là nguồn đóng góp đáng kể niơ trong các ĐNN.
      Ở ruộng lúa có 3 quá trình chính làm biến đổi những điều kiện đất gần rễ lúa trong điều kiện kỵ khí.
      - Giải phóng O2 từ rễ gây nên sự ôxy hoá Fe2+ và tạo môi trường axit.
4 Fe2+ + O2 + 10H2O ==> 4Fe(OH)3 + 8H+
      - Ion H+ từ rễ lúa vào cân bằng hút thu cation - anion (nghĩa là duy trì trung hoà điện tích qua giao diện đất - hệ rễ) với nitơ được cây hút thu ở dạng cation NH4+.
      Do áp suất riêng phần của CO2 cao xảy ra trong điều kiện kỵ khí, rễ lúa có thể hoặc giải phóng ra CO2 hoặc hút thu nó từ đất và gây nên sự thay đổi giá trị pH của đất.

Chất hữu cơ trong đất


 Quá trình phân gii cht hu cơ và hình thành cht mùn đất          
      Các chất hữu cơ trong đất có quá trình biến đổi phức tạp với sự tham gia trực tiếp của các sinh vật đất và chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đất. Một phần trong chúng bị khoáng hoá hoàn toàn tạo thành các chất khoáng đơn giản, một phần được các sinh vật đất sử dụng để tổng hợp protein, lipit, đường và các hợp chất khác xây dựng cơ thể chúng, một phần sẽ trải qua quá trình biến đổi phức tạp và tái tổng hợp thành các hợp chất cao phân tử được gọi là chất mùn.
      Nói một cách khác, các chất hữu cơ khi đi vào đất sẽ chịu tác động của 2 quá trình xảy ra đồng thời là quá trình khoáng hoá và quá trình mùn hoá. Tuỳ theo điều kiện đất đai và hoạt động của sinh vật đất mà một trong hai quá trình trên có thể chiếm ưu thế ở trong đất.
      Các hợp chất mùn sau khi được hình thành cũng chịu tác động phân giải chậm để tạo thành các chất khoáng (Hình).
 Quá trình khoáng hoá và tổng hợp chất mùn đất

2.      Quá trình khoáng hoá chất hữu cơ trong đất (vô cơ hoá)

Khoáng hoá là quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ thành các chất khoáng đơn giản như CO2, H2O, NO3-, NH4+, Ca2+, Mg2+, K+...

      Đây là quá trình biến đổi phức tạp và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trước hết các chất hữu cơ phức tạp bị phân giải thành các chất hữu cơ đơn giản hơn gọi là các sản phẩm trung gian. Ví dụ như từ các phân tử protein bị phân huỷ tạo thành các mạch peptit, sau đó là các axit amin; các hyđratcacbon bị phân huỷ tạo thành các hợp chất đường, sau đó các hợp chất trung gian này tiếp tục bị phân huỷ tạo thành các sản phẩm cuối cùng là các chất khoáng.
      Tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường và hoạt động của các vi sinh vật đất mà quá trình khoáng hoá chất hữu cơ có thể diễn ra theo hai con đường khác nhau là thối mục và thối rữa.
      - Thối mục là quá trình hiếu khí diễn ra trong điều kiện có đầy đủ oxy. Sản phẩm  cuối cùng của quá trình này chủ yếu là các chất ở dạng oxy hoá như CO2, H2O, NO3-, PO43-, SO42-. Đây là quá trình toả nhiệt và kết quả làm tăng nhiệt độ của đất.
      - Thối rữa là quá trình kỵ khí diễn ra trong điều kiện thiếu oxy do ngập nước hoặc do các vi sinh vật hiếu khí phát triển nhanh đã sử dụng hết oxy trong đất. Sản phẩm cuối cùng của quá trình thối rữa bên cạnh các chất ở dạng oxy hoá như CO2, H2O còn có một lượng lớn các chất ở dạng khử như CH4, H2S, PH3, NH3...
      Tốc độ khoáng hoá các chất hữu cơ trong đất phụ thuộc vào bản chất chất hữu cơ, điều kiện môi trường và hoạt động của sinh vật đất. Nhìn chung các hợp chất đường và tinh bột dễ bị khoáng hoá nhất; tiếp đó là các chât protein, hemixenlulô, xenlulô; các hợp chất linhin, nhựa sáp khó bị phân huỷ hơn.
      Các điều kiện môi trường như độ ẩm, nhiệt độ, chế độ không khí, thành phần và tính chất dung dịch đất cũng có ảnh hưởng mạnh đến tốc độ của quá trình khoáng hoá. Thông thường ở độ ẩm đất 70%, pH 6,5 – 7,5, nhiệt độ 25 – 30oC và có đủ không khí là thích hợp cho hoạt động của vi sinh vật đất và do đó quá trình khoáng hoá cũng xảy ra mạnh. Trong điều kiện như vậy chất hữu cơ bị phân giải nhanh chóng và mùn ít được tích luỹ. Chính vì vậy mà quá trình phân huỷ chất hữu cơ ở các đất có thầnh phần cơ giới nhẹ (như đất cát) cũng diễn ra nhanh hơn ở các đất có thành phần cơ giới nặng (đất thịt nặng và đất sét).
3.      Quá trình mùn hoá


