DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Chương trình Đại sứ môi trường Bayer 2011

Hướng dẫn tham gia dự thi
Nếu bạn quan tâm đến vấn đề môi trường; nếu bạn có ý tưởng và nhiệt huyết muốn hành động giúp cải thiện chất lượng môi trường sống trong cộng đồng của bạn, đừng bỏ lỡ cơ hội trở thành Đại sứ môi trường Bayer 2011!
Hình thức tham gia
  • Các bạn trẻ quan tâm đến chương trình có thể gởi bài dự thi (không quá 2,000 chữ) đến cho Ban Tổ chức theo địa chỉ được đề cập dưới đây. Bài dự thi phải là một sáng kiến hay giải pháp mới để cải thiện một hiện trạng môi trường bị xâm hại tại cộng đồng bạn đang sinh sống.
  • Các bạn trẻ đăng ký dự thi gởi bài dự thi theo mẫu quy định của Ban Tổ chức. Mẫu có thể tải xuống từ www.bayeryoungenvoy.com (mục How to apply, chọn Vietnam) và phải được điền đầy đủ các thông tin quy định. Các bài dự thi không được trình bày theo mẫu hoặc không điền đầy đủ các thông tin sẽ bị xem là bài dự thi không hợp lệ.
  • Sáng kiến hay giải pháp đăng ký dự thi có thể phát triển trên nền một ý tưởng đã được thực hiện. Tuy nhiên, sáng kiến hay giải pháp kiến nghị phải mới so với các giải pháp đã được thực hiện.
  • Dự án dự thi phải được đánh máy vi tính, dùng kiểu chữ Arial, cỡ 12 và cách dòng đôi (double line spacing) và nộp cho Ban Tổ chức trước ngày 15/04/2011
Điều kiện tham gia
Người dự thi phải đáp ứng các điều kiện sau:
 
  • Có quốc tịch Việt Nam, tuổi từ 18 đến 24 (tính đến 31/12/2011)
  • Có quan tâm hoặc tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường
  • Có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh (căn bản)
  • Có khả năng làm việc theo nhóm Sẵn sàng tham gia chương trình du khảo sinh thái ở nước ngoài
Hình thức chấm thi và tuyển chọn
  • Dựa trên nội dung dự án tham gia dự thi, Ban Tổ chức sẽ chọn ra những thí sinh có bài dự thi xuất sắc nhất để vào vòng thuyết trình (dự kiến ngày 22/04/2011). Tiêu chí đánh giá: chất lượng sáng kiến hoặc giải pháp đề nghị, tính khả thi của kế hoạch thực hiện, khả năng quản lý dự án, kiến thức chuyên môn, v.v..
  • Tại vòng thuyết trình, các thí sinh được chọn sẽ được mời tham gia trao đổi và trình bày với Ban Tổ chức về bài dự thi của mình. Căn cứ vào chất lượng giải pháp được trình bày Ban Tổ chức sẽ chọn ra các thí sinh xuất sắc nhất để triển khai dự án dự thi và tham gia hội trại sinh thái (dự kiến vào tháng 8/2011, tại một khu công viên quốc gia).
  • Các thí sinh được chọn sẽ được phong danh Đại sứ môi trường Bayer 2011 và phải triển khai dự án của mình ngay sau khi được phong danh và báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Tổ chức tại hội trại sinh thái. Nội dung báo cáo sẽ bao gồm kết quả thực hiện dự án, hiệu quả và ảnh hưởng xã hội của dự án.

    Lưu ý: Thí sinh được chọn sẽ phải tự tìm nguồn tài trợ (nhân lực, vật lực, chuyên môn, v.v..) cho việc thực hiện dự án của mình.
  • Căn cứ trên nội dung báo cáo và kết quả hoạt động tại hội trại sinh thái, Ban Tổ chức sẽ chọn ra 2 thí sinh xuất sắc nhất đại diện tham gia vào đoàn đại biểu quốc tế tham dự chương trình du khảo sinh thái kéo 1 tuần tại Đức.

Ghi chú: Mọi chi phí liên quan đến việc tham gia hội trại sinh thái (tại Việt Nam, dành cho các Đại sứ môi trường Bayer 2011) và chuyến du khảo sinh thái (tại Đức, dành cho 2 Đại sứ môi trường Bayer 2011 xuất sắc nhất) sẽ do Ban Tổ chức tài trợ hoàn toàn.
Quy định khác
  • Thí sinh được chọn vào vòng thuyết trình sẽ được bồi dưỡng một khóa huấn luyện về kỹ năng thuyết trình chuyên nghiệp để hỗ trợ cho phần thuyết trình của mình trước Ban Giám khảo.
  • Thí sinh được phong danh Đại sứ môi trường Bayer 2011 sẽ được bồi dưỡng khóa huấn luyện chuyên nghiệp về kỹ năng quản lý dự án để hỗ trợ cho phần triển khai dự án của mình.
  • Ban Tổ chức có quyền sử dụng các thông tin liên quan đến các dự án tham gia dự thi của từng thí sinh (kể cả các thiết kế, tài liệu đính kèm) trên các kênh truyền thông của công ty (kể cả các kênh truyền thông nội bộ và truyền thông ra bên ngoài) mà không cần phải xin phép thí sinh sở hữu dự án.
  • Thí sinh tham gia dự thi đương nhiên được xem là đã đọc và hiểu rõ các nội dung, quy định của cuộc thi.
  • Quyết định của Ban Tổ chức đối với bất kỳ vấn đế nào liên quan đến chương trình (bao gồm cả tính hợp pháp của các đối tượng tham gia dự thi, hình thức, cách thức thực hiện cuộc thi) là quyết định cuối cùng có tính chất bắt buộc thực hiện.
  • Để biết thêm thông tin chi tiết về chương trình Đại sứ môi trường Bayer 2011, vui lòng tham khảo “Các câu hỏi thường gặp” hoặc email đến byeevietnam@6fce46ff3b0b42ee8de05fb9658f5f42bayer-ag.de.
Địa chỉ gởi bài dự thi
Bộ phận truyền thông
Công ty Bayer Vietnam Limited
Tòa nhà CentrePoint, 106 Nguyễn Văn Trỗi
Quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh
Ngoài bì thư xin ghi rõ: Tham gia dự thi chương trình Đại sứ môi trường Bayer 2011 (BYEE 2011).
 
Ngoài ra, bạn cũng có thể gởi bài dự thi qua email đến byeevietnam@e7ecdfb30eb041cb9b683d2daed16ceabayer-ag.de.
Thông tin thêm
Chương trình Đại sứ môi trường Bayer hoặc Chương trình BYEE (viết tắt từ tên tiếng Anh Bayer Young Environmental Envoy), là chương trình trách nhiệm xã hội do tập đoàn Bayer (Đức) tổ chức hàng năm với sự hợp tác của Ủy ban Môi trường thuộc Liên Hiệp Quốc (UNEP) dành cho các bạn trẻ từ 18 đến 24 tuổi tại các quốc gia đang phát triển. Mục tiêu của chương trình hướng đến việc tổ chức một sân chơi cho giới trẻ nhằm nâng cao kiến thức và ý thức bảo vệ môi trường cũng như việc triển khai các chương trình hành động để cải thiện tình trạng môi trường tại cộng đồng của mình. Tại Việt Nam, Chương trình Đại sứ môi trường Bayer được triển khai lần đầu tiên vào năm 2006, với sự hợp tác của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Trung tâm Phát triển Hợp tác Quốc tế Thanh niên (thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) và Chi cục Bảo vệ Môi trường Tp. Hồ Chí Minh (thuộc Sở Tài nguyên Môi trường Tp. Hồ Chí Minh). Từ đó đến nay, chương trình được liên tục duy trì và thu hút đông đảo sự quan tâm tham gia của các bạn trẻ trên toàn quốc.
nguồn: http://www.bayeryoungenvoy.com/en/Vietnam.aspx

Định vị vệ tinh và dẫn đường





 
Trong tình hình giá nhiên liệu ngày một tăng như hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải như các hãng taxi, các hãng vận tải…. luôn phải đối mặt với những thách thức về chi phí đầu vào tăng cao. Việc giảm thiểu tiêu tốn nhiên liệu không những giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn giúp bảo vệ môi trường cho cộng đồng.
Với giải pháp Vida_Tracking của công ty VidaGIS cho phép các công ty vận tải thay đổi phương pháp quản lý và kiểm soát hành trình cũng như lịch trình của hệ thống xe vận tải trong công ty mình một cách tối ưu.
Bằng sự kết hợp giữa công nghệ GIS, GPS và GPRS là sự kết hợp của bản đồ số GIS và công nghệ định vị GPS với kỹ thuật truyền dẫn số liệu qua mạng điện thoại di động bằng GSM/SMS/GPRS, tất cả thông tin của xe được thể hiện trên hệ thống theo dõi, giúp cho việc giám sát chuyển động, cũng như hành vi của từng xe trong thời gian thực. Bằng công nghệ này các hãng vận tải có thể tối ưu hoá hành trình thực tế của từng xe, tối ưu hoá toàn bộ chi phí trên hành trình của một xe.
Giải pháp Vida_Tracking là một hệ thống toàn diện giúp cho người quản lý cập nhật và theo dõi thông tin chi tiết của từng thiết bị vân tải theo thời gian thực và theo những yêu cầu cụ thể của từng công ty, từng hãng vận tải nhằm hạn chế chi phí tối ưu. Kết quả của phần mềm có thể tuỳ biến rất đa dạng như: hình ảnh chuyển động trong thời gian thực của từng xe, hệ thống thông tin quản lý từng xe, hệ thống xây dựng lịch trình cũng như tối ưu hoá hành trình trên nền dữ liệu GIS.
Các chuyên gia của VidaGIS có thể tuỳ biến dữ liệu kết xuất theo yêu cầu cụ thể của từng khách hàng khác nhau.
Các thành phần của giải pháp Vida_Tracking:
  • Hệ thống phần mềm quan trắc trên máy chủ
  • Chuyển đổi dữ liệu bản đồ vào hệ thống dữ liệu GIS
  • Thiết bị thu tín hiệu chuyển về từ hệ thống quan trắc trên xe
  • Thiết bị GPS quan trắc và thiết bị truyền thông tin quan mạng GSM, CDMA trên từng xe

 
 
Các module của phần mềm Vida_Soft:
  • Theo dõi hành trình của xe (Vehicle_tracking)
  • Lên lịch trình và tối ưu hoá quãng đường đi của từng xe
  • Thông báo vị trí khách hàng tới xe gần nhất
  • Kết xuất các dữ liệu báo cáo tổng hợp
  • Cập nhật dữ liệu hệ thống bản đồ nền
  • Kết nối hệ thống với Google Earth
Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ Vida_Tracking
  • Theo dõi quản lý lộ trình các phương tiện giao thông
  • Quản lý hiệu quả đoàn xe với số lượng không giới hạn họat động trên toàn lãnh thổ Việt nam
  • Mở rộng các ứng dụng quản lý xe và tài xế: thời gian đậu nổ máy và tắt máy, tốc độ ….
  • Tiết kiệm được chi phí khi sử dụng công nghệ GPRS với giải pháp theo dõi thời gian thực.
  • Chống trộm hiệu quả
  • Có thể mở rộng kết hợp cho các ứng dụng: Nhiệt độ, mức xăng, máy phát...

Xây dựng hệ thống GIS cho mạng internet phục vụ thiết bị cầm tay thông minh

Sự phát triển phong phú của các thiết bị đầu cuối cầm tay với cấu hình và khả năng xử lý ngày càng mạnh đã thúc đẩy hình thành rất nhiều dịch vụ cho chúng trên nền những thiết bị này. Theo đó, yêu cầu về GIS cho các thiết bị này cũng xuất hiện ngày càng nhiều. Bài viết này giới thiệu hệ thống phần mềm cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên công nghệ GIS cho mạng Internet phục vụ thiết bị cầm tay thông minh (PDA, điện thoại có chức năng PDA, POCKET PC). Hệ thống được xây dựng trên cơ sở mô hình chuẩn và tuân thủ các thỏa thuận của OGC, W3C nhằm đảm bảo chia sẻ dịch vụ, dữ liệu GIS với các nhà cung cấp dữ liệu, dịch vụ trên toàn thế giới.
Sự phát triển phong phú của các thiết bị đầu cuối cầm tay với cấu hình và khả năng xử lý ngày càng mạnh đã thúc đẩy hình thành rất nhiều dịch vụ cho chúng trên nền những thiết bị này.Theo đó, yêu cầu về GIS cho các thiết bị này cũng xuất hiện ngày càng nhiều. Bài viết này giới thiệu hệ thống phần mềm cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng dựa trên công nghệ GIS cho mạng Internet phục vụ thiết bị cầm tay thông minh (PDA, điện thoại có chức năng PDA, POCKET PC)Hệ thống được xây dựng trên cơ sở mô hình chuẩn và tuân thủ các thỏa thuận của OGC, W3C nhằm đảm bảo chia sẻ dịch vụ, dữ liệu GIS với các nhà cung cấp dữ liệu, dịch vụ trên toàn thế giới.

1. GIỚI THIỆU

Cùng với sự phổ biến của Internet và Web, các ứng dụng được chuyển thành dạng Web ngày càng nhiều và GIS không phải là một ngoại lệ. Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống GIS trên Web gặp khá nhiều khó khăn:
- Dữ liệu GIS khá lớn nên không đáp ứng được tính thời gian thực khi tốc độ đường truyền không đủ lớn.
- Thao tác với GIS yêu cầu nhiều tính năng như: kéo, phóng to, thu nhỏ, lấy thông tin,…dẫn đến yêu cầu các phần mềm để hiển thị dữ liệu GIS phải có nhiều tính năng hơn trong môi trường WEB.
- Dữ liệu GIS từ trước đến nay vẫn được lưu trong các hệ thống phần mềm khác nhau như ESRI, Intergraph, Mapinfo,… và không thể thao tác trực tiếp dữ liệu của nhau nên giảm đi rất nhiều tính linh động trên Web.
Trước đây, để khắc phục các nhược điểm trên người ta chuyển toàn bộ dữ liệu GIS thành dạng ảnh (JPG, GIF,…) trước khi truyền về máy khách. Tuy nhiên dạng ảnh vẫn có nhiều nhược điểm vì thông tin thuộc tính của các đối tượng không lưu trên ảnh nên muốn có thông tin máy khách lại phải gửi yêu cầu tới máy chủ. Mặt khác với sự phát triển phong phú của các thiết bị cầm tay và các dịch vụ cho chúng, yêu cầu về GIS cho các thiết bị này xuất hiện ngày càng nhiều và việc đưa ảnh về máy khách gặp khó khăn khi tài nguyên của các thiết bị này hạn chế, kích thước hiển thị nhỏ hơn rất nhiều so với PC dẫn đến khi ảnh hiển thị được trên PC thì quá lớn đối với thiết bị cầm tay và ngược lại.
Với các nhu cầu và hạn chế như trên, các tổ chức về Web, GIS, cơ sở dữ liệu (CSDL),… đã hợp tác xây dựng những thỏa thuận mới cho GIS trên Web:
- OGC (Open Gis Consortium) [1] đã đưa ra mô hình hệ thống cung cấp dịch vụ chuẩn để cung cấp dịch vụ GIS trên WEB, ngôn ngữ để truy vấn dữ liệu GIS trong các hệ thống CSDL,…
- W3C (World Wide Web Consortium) [2] đưa ra XML để mở rộng khả năng định dạng trên Web, các định dạng để hiển thị dữ liệu đồ họa trên Web,…
Mục tiêu của bài viết là giới thiệu hệ thống cung cấp dịch vụ GIS trên môi trường Web cho PC và các thiết bị di động, cầm tay như PDA, Smartphone,… Hệ thống được xây dựng trên cơ sở mô hình chuẩn và tuân thủ các thỏa thuận của OGC, W3C nhằm đảm bảo chia sẻ dịch vụ, dữ liệu GIS với các nhà cung cấp dữ liệu, dịch vụ trên toàn thế giới.
2. KHẢO SÁT CÁC WEBSITE CUNG CẤP DỊCH VỤ WEB MAP CHO THIẾT BỊ CẦM TAY