Con đường tích luỹ chất hữu cơ sau 1 năm bón vào đất (theo Brady 1990)

Mùn hoá là quá trình phân giải tái tổng hợp các chất hữu cơ tạo thành chất mùn với sự tham gia tích cực của các sinh vật đất.
      Mùn là hợp chất hữu cơ cao phân tử phức tạp, chúng là sản phẩm của quá trình mùn hoá các chất hữu cơ thông thường. Người ta cho rằng, mọi thành phần hữu cơ trong đất (protein, linhin, lipit, axít amin, hydratcacbon....) đều có thể là vật chất tham gia hình thành chất mùn đất. Tuy nhiên về bản chất của quá trình hình thành chất mùn vẫn còn có ý kiến khác nhau.
      Những người theo quan điểm hoá học cho rằng quá trình hình thành chất mùn chỉ đơn thuần là các phản ứng hoá học. Đại diện cho quan điểm  này như Vacsman, Scheffer. Theo Vacsman (1936) thì hạt nhân của chất mùn được hình thành do linhin kết hợp với các chất khoáng kiềm  trong đất, sau đó các phản ứng oxy hoá sẽ gắn kết thêm các axít hữu cơ khác để hình thành chất mùn. Ngoài ra trong quá trình phân giải các xác hữu cơ, một loại sản phẩm màu đen vô định hình, có thành phần phức tạp được hình thành gọi là chất mùn.
      Schefer cho rằng sự hình thành axít humic có thể bằng con đường sinh hoá và cũng có thể bằng con đường hoá học đơn thuần. Bằng con đường hoá học, các axít humic được tạo thành từ các phenol, quinol và các aminoaxit thông qua các phản ứng oxy hoá và trùng hợp.
      Ngày nay, nhiều bằng chứng cho thấy sự hình thành chất mùn có sự tham gia tích cực của các quá trình sinh hoá, đặc biệt là các vi sinh vật đất. Sự hình thành chất mùn bằng con đường hoá học đơn thuần là rất hạn chế, nó chỉ có thể gặp ở những nơi có điều kiện bất lợi cho các quá trình sinh học như đất quá chua hoặc quá nhiều độc tố. Chúng ức chế các quá trình sinh học xảy ra.
      Quan điểm sinh hoá về sự hình thành chất mùn cho rằng chất mùn được hình thành từ sản phẩm phân giải và tái tổng hợp các chất hữu cơ thông thường với sự tham gia tích cực của các phản ứng sinh hoá, đặc biệt là các men do các vi sinh vật tiết ra.
4.       Quá trình hình thành mùn theo quan đim hin đại
      Chiurin là người có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu về mùn đất. Ông  cho rằng đặc điểm cơ bản của sự mùn hoá là những phản ứng sinh hoá oxy hoá dần dần những hợp chất cao phân tử có mạch vòng khác nhau, trong đó protein, linhin đóng vai trò quan trọng. Những phản ứng oxy này xảy ra khi phân giải các tàn tích thực vật dưới ảnh hưởng của oxy không khí, men oxydaza và các chất xúc tác vô cơ khác.
      Những hợp chất cao phân tử trên liên kết lại với nhau rồi trùng hợp thành các chất mùn. Trong quá trình sống của mình, vi sinh vật đất sử dụng các sản phẩm phân giải hữu cơ, những sản phẩm trao đổi chất và tổng hợp các hợp chất amin, hợp chất thơm cũng tham gia cấu tạo nên chất mùn.
      Hình 2  mô tả các con đường hình thành chất mùn từ các xác hữu cơ thông thường ở trong đất (Theo Stevenson, 1982).