2.1. Trên thế giới

- GIMODIG [3]: Dự án "Geospatial Info-Mobility Service by Real-Time Data-Integration and Generalisation" (GiMoDig) được đưa ra từ hiệp hội của châu Âu theo chương trình  Information Society Technologies (IST). Đối tượng của dự án là phát triển các phương pháp phân phối dữ liệu địa lý cho các đầu cuối di động bằng việc khởi tạo và tích hợp dữ liệu thời gian thực.
- GEMURE [4]: Dự án GEMURE (Generalization and Multiple Representation for on-Demand Map Production and Delivery) tại Canada bắt đầu từ 2002, phục vụ cho việc phân phối thông tin bản đồ theo yêu cầu dựa trên tổng hợp bản đồ và đa hiển thị (multiple representation). Hệ thống thông minh cho du lịch trên cơ sở tổng hợp bản đồ và đa hiển thị gọi là SIGERT (Intelligent System for Tourism based on Cartographic Generalization and Multiple Representation) là một phần trong dự án trên.
- CitiWiz [5] cung cấp các dịch vụ bản đồ, tìm vị trí gần nhất cùng với Telenor dựa trên PocketIT đã có mặt trong hầu hết các thành phố của Scandinavia. Pocket IT cung cấp dịch vụ định vị mASP cho trang web này.
- Dịch vụ Maporama cho PDA [6] cung cấp công cụ lựa chọn bản đồ hoàn chỉnh cho người dùng.
- Palmtop Software BV [7] cung cấp cung cấp dịch vụ TomTom Navigator, Maps-on-line, Citymaps và Routeplanner. Các bản đồ của dịch vụ TomTom Navigator do TeleAtlas cung cấp. Dịch vụ citymaps bao gồm dữ liệu bản đồ của hơn 100000 thành phố và làng mạc ở châu Âu.
- Genimap [8] cung cấp các bản đồ có thể tải được cho bộ nhớ thiết bị đầu cuối di động Benefon Esc qua Internet. Dịch vụ bao gồm các bản đồ về địa hình, đường phố, thành phố và các biểu đồ hàng hải thuộc châu Âu.
- AcrPad: cung cấp khả năng truy nhập đến dữ liệu GIS qua giao tiếp không dây WiFi.
2.1. Việt Nam
Có một vài nhà cung cấp dịch vụ GIS-WEB công cộng trên Internet, tuy nhiên thông dụng nhất và phổ biến nhất là sản phẩm của công ty Dolsoft [9] với một số dịch vụ như: tìm đường, khách sạn, nhà hàng, bến xe buýt,… Nhưng hiện nay sản phẩm này chưa cung cấp dịch vụ cho thiết bị cầm tay.

3. THIẾT KẾ HỆ THỐNG

3.1. Mô hình hệ thống

Mô hình tổng thể của hệ thống sẽ tuân thủ theo mô hình OpenGIS Web Services Framework của OGC. Một trong những mục đích chính của OGC Web Services là mô tả một mô hình kiến trúc chung cho các dịch vụ không gian địa lý dựa trên Web. OGC chỉ ra phạm vi, mục đích, hoạt động của một hệ thống và các thành phần chức năng chung cho các dịch vụ này. Đồng thời cũng mở rộng cho một số loại dịch vụ cụ thể khác. Mô hình kiến trúc này cũng chỉ ra các yêu cầu thiết kế để cho phép sự liên thông giữa các hệ thống Web Service khác nhau cùng sử dụng các tiêu chuẩn giao tiếp OpenGIS Web Services.
OpenGIS Web Services Framework là nền tảng cho các hệ thống định vị và hệ thống xử lý dữ liệu địa lý thế hệ kế tiếp. OpenGIS Services Framework (Hình 1) cung cấp tập giao diện chung giữa các phần chức năng với khả năng liên tác cao.
Các yếu tố chính của kiến trúc OpenGIS Web Service như sau:
- Client Services – các thành phần phía client (client-side) của ứng dụng client tương tác với người dùng và các thành phần phía server (server-side) tương tác với Server-side Client Applications, Application Servers và Data Servers. (Client Services là các dịch vụ có kiểu Geospatial Human Interaction Services như được định nghĩa trong OGC Abstract Specification Topic 12).
- Registry Services – cung cấp một kỹ thuật chung để phân loại, đăng ký, mô tả, tìm kiếm, bảo dưỡng và truy cập thông tin về tài nguyên mạng (dữ liệu và dịch vụ). Với OpenGIS Web Service 1.2, Registry Services bao gồm cả Web Registry Service (WRS).
- Processing-Workflow Services – nền tảng của dịch vụ application-building-block mà hoạt động trên dữ liệu địa lý và metadata, hỗ trợ các dịch vụ giá trị gia tăng. Với OpenGIS Web Service 1.2, Processing-Workflow Services bao gồm cả Sensor Planning Service (SPS) và Web Notification Service (WNS).
- Portrayal Services – Portrayal Services cung cấp khả năng chuyên biệt hỗ trợ cho trình diễn thông tin địa lý. Portrayal Services là thành phần định sẵn một hoặc nhiều đầu vào và thủ tục biểu diễn đầu ra như biểu diễn bản đồ địa lý, phối cảnh địa hình, chú giải hình ảnh, xem các thay đổi động theo tượng trưng hoặc thời gian,…Với OpenGIS Web Service 1.2, Portrayal Services bao gồm Web Map Service (WMS), Coverage Portrayal Service (CPS) và Style Management Service (SMS).
Data Services – nền tảng của dịch vụ building blocks mà đáp ứng dữ liệu địa lý chuyên dụng. Với OpenGIS Web Service 1.2, Data Services bao gồm Web Object Service (WOS), Web Feature Service (WFS), Sensor Collection Service (SCS), Image Archive Service (IAS) và Web Coverage Service (WCS).
3.2. Truy vấn và hiển thị dữ liệu GIS

Truy vấn dữ liệu GIS trong CSDL
Nếu cần phân phối dữ liệu địa hình qua Web, ta có thể sử dụng một vài GIS Engine trên máy chủ để sinh ra ảnh bản đồ GIF và JPG, sau đó gắn vào trong trang HTML và gửi tới trình duyệt người dùng. Cách tiếp cận này là rõ ràng và hoạt động tốt khi người dùng chỉ đơn giản muốn hiển thị ảnh bản đồ với yêu cầu thấp, khả năng tương tác kém và không thể chia sẻ dữ liệu nhất là trong môi trường Internet. Vì vậy cần một tiêu chuẩn chung để có thể chia sẻ dữ liệu đồng thời tăng khả năng tương tác và tốc độ cho người sử dụng.
Vấn đề này đã được OGC giải quyết với GML (chi tiết xin tham khảo [1]) và chúng tôi cũng chọn GML để phục vụ cho hệ thống GIS WEB.
Hiển thị dữ liệu GIS
Với dữ liệu bản đồ 2D thì việc hiển thị dữ liệu bản đồ sử dụng SVG là định dạng hiển thị phù hợp nhất do:
- Được tiêu chuẩn hóa bởi W3C và được đa số các hãng cung cấp dịch vụ GIS hỗ trợ. (xem phụ lục các nhà cung cấp phần mềm đã được kiểm tra (test) trên W3C [2]).
- Kích thước dữ liệu nhỏ và có thể được nén để tối ưu kích thước dữ liệu khi truyền.
- Tương thích với XML nên khả năng kết hợp với các ứng dụng khác trên Web cao.
- Khả năng tùy biến hiển thị cao, phù hợp với mọi loại kích thước màn hình hiển thị. Hỗ trợ tốt cho các thiết bị di động và đã được nhiều nhà sản xuất thiết bị đầu cuối hỗ trợ.
- Được sự hỗ trợ của các nhà cung cấp thiết bị đầu cuối di động: Ví dụ như:
+ Nokia thông báo platform của series 60 có hỗ trợ SVG.
+ Sony Ericsson K700 hỗ trợ SVG sử dụng ZOOMON SVG Player.
+ Siemens CX65 cũng đã có SVG Tiny (SVG phiên bản cho thiết bị di động).
Chi tiết về SVG có thể tham khảo tại [2].
3.3 Thiết kế CSDL GIS
Với ứng dụng GIS cho PC chúng ta có thể đưa về lượng dữ liệu lớn để hiển thị bản đồ thích hợp trên màn hình PC. Nhưng nếu đưa cùng một lượng dữ liệu như vậy để hiển thị trên màn hình nhỏ của thiết bịdi động thì rất lãng phí đường truyền và mất nhiều thời gian xử lý dữ liệu để phía thiết bị di động hiển thị bản đồ. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm sao để thiết kế được hệ CSDL thích hợp cho việc hiển thị dữ liệu bản đồ trên thiết bị di động ở từng mức độ khung nhìn khác nhau. Chúng tôi sử dụng CSDL đa hiển thị/đa độ phân giải MRDB (Multi – Resolution/Representation Database) để khắc phục những khó khăn này.
MRDB có thể được mô tả như một CSDL không gian dùng để lưu trữ các hiện tượng thế giới thực ở các mức độ chính xác và độ phân giải khác nhau. MRDB được hiểu vừa như một CSDL đa biểu diễn vừa như một CSDL đa độ phân giải. Trong MRDB, các khung nhìn khác nhau của cùng các đối tượng hoặc hiện tượng được lưu trữ và liên kết với nhau. Điều này dẫn đến sự khác nhau trong các đối tượng, ví dụ theo ngữ nghĩa và theo hình dạng hình học. Việc biểu diễn đồ họa cũng có thể được xem xét dẫn đến vô số biểu diễn theo ngữ  nghĩa, theo dạng hình học và theo đồ họa.
Có hai đặc điểm chính tiêu biểu cho MRDB (Hình  2).
- Các mức độ chi tiết (levels of detail - LoD) khác nhau được lưu trong một CSDL
- Đối tượng trong các mức độ LoD khác nhau được liên kết với nhau.
Đặc điểm đầu tiên có thể so với một tập các bản đồ tương tự của NMA: những bản đồ này ở các mức độ tỉ lệ xích khác nhau tồn tại riêng rẽ với nhau và chỉ được liên kết bằng dạng hình học chung. Trong trường hợp thứ hai, các đối tượng được liên kết rõ ràng với nhau và vì vậy mỗi đối tượng đều biết đối tượng tương ứng của nó ở một độ phân giải khác.
4. XÂY DỰNG PHẦN MỀM

4.1 GIS WEB Server

Các module GIS Server trong môi trường Web
GisServer có thể chia thành hai package lớn, đó là package Geoserver và GeoTools. Geoserver là một Web Server, được xây dựng trên thư viện GeoTools. GeoTools sẽ thực thi tất cả các chức năng cần có của một hệ thống GIS.
Web Feature Service - WFS [10]
Module thực thi dịch vụ WFS được phát triển dựa trên nền tảng dự án mã nguồn mở Geoserver. Geoserver là một trong những dự án mã nguồn mở thực thi WFS đầy đủ nhất hiện nay. Xây dựng trên ngôn ngữ Java là một trong những ưu thế của Geoserver, vì vậy Geoserver có thể hỗ trợ nhiều hệ quản trị CSDL không gian khác nhau như Oracle,  PostGIS, MySQL,…
Để đáp ứng yêu cầu của hệ thống, ngoài các phương thức như OpenGIS quy định, chúng tôi đã đưa thêm vào 3 phương thức, đó là:
- GetExtendedProjectDescriptor: GetExtendedProjectDescriptor mô tả các thuộc tính của project hiện tại bao gồm địa chỉ WFS server, DRS server, GCS server, RTS server, các lớp bản đồ thuộc project, khu vực bản đồ được quan tâm,…
- GetExtendedLayerDescriptor: GetExtendedLayerDescriptor mô tả các thuộc tính của một lớp bản đồ như trường dữ liệu đồ họa, trường tiêu đề, cách phân chia nhóm đối tượng,...
- GetStyledLayerDescriptor: GetStyledLayerDescriptor mô tả các thuộc tính tô vẽ của lớp bản đồ. Hai method GetExtendedLayerDescriptor và GetStyledLayerDescriptor sử dụng kết hợp với nhau để quy định cách trình bày một lớp bản đồ.
Dịch vụ Geocoder
Dịch vụ Geocoder sẽ trả về vị trí địa lý của một điạ chỉ cụ thể (tên đường phố hoặc tên địa điểm dịch vụ). Các dịch vụ nằm trong nhóm dịch vụ OpenLS (Open Location Service) bao gồm geocoder, directory và route service chưa được Geoserver thực thi, chúng tôi thực thi các module này dựa trên quan điểm xây dựng dịch vụ của Geoserver. Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng ưu thế của hệ quản trịCSDL Oracle để xây dựng các dịch vụ này.
Module Geocoder service được viết trên Java, thực thi đầy đủ dịch vụ Geocoder như OGC chỉ định trong phiên bản 1.0.
Thuật toán Geocode:
Khi máy chủ nhận được yêu cầu từ phía máy khách đề nghị geocode một địa chỉ cụ thể (tên đường phố hoặc tên điểm dịch vụ). Trước hết dịch vụ sẽ xác định thông tin về thành phố hoặc mã bưu điện phù hợp với vùng cần geocode. Nếu thông tin cần geocode là địa chỉ đường phố thì dịch vụ sẽ truy vấn bảng gc_road_vn để tìm ra tên đường phố cần geocode. Nếu tìm thấy đường phố này, dịch vụ sẽ tiếp tục dùng thông tin road_id lấy từ gc_road_vn để truy vấn bảng gc_road_segment_vn tìm đoạn đường có số nhà phù hợp với thông tin về số nhà trong yêu cầu phía máy khách. Nếu không tìm thấy đoạn đường nào có số nhà phù hợp với yêu cầu, dịch vụ sẽ trả về một vị trí mặc định trên đường phố đó. Nếu thông tin cần geocode là tên một điểm dịch vụ cụ thể thì dịch vụ sẽ truy vấn đến bảng gc_poi_vn để tìm vị trí của điểm dịch vụ đó.
Dịch vụ Directory
Dịch vụ Directory cho phép tìm kiếm địa chỉ đường phố, tên địa điểm dịch vụ hoặc nhóm dịch vụ, từ khóa. Cũng như Module Geocoder, Module Directory được viết trên Java, thực thi đầy đủ dịch vụ directory như OGC chỉ định trong phiên bản 1.0. Để thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm và tra cứu thông tin, chúng tôi đã mở rộng các phương thức do OGC đưa ra và thêm vào phương thứcDirectoryListRequest. Phương thức này cho phép liệt kê tất cả các nhóm thông tin có trong CSDL.
Thuật toán tìm kiếm thông tin:
Dịch vụ Directory được thiết kế dưới dạng thông tin được tổ chức theo từng category cụ thể. Một địa điểm xác định có thể nằm trong một hoặc nhiều category tương ứng. Dịch vụ Directory gồm hai dịch vụ nhỏ: dịch vụ trang vàng và dịch vụ định vị.
Với dịch vụ trang vàng (tìm kiếm thông tin mà không quan tâm đến điểm mốc tìm kiếm), thuật toán tìm kiếm trước tiên sẽ vào bảng trong CSDL lưu trữ thông tin về các category để xác định xem thông tin yêu cầu tìm kiếm có thuộc một category cụ thể nào không. Nếu thông tin tìm kiếm là một category cụ thể thì dịch vụ trang vàng sẽ trả ra kết quả dưới dạng liệt kê ra tên của category đó. Nếu thông tin tìm kiếm không là một category nào thì thuật toán tìm kiếm sẽ vào tất cả các view trong CSDL để tìm ra được địa điểm phù hợp với yêu cầu tìm kiếm.
Với dịch vụ định vị (tìm kiếm thông tin mà có đưa vào điểm mốc để tìm kiếm), có hai trường hợp: tìm kiếm thông tin thỏa mãn tiêu chí tìm kiếm mà gần nhất với điểm mốc hoặc tìm kiếm thông tin thỏa mãn tiêu chí tìm kiếm mà nằm trong khu vực bán kính xác định tính từ điểm mốc.
Trong cả hai dịch vụ tìm kiếm trên (dịch vụ trang vàng và dịch vụ định vị) đều có tìm kiếm nâng cao (tìm kiếm thông tin nằm trong các category cụ thể). Với cách tìm kiếm này ứng dụng sẽ vào bảng trong CSDL lưu thông tin về các category để tìm ra tất cả các view về các category đó, sau đó sẽ đi vào từng view này để tìm địa điểm phù hợp với yêu cầu.
Dịch vụ tìm đường
Do sự phức tạp trong việc tổ chức và thu thập dữ liệu về đường phố nên module này hiện chưa thực thi được đầy đủ như OGC chỉ ra trong phiên bản 1.0 nhưng cũng đã đáp ứng được phần nào yêu cầu tìm đường đi.
Các khả năng Route service có thể thực thi:
- Tìm đường đi ngắn nhất giữa hai điểm
- Tìm đường đi nhanh nhất giữa hai điểm
- Phân biệt đường hai chiều và một chiều
- Các điểm bắt đầu và kết thúc được cung cấp dưới dạng địa chỉ hoặc vị trí địa lý.
- Thuật toán tìm đường:
Khi máy chủ nhận yêu cầu tìm đường từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc dưới dạng địa chỉ (tên đường phố) hoặc tên địa điểm quan tâm (POI), dịch vụ tìm đường sẽ vào dịch vụ Geocoder để tìm ra điểm bắt đầu và điểm kết thúc đó nằm trên đoạn đường nào (edge_id), nằm ở vị trí tương đối nào trên đoạn đường đó. Từ đó sẽ tìm ra id của node bắt đầu và id của node kết thúc. Cuối cùng dựa vào thuật toán tìm đường ngắn nhất từ một node đến một node để tìm ra tuyến đường đi ngắn nhất từ điểm đầu đến điểm cuối.
Webmap Server
Tiếp nhận các yêu cầu của webmap client, phân tích và chuyển cho các dịch vụ tương ứng để xử lý, sau đó chuyển dữ liệu kết quả trả về cho client.
4.2 Webmap Client
Với client là PC:
Webmap client là module được chạy tích hợp với SVG viewer, thực thi các chức năng sau:
- Xây dựng giao diện và tương tác với người sử dụng
- Kết nối với các dịch vụ: đưa ra các yêu cầu lên máy chủ dựa trên các yêu cầu của người dùng, lấy dữ liệu về và phân tích dữ liệu
- Chuyển đổi dữ liệu đồ họa và thông tin từ GML, XLS sang SVG để hiển thị trên bản đồ và sang dữ liệu text thông thường để hiển thị thông tin cho người dùng.
- Thực hiện các chức năng phía client của các dịch vụ  WFS, GCS, DRS và RTS.
- Thực thi các chức năng cần thiết của một phần mềm GIS.
-          Với client là thiết bị di động

- Với các thiết bị có tích hợp sẵn SVG viewer: sử dụng SVG viewer sẵn có, thêm các packet mở rộng khả năng thao tác và hiển thị bản đồ.
- Với các thiết bị không tích hợp sẵn SVG viewer: cho client download SVG viewer được xây dựng trên cơ sở MIDP.
5. Kết luận
Hệ thống đang được Viện KHKT Bưu điện và Công ty VDC hoàn thiện, triển khai thử nghiệm tại website: www.smap.vdc.com.vn với các dịch vụ định vị, tra cứu thông tin, tìm đường trên dữ liệu TP. Hà Nội. Việc xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ GIS cho mạng Internet phục vụ thiết bị cầm tay thông minh đã đạt được các kết quả sau:
- Xây dựng được một nền tảng (framework) hệ thống chuẩn, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế làm cơ sở để xây dựng và phát triển các dịch vụ. Framework này có khả năng tương tác dịch vụ và liênthông dữ liệu với các nhà cung cấp dịch vụ GIS khác trên Internet.
- Phát triển được phần mềm hiển thị, thao tác dữ liệu GIS có khả năng hoạt động tốt trên nền một số hệ điều hành thông dụng của các thiết bị cầm tay như: Windows Mobile, Symbian, PalmOS, Linux.
- Phát triển và cung cấp thử nghiệm một số dịch vụ chất lượng cao dựa trên công nghệ GIS cho các loại thiết bị truy nhập Internet như: PC, PDA, ĐTDĐ,…
Sản phẩm này chính là nền tảng cho việc phát triển thêm các dịch vụ mới như tra cứu thông tin, tìm đường, xác định vị trí cho các thiết bị cầm tay; sàn giao dịch thông tin nhà đất trên bản đồ; du lịch; giaothông; quản lý địa chính, tài nguyên trên Web; tra cứu các điểm cung cấp dịch vụ.

Một số vấn đề cần xử lý khi ghép ảnh

1. Sau khi đăng ký các ảnh Geotiff vào trong Geoserver. Dùng Openlayers (có sẵn trong Geoserver - Layers Preview) ta sẽ có hình tương tự như sau:

Các ảnh viễn thám sau khi nắn chỉnh, xử lý có thể xuất hiện các vùng có màu đen như trên. Các vùng này thường được gọi là NoData. Nếu chỉ là 1 ảnh thì không nói làm gì nhưng nếu ghép nhiều ảnh vào với nhau, vùng nodata này sẽ che các thông tin của ảnh liền kề.
Như hình vẽ trên, ta thấy vùng nodata(màu đen) đã che các ảnh ở dưới.
Vấn đề là làm sao cho vùng nodata (value=0,0,0) trở nên trong suốt khi đó các thông tin ảnh nằm dưới sẽ được nhìn thấy.
Cách làm: dùng Gdalwarp (cần xem thêm các tham số của Gdal tại link này)

gdalwarp -srcnodata 0 -dstalpha geo_c4854d.tif geo_c4854d_alpha.tif

Kết quả ta sẽ có file geo_c4854d_alpha.tif với các vùng nodata đã được thấy trong suốt.
Sau khi đăng ký trong Geoserver ta sẽ có kết quả như sau:

2. Trong quá trình làm nhận thấy, có nhiều ảnh có nhiều kênh trong khi đó mình chỉ cần lấy 3 kênh Green, Blue, Red có số thứ tự là 1,2,3 . Cách làm như sau:

gdal_translate -b 1 -b 2 -b 3 multi_band.tif GRB_band.tif

3. Muốn cắt 1 file GeoTiff thuộc loại BigTiff thành nhiều file nhỏ hơn thì dùng lệnh sau:

gdal_translate -srcwin 0 0 17900 14895 bigtiff.tif d:\geo_test_part1.tif

VN2000 và WGS84 đối với ảnh GeoTiff trong Geoserver


Trong quá trình đưa ảnh GeoTiff vào Geoserver , nhận thấy tọa đọ của ảnh lệch rất lớn đối với ảnh của Google khi xem trên Google Earth (khoảng trên 200 mét). Như hình vẽ ở dưới các bạn sẽ thấy con sông ở hai ảnh lệch nhau rất nhiều


Mặc dù không tin anh bạn Google lúc nào cũng đúng như với khoảng cách trên thì đáng lo ngại. Tôi rà soát lại tất cả các quy trình xử lý của mình thì thấy có các vấn đề sau:
- GeoTiff không chứa tham số TOGWS84 trong header của mình. Cái này muốn biết thì dùng gdalinfo.
- Sử dụng epsg.properties trong thư mục data\user_projections của Geoserver để khai báo hệ quy chiếu VN2000 với tham số TOWGS84. Sau đó gán hệ tọa độ này cho file Geotiff đã đăng ký. Kết quả khi xem trên Google Earth thấy không cải thiện chút nào. Như vậy trong quá trình xử lý reproject giữa VN2000 và hệ tọa độ địa lý WGS84, Geoserver lờ đi tham số TOWGS84.
Hệ tọa độ VN2000 được khai báo trong file epsg.properties như sau:

2000105=PROJCS["VN2000-105",GEOGCS["WGS 84",DATUM["World Geodetic System 1984",SPHEROID["WGS_1984",6378137,298.2572235630115],TOWGS84[-191
.90441429,-39.30318279,-111.45032835,-0.00928836,0.01975479,-0.00427372,1.000000252906
278
],AUTHORITY["EPSG","6326"]],PRIMEM["Greenwich",0],UNIT["degree",0.0174532925199433]],PROJECTION["Transverse_Mercator"],PARAMETER["latitude_of_origin",0],PARAMETER["central_meridian",105],PARAMETER["scale_factor",0.9996],PARAMETER["false_easting",500000],PARAMETER["false_northing",0],UNIT["METER",1]]
Như vậy, muốn chuyển sang WGS84 phải tìm cách khác. Dùng gdalwrap như sau:

D:\FW\bin>gdalwarp -s_srs "+proj=utm +zone=48 +ellps=intl +units=m +towgs84=-191
.90441429,-39.30318279,-111.45032835,-0.00928836,0.01975479,-0.00427372,1.000000252906
278 +no_defs" -t_srs EPSG:4326 -co TFW=YES -r near d:\c4867c.tif d:\c4867c_wgs84
.tif


Kết quả khi xem c4554d_wgs84.tif trên Google Earth thì thấy khá chồng khít với nền ảnh Google. Độ lệch khoảng 30 mét (có thể tôi chỉ đưa 3 tham số chuyển đổi hệ quy chiếu, thay vì 7 tham số). Xem kết quả dưới đây:


Khá hài lòng với kết quả đạt được nhưng vẫn còn nhiều việc cần làm phía trước.

Chuyển đổi ảnh từ VN2000 sang WGS84, so sánh với Google

Bối cảnh: Bộ ảnh SPOT5 dạng Geotiff, hệ tọa độ VN2000 được tính chuyển bằng Gdal. Sau đó so sánh với ảnh vệ tinh Google bằng phần mềm Google Earth. Sử dụng 7 tham số chuyển đổi do tối nằm mơ thấy :))

Sử dụng lệnh sau:

D:\FW\bin>gdalwarp -s_srs "+proj=utm +zone=48 +ellps=intl +units=m +towgs84=-210.90441429,-39.30318279,-55 +no_defs" -t_srs EPSG:4326 -co TFW=YES -r near d:\vn2000_geotiff.tif d:\wgs84_geotiff.tif

Kết quả khu bắc Tp.HCM:


  Độ lệch giữa ảnh Google và SPOT5 (dược chuyển từ VN2000 sang WGS84) khoảng dưới 10 mét.

Khu Cà Mau:

Độ lệch giữa ảnh Google với SPOT5 (được chuyển đổi từ VN2000 sang WGS84) dưới 20 mét

Kiến trúc WebGIS

Bất cứ công nghệ WebGIS nào cũng phải thỏa mãn trước hết kiến trúc 3-tier thông dụng của môt ứng dụng Web. Tùy thuộc vào từng công nghệ riêng biệt của từng hãng mà chúng có khả năng phát triển, mở rộng thành kiến trúc đa tầng (n-tier) hay không. Kiến trúc 3-tier được mô tả như sau :
Chúng gồm 3 thành phần cơ bản, đại diện cho 3 tầng :
1) Database (Data tier): là nơi lưu trữ các dữ liệu địa lý bao gồm cả các dữ liệu không gian và phi không gian. Các dữ liệu này được quản trị bởi các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như ORACLE, MS SQL SERVER, ESRI SDE, POSGRESQL,… hoặc là các file dữ liệu dạng flat như shapefile, tab, XML,… Các dữ liệu này được thiết kế, cài đặt và xây dựng theo từng quy trình đặc thù của từng cá thể hay tổ chức. Tùy theo quy mô và yêu cầu của hệ thống mà tổ chức chọn lựa công nghệ quản trị cơ sở dữ liệu cho phù hợp.
2) Application Server (Bussiness Tier): thường được tích hợp trong một webserver nào đó, ví dụ như các webserver nổi tiếng như Tomcat, Apache, Internet Information Server. Đó là một ứng dụng phía server nhiệm vụ chính của nó thường là tiếp nhận các request từ client , lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu theo yêu cầu client , trình bày dữ liệu theo cấu hình định sẵn hoặc theo yêu cầu của client và trả (response) kết quả về theo yêu cầu. Tùy theo dạng client mà kết quả về khác nhau : có thể là một hình ảnh dạng bimap (jpeg, gif, png) hay dạng vector được mã hóa như SVG, KML, GML,…Một khi dạng vector được trả về thì việc trình bày hình ảnh bản đồ được đảm nhiệm bởi Client (ta gọi đó là thick client), thậm trí client có thể xử lý một số bài tóan về không gian. Thông thường các response và request đều theo chuẩn HTTP POST hoặc GET. Nếu theo công nghệ Web Service thì chúng có thể được mã hóa bằng các định dạng XML.
3) Client (Presentation tier) : thông thường đơn thuần là một browser như InternetExplorer, FireFox, Nescape,…để mở các trang web theo URL định sẵn. Các ứng dụng cient có thể là 1 website, Applet, Flash,… được viết bằng các công nghệ chuẩn mà W3C đã chứng thực. Các Client đôi khi cũng là một ứng dụng desktop tương tự như phần mềm MapInfo, ArcMap,…
Kiến trúc 3-tier là kiến trúc phổ cập nhất dành cho các ứng dụng web, tuy nhiên trong thực tế nhằm để giải quyết các vấn đề chúng ta đòi hỏi cần phải kết nối, trao đổi nhiều thành phần của hệ thống lại với nhau hoặc giữa các hệ thống lại với nhau để có thể đưa cho ngừơi sử dụng những thông tin hữu ích nhất có thể có. Với nhu cầu đó kiến trúc 3-tier sẽ trở nên không linh họat và nặng nề trong vận hành. Trong bối cảnh như vậy các kiến trúc n-tier sẽ được phát triển và mở rộng cho các hệ thống thông tin. Kiến trúc n-tier thường được áp dụng trong các hệ thống phân tán. Khái niệm phân tán ở đây không ám chỉ về mặt địa lý mà chỉ nói đến các hệ thống độc lập nhưng có khả năng kết hợp với nhau thành 1 hệ thống lớn hơn. Tính phân tán của hệ thống có thể là phân tán các ứng dụng hoặc cơ sở dữ liệu.
Để thực hiện một yêu cầu của người sử dụng hệ thống theo kiến trúc n-tier cần phải truy cập, trao đổi thông điệp (message) và xử lý qua nhiều tầng Application của nhiều hệ thống hay thành phần khác nhau. Trong nhiều mô hình khác kiến trúc n-tier còn được thể hiện qua sự tương tác trực tiếp của client với nhiều hệ thống . Kiến trúc n-tier này hiện nay đang phát triển rất mạnh song song với phát triển các công nghệ khác, đặc biệt là công nghệ Webservice theo SOA (Serviced-Oriented Architecture). Một trong những minh chứng cụ thể là sự bùng nố các website dựa trên các dịch vụ của Google và các website GIS theo chuẩn mở OGC (Open Geospatial Consortium).

Kiến trúc n-tier tương tác giữa client với các hệ thống.
Thuật ngữ Mashup cũng được xuất phát từ đây, có nghĩa là một website sử dụng nhiều nội dung từ các hệ thống khác nhau. Sức hấp dẫn của kiến trúc này là các tổ chức có thể tận hưởng các nguồn dữ liệu mà mình không thể làm được để áp dụng vào các ứng dụng với các dữ liệu của riêng mình.

Ứng dụng GIS trong quản lý Hạ tầng giao thông

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là công nghệ quản lý thông tin trên nền bản đồ địa lý. Công nghệ này phát triển gắn liền với sự ra đời của bản đồ số và ngay sau đó, cùng với sự phát triển của các công nghệ có liên quan như công nghệ xây dựng bản đồ số, công nghệ định vị toàn cầu qua vệ tinh (GPS),... tạo ra một sự phát triển bùng nổ của việc ứng dụng bản đồ số.
Do đặc điểm là gần như mọi hoạt động của con người đều phải gắn liền với 1 địa điểm nào đó, nghĩa là với 1 tọa độ địa lý xác định, GIS trở thành công cụ đặc biệt hữu dụng trong quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt là trong các công tác quản lý đô thị như quản lý đất đai, quản lý mạng lưới hạ tầng, quản lý quy hoạch kiến trúc, xây dựng, quản lý giao thông, v.v.;
Ở Việt nam, GIS đã được xem xét ứng dụng ngay sau những bước biến đổi lớn trong quá trình Đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường. Đặc biệt, từ những năm sau 1995, các nhà cung cấp công nghệ lớn trong lĩnh vực này như ESRI, Intergraph, MapInfo, AutoDesk... đã tích cực tăng cường sự hiện diện với nhiều  hoat động giới thiệu công nghệ. Các tổ chức cung cấp tài chính quốc tế với ý thức được tầm khả dụng của công nghệ này, cũng rất nhiệt tình cung cấp các khoản hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu ứng dụng công nghệ GIS. Các đơn vị cung cấp công nghệ và dịch vụ trong nước cũng rất hăng hái tuyên truyền cho GIS. Các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt tại TP HCM và Hà nội, cũng đã đặc biệt chú ý xây dựng các dự án ứng dụng công nghệ GIS vào các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý đô thị. Kết quả là đã cho ra đời nhiều báo cáo nghiên cứu khả thi về ứng dụng GIS, cả do các tổ chức tư vấn quốc tế thực hiện, cả do các đơn vị trong nước thực hiện. Rất nhiều cuộc hội thảo cả ở mức thành phố, cả ở mức quốc gia, đã được tổ chức. Các kết luân được đưa ra tại các báo cáo cũng như các cuộc hội thảo đều khẳng định sự cần thiết cũng như tính khả thi của việc ứng dụng công nghệ GIS.
Thật đáng tiếc là sau rất nhiều nỗ lực như thế của rất nhiều tổ chức, cá nhân, cũng như đã tiêu tốn không ít tiền của từ các nguồn khác nhau, mọi chuyện đang dần đi vào quên lãng. Cả hai dự án mục đích lớn là HanoGIS cho ứng dụng GIS tại Hà nội và HCM GIS (trước đó gọi là SagoGIS) cho ứng dụng GIS tại TP HCM đều đã chìm xuồng, còn các công ty chuyên về GIS thì hiện hầu hết đã ngậm ngùi chuyển hướng sang các lĩnh vực chuyên ngành khác. Lý do thì có nhiều, như cuộc trang cãi không dứt về công nghệ cần lựa chọn (chủ yếu giữa Intergraph với GEOMEDIA và ESRI với ARCINFO hay tự xây dựng phần mềm nguồn mở), là sự mơ hồ về khả năng có được bộ dữ liệu đầy đủ, đầu tiên là dữ liệu bản đồ nền, rồi đến là các dữ liệu chuyên ngành cần thiết, kế đến nữa là sự không tin tưởng vào khả năng phối hợp, vận hành một hệ thống tích hợp đa ngành giữa các cơ quan quản lý,...      
Không thể nói rằng mọi cố gắng đều đã đổ sông đổ biển: khá nhiều hệ thống ứng dụng nhỏ lẻ ở mức chuyên ngành hẹp đã được xây dựng trong suốt thời gian vừa qua, cũng có tác dụng ở mức vừa phải đối với công tác quản lý, đặc biệt đối với các lĩnh vực bắt buôc phải dùng thông tin dựa trên nền bản đồ. Tuy vậy, thật đáng thất vọng là một công cụ mang tính tích hợp tổng thể như GIS lại không được triển khai ứng dụng ở quy mô tích hợp tổng thể như đáng lẽ phải có. 
 
Trong bối cảnh như vậy, thật đáng khích lệ là sự cố gắng tiếp tục đưa GIS vào triển khai ứng dụng ở những lĩnh vực, những cơ quan nào mà tính khả thi, tính thiết thực đã được chứng tỏ cụ thể bằng thực tiễn.   

Đầu tháng 6/2009, Công ty Cổ phần Đầu tư Địa Việt (DiaViet JSC) bằng nguồn vốn sự nghiệp khoa học ở quy mô một đề tài, đã thực hiện thành công việc nghiên cứu triển khai “Ứng dụng GIS trong quản lý và lập kế hoạch duy tu nâng cấp, xây mới hạ tầng giao thông, triển khai thí điểm trên địa bàn Quận 1”. Việc triển khai  nghiên cứu ứng dụng này vào công tác quản lý hạ tầng giao thông đô thị đã nhận được sự ủng hộ và hơp tác nhiệt tình của Khu Quản Lý Giao Thông Đô Thị Số 1  - Sở Giao Thông Vận Tải TP.HCM. Trong khuôn khổ của nghiên cứu ứng dụng này, chỉ với nguồn kinh phí hạn chế,  đã thực hiện các công việc sau:
- Xây dựng và chuẩn hóa cấu trúc CSDL các đối tượng hạ tầng giao thông như: đường, cầu, cây xanh, biển báo, hệ thống tín hiệu giao thông và hệ thống chiếu sáng. Với cấu trúc khung này, Khu QL GTĐT Số 1 và các Khu QLGTĐT khác có thể dễ dàng mở rộng phạm vi dữ liệu ra các quận huyện còn lại trong phạm vi quản lý của mình;
- Hoàn thành việc xây dựng CSDL tất cả các đối tượng hạ tầng giao thông (đường, cầu, cây xanh, biển báo, hệ thống tín hiệu giao thông và hệ thống chiếu sáng) trên tất cả các tuyến đường thuộc địa bàn Quận 1. Các cán bộ của Phòng Quản lý Hạ tầng và Duy tu thuộc Khu 1 và Công ty Địa Việt đã phối hợp hoàn thành tốt công tác điều tra đo đạc vị trí và xây dựng CSDL về tất cả các đối tượng HTGT. Các kinh nghiệm thu được qua quá trình triển khai thử nghiệm trên địa bàn Quận 1 này là tiền đề và cơ sở vững chắc cho các bước mở rộng tiếp theo trên phạm vi toàn thành phố.  
   Hình minh họa CSDL HTGT đã được xây dựng
- Hoàn thành việc xây dựng ba nhóm công cụ đáp ứng hầu như đầy đủ tất cả các nghiệp vụ quản lý và lập kế hoạch duy tu các đối tượng hạ tầng giao thông trên địa bàn thành phố tại các khu quản lý giao thông đô thị, bao gồm:
  • Nhóm công cụ phục vụ quản lý và cập nhật dữ liệu: Các công cụ này cho phép các chuyên viên xem và cập nhật thông tin thuộc tính của từng loại đối tượng hạ tầng, bao gồm cả việc tìm kiếm và định vị đối tượng trên bản đồ.
  • Nhóm công cụ tạo báo cáo thống kê: Tạo các báo cáo thống kê chi tiết theo đối tượng, các báo cáo tổng hợp theo tuyến hoặc các báo cáo thống kê về khối lượng duy tu. Các báo cáo này có thể được tạo bất thường, hoặc định kỳ theo tuần, tháng, năm… dưới dạng file excel để có thể lưu hoặc in báo cáo.
  • Nhóm công cụ lập kế hoạch và ước lượng chi phí duy tu: Cho phép chọn ra các tuyến đối tượng (chiếu sáng, tín hiệu giao thông) đã đến thời điểm duy tu, và tính ra dự toán duy tu cho các tuyến này dựa trên định mức và đơn giá duy tu của các đối tượng đó.
Các kết quả đã đạt được này đương nhiên còn chưa được hoàn chỉnh và cần thiết phải chỉnh sửa, bổ sung. Tuy nhiên, tất cả những người tham gia nghiên cứu đều tin tưởng rằng, nếu nghiên cứu này được ứng dụng triển khai ở quy mô mở rộng trên địa bàn toàn thành phố, sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng về mặt quản lý, kinh tế và xã hội. Có thể chỉ ra một số lợi ích cơ bản gồm:
- Về mặt quản lý: giúp đơn giản hóa công tác quản lý hạ tầng giao thông và nhất là đảm bảo tính đồng bộ, chính xác của dữ liệu hạ tầng giao thông từ các Khu QL GTĐT đến Sở Giao thông Vận tải, từ đó, hỗ trợ đắc lực hơn cho công tác quản lý và quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng giao thông thành phố.
- Về mặt kinh tế: Giảm chi phí đáng kể cho công tác quản lý và cập nhật dữ liệu hạ tầng giao thông cho Sở GTVT nói riêng và cho các đơn vị quản lý hạ tầng nói chung;
- Về mặt xã hội: Việc triển khai mở rộng hệ thống này trên toàn thành phố sẽ xây dựng được một cơ sở dữ liệu đầy đủ và đồng bộ về hạ tầng giao thông đô thị thành phố. Cơ sở dữ liệu này khi được chia sẻ cho các sở ngành khác sẽ phục vụ rất đắc lực cho công tác quản lý và quy hoạch đô thị. Người dân thành phố thông qua trang Web GIS của Sở GTVT có thể xem trực quan về hệ thống giao thông (chiều lưu thông, cấm/hạn lưu thông trên các tuyến đường) và các thông tin về các công trình duy tu sửa chữa hạ tầng giao thông nhằm giúp vạch lộ trình đi lại cho mình được thuận tiện hơn cũng như cùng với các đơn vị có liên quan thực hiện việc kiểm tra, giám sát tốt hơn các đơn vị thi công các công trình hạ tầng.
Tất nhiên, như đã nói ở trên, việc triển khai ứng dụng một công nghệ tích hợp như GIS ở một địa bàn quy mô lớn như TP HCM dĩ nhiên đòi hỏi đầu tư mức kinh phí xứng đáng, đầu tiên là cho thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu, tiếp đến là cho công nghệ, rồi đến việc đào tạo đội ngũ năng lực quản lý vận hành. Mặc dù vậy, ứng dụng công cụ hiện đại để khẩn cấp cải tiến và nâng cao năng lực công tác quản lý đô thị, đặc biệt là trong các lĩnh vực đang nóng bỏng như hệ thống kỹ thuật hạ tầng giao thông, là  điều không thể không làm trong giai đoạn hiện nay. Một khi tính khả dụng của công nghệ đã được chứng minh, đã đến lúc cần một sự quyết đoán của các nhà lãnh đạo.

Sơ đồ định hướng phát triển không gian sử dụng đất toàn tuyến Quốc lộ 1 - đoạn qua thị trấn Từ Sơn và thị xã Bắc Ninh

Ngắm những bản đồ cổ của Thủ đô sắp được nghìn tuổi

 Hà Nội bây giờ đã rộng đến mức mà ngay cả người Hà Nội cũng không thể nhớ hết đường. Nhưng những tấm bản đồ Hà Nội cổ lại cho thấy Hà Nội khi xưa rất nhỏ bé và Hà Nội là một thành phố sinh ra từ nước được tô điểm bởi vô số các hồ nước đủ mọi kích cỡ mà 90% nay đã biến mất. Những đặc điểm thú vị này được thể hiện trên những tấm bản đồ tại Triển lãm Bản đồ cổ Hà Nội và vùng phụ cận đã được khai mạc tại Thư viện Quốc gia Hà Nội 10h sáng nay.
Triển lãm trưng bày 60 tấm bản đồ cổ có niên đại từ 1873 đến năm 1965. Những tấm bản đồ cổ vẫn còn rất rõ nét bao gồm những tấm do người Việt Nam vẽ, chưa theo tỷ lệ chính xác mà còn tính ước lệ, và những tấm bản đồ có phương hướng chính xác, tỷ lệ rõ ràng, theo đúng nguyên tắc vẽ bản đồ hiện đại của người Pháp. 
 
Tấm bản đồ cổ đẹp nhất Triển lãm do Phạm Đình Bách,
nhà họa đồ của Sở Địa lý vẽ.
Bản đồ đẹp nhất trong bộ sưu tập này là bản đồ Thành phố Hà Nội (1873) do Phạm Đình Bách, nhà họa đồ của Sở Địa lý vẽ. Bản đồ thể hiện không gian hội tụ với thể hiện chi tiết theo lối truyền thống, và lối định vị chính xác hiện đại và tôn trọng tỷ lệ.
Bản đồ thành phố Hà Nội năm 1885 là bằng chứng cho thấy vào năm 1885 Hà Nội vẫn còn là một vùng bán đô thị nằm ở nông thông hơn là một thành phố theo đúng nghĩa của nó. Và thật ngạc nhiên khi thấy có đến hàng trăm đầm, hồ thậm chí nằm ngay giữa khu 36 phố phường.
 
Bản đồ thành phố Hà Nội năm 1902
Bản đồ thành phố Hà Nội năm 1902, thời kỳ này thành phố là nơi cư trú của khoảng 100.000 dân. Bản đồ này chỉ ra những biến động trong khu vực Hà Nội do những đợt quy hoạch trong 15 năm người Pháp chiếm đóng. Cầu Doumer (Long Biên) khánh thành vào năm đó bắc ngang sông Hồng và thành phố như thể bị đường xe lửa cắt đôi.
Bản đồ thành phố Hà Nội (1945) sau khi đất nước tuyên bố độc lập cho thấy ngay lập tức tên các đường phố được đổi và Việt hóa. Các phố ở khu phố cổ đã lấy lại tên cũ của chúng và rất nhiều con đường được mở từ năm 1884 vốn mang tên Pháp nay không mang những tên đó nữa, chỉ trừ phố Yersin.
 
Bản đồ đầu tiên do Việt Nam dân chủ cộng hòa xuất bản
 
Năm 1995 Hà Nội có bản đồ mới. Đây là bản đồ đầu tiên do Việt Nam dân chủ cộng hòa xuất bản. Sau khi nhiều người đi di tản về, thành phố có khoảng 40-45 vạn dân.
 
Năm 1962, Bản đồ chỉ dẫn thành phố Hà Nội xuất bản có thể coi là bản đồ du lịch đầu tiên. Công viên Thống Nhất được quy hoạch vĩnh viễn. Lúc đó cầu Chương Dương chưa xuất hiện, mãi năm 1983 cầu mới được xây.
 
Tại triển lãm, một chuyên viên của Thư viện Quốc gia Việt Nam cho biết hiện nay Thư viện còn lưu giữ những bản đồ Hà Nội cổ hơn. Nhưng do đã quá cũ nên chúng được bảo quản chặt chẽ trong kho và có lẽ khó có thể đem ra trưng bày. Triển lãm lần này do do Thư viện Quốc gia Việt Nam và L'Espace phối hợp tổ chức đã đem lại cho công chúng một cái nhìn bao quát, hình dung rõ nét hơn về quá trình đô thị hóa và phát triển của Hà Nội, đồng thời tự hào hơn về Thủ đô ngàn năm văn hiến.

ĐA DẠNG SINH HỌC (DDSH) TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (PTBV) Ở VIỆT NAM


Đa dạng sinh học (DDSH) là cơ sở của mọi sự sống để tạo dựng nên sự phồn vinh của loài người. Việt Nam cũng giống như các dân tộc trên hành tinh này, 54 cộng đồng các dân tộc anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước đã từng sớmbiết lựa chọn, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có DDSH.
Thực vậy, trong cuộc sống, để tồn tại và phát triển loài người luôn luôn phải dựa trên cơ sở hai nguồn năng lượng chính mà thiên nhiên phải mất đi hàng triệu triệu năm để hình thành. Đó là:
l-     Năng lượng hoá thạch là nguồn tài nguyên không tái tạo được, vì vậy phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm.
2-     Đa dạng sinh học là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo. Nhưng không phải là vô hạn.

1. Khái niệm về Đa dạng sinh học (DDSH)
Định nghĩa về DDSH: Theo định nghĩa của Tổ chức Hiệp hội quốc tế về Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (IUCN) thì DDSH là tổng hợp toàn bộ các gen, các loài và các hệ sinh thái (HST). Đó là sự biến đổi liên tục trong quá trình tiến hoá để tạo ra các loài mới trong điều kiện sinh thái mới khi những loài khác mất đi.
Theo Công ước DDSH thì DDSH là sự khác biệt mọi cơ thể sống có trong các HST ở trên đất liền, ở biển, ở các thuỷ vực, bao gồm sự đa dạng trong loài, giữa các loài và các HST, đa dạng về tài nguyên di truyền.

lDDSH thể hiện ở 3 mức độ:
                        - Đa dạng các hệ sinh thái (Ecosystems)
                        - Đa dạng loài (Species)
                        - Đa dạng di truyền (Gene)
Ngoài ra còn thể hiện đa dạng sử dụng bởi các nền văn hoá, các phong tục tập quán khác nhau.

a/ Đa dạng các Hệ sinh thái (HST)
 Khái niệm HST: HST là hệ các quần xã sinh vật sống chung  và phát triển trong cùng một môi trường nhất định, tương tác với nhau và với môi trường đó thông qua chu trình trao đổi năng lượng và vật chất.

Ví dụ: Một cái ao, hồ, một khúc sông, khu rừng, đồng cỏ, một cánh đồng, một làng, thành phố …. gồm các sinh vật và môi trường của nó đều được coi là HST.
            - Phân chia chức năng của HST:
 Căn cứ vào vị trí, vai trò, chức năng và yêu cầu của kinh tế, xã hội môi trường có thể chia 4 loại hình HST chính như sau:
            - HST nơi cư trú
            - HST làm chức năng sản xuất
            - HST cần được bảo tồn
            - HST phục vụ cho nghỉ ngơi, giải trí, văn hoá – xã hội …

HST trên đất liền: HST công nghiệp – đô thị; HST nông nghiệp; HST rừng; HST savan, đồng cỏ;HST khô cạn; HST núi đá vôi.
HST dưới nước: HST đất ngập nước: hồ, ao, đầm phá …, HST sông, suối, HST ven biển, các đảo, HST biển và đại dương, HST rừng ngập mặn.
 Mỗi một kiểu HST đều mang trên mình những đặc trưng riêng về các yếu tố môi trường tự nhiên, xã hội, cầu trúc thành phần loài, đặc điểm phân bố và biến đổi số lượng của quần thể theo thời gian, không gian.
b/ Đa dạng loài
Thế nào là loài (Species): Loài là một taxon của mỗi nhóm cá thể, có quan hệ họ hàng gần nhau, có khả năng trao đổi thông tin di truyền, tức là giao phối lẫn nhau tạo thành các thế hệ trong quần thể.
Các nhà khoa học đã ước tính về sự đa dạng loài có khoảng từ 5.443.644 đến 33.392.485 loài. Đây là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo vô cùng quí giá, là tiềm năng rất lớn quyết định sự sống còn của nhân loại.
c/ Đa dạng về gen – hay còn gọi là đa dạng di truyền
 
Đó là sự đa dạng các allen cho bất kỳ loại gen nào như gen qui định màu sắc, kích thước, allen khác nhau cho mỗi gen có thể sinh ra những dạng khác nhau của một protein về cấu trúc và chức năng, sự khác biệt gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly về địa lý, cũng như sự khác nhau giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể.
d/ Đa dạng văn hoá
 
 Sử dụng đa dạng văn hoá: đó là thể hiện sự đa dạng về ngôn ngữ, về tín ngưỡng tôn giáo, về kiến thức truyền thống bản địa trong việc quản lý đất đai, sử dụng bảo vệ tài nguyên, nghệ thuật, âm nhạc, tổ chức xã hội.
 Trên thế giới có khoảng 200 triệu dân tộc thiểu số. Chiếm khoảng 4% dân số thế giới có ngôn ngữ riêng.
Bảo tồn và phát huy các mặt tích cực của các nền văn hóa bản địa ở từng quốc gia, từng vùng cụ thể sẽ là cơ sở góp phần bảo tồn và phát triển bền vững DDSH.

2. Tầm quan trọng của DDSH trong phát triển bền vững
 DDSH có một giá trị vô cùng to lớn mà không có gì có thể thay thế được.
 Giá trị của DDSH có thể phân thành hai loại:
Giá trị trực tiếp của DDSH bao gồm: giá trị sử dụng cho tiªu thụ và giá trị sử dụng cho sản xuất
   + Giá trị sử dụng cho tiêu thụ bao gồm các sản phẩm tiêu dùng lương thực, thực phẩm, thuốc men, năng lượng, xây dựng là nhu cầu cuộc