 Các con đưng hình thành chất mùn
      Từ sơ đồ trên cho thấy nguồn gốc các chất tham gia cấu tạo nên chất mùn có thể bao gồm tất cả các chất hữu cơ là sản phẩm phân giải trung gian, sản phẩm tái tổng hợp của các cơ thể sinh vật. Chúng có thể là các chất đường, polyphenol, quinol, các chất amin, các hợp chất linhin,... Trong đó các hợp chất chứa vòng thơm như phenol, polyphenol, quinol, polyquinol, các chất linhin có vai trò quan trọng.
      Xét một cách tổng quát, quá trình hình thành chất mùn có thể phân chia thành 3 bước cơ bản như sau:
      -Từ các xác hữu cơ mà chủ yếu là xác thực vật bị phân huỷ với sự tham gia tích cực của vi sinh vật đất để hình thành các hợp chất hữu cơ là các sản phẩm trung gian như đường, polyphenol, quinol, các chất amin,...
      - Tác động của các hợp chất trung gian, hoặc bị phân huỷ tiếp tục hoặc liên kết với nhau để hình thành các chất phức tạp hơn.
      - Trùng hợp và liên kết các hợp chất trung gian trên tạo thành các chất mùn.
      Theo Stevenson thì có 4 con đường hình thành chất mùn khác nhau: Sự liên kết trùng ngưng giữa các hợp chất đường với các chất amin (con đường 1); giữa các polyphenol là sản phẩm phân huỷ các xác hữu cơ với các chất amin (con đường 2); giữa các chất là sản phẩm phân huỷ linhin với các hợp chất amin (con đường 3); và các chất linhin biến đổi với các chất amin (con đường 4). Các con đường này đều có sự tham gia của các quá trình sinh học.
      Theo Selman Waksman, chất mùn được hình thành chủ yếu từ các hợp chất linhin (con đường 4) nên còn được gọi là lý thuyết linhin hình thành chất mùn. Theo thuyết này, trước hết các hợp chất linhin bị biến đổi mất dần các nhóm metoxyl (OCH3). Với sự có mặt của các orthohydroxylphenol và sự oxy hoá các hợp chất béo để hình thành các nhóm cacboxyl (COOH). Các hợp chất linhin này bị biến đổi dần để hình thành các axit mùn. Sự hình thành chất mùn theo con đường 1 là không đáng kể.
      Một số tác giả khác lại cho rằng chất mùn đất được hình thành theo con đường 2 và 3 là chính và gọi là học thuyết polyphenol hình thành chất mùn. Theo thuyết này, linhin cũng được xem là nguồn gốc quan trọng trước tiên để hình thành chất mùn. Dưới tác động của các enzym sinh học, linhin bị phân huỷ thành các aldehyt phenol và các axít hữu cơ. Sau đó chúng chuyển thành các hợp chất quinol rồi trùng hợp lại để hình thành chất mùn.
      Ngày nay người ta thừa nhận cả 4 con đường hình thành chất mùn đều diễn ra đồng thời. Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện và tính chất cụ thể của từng loại đất mà một con đường nào đó có thể chiếm ưu thế hơn. Thông thường chất mùn hình thành từ các chất linhin biến đổi (con đường 4) chiếm ưu thế ở các đất thoát nước kém; trong khi hình thành từ polyphenol (con đường 2 và3) lại có ưu thế ở các đất rừng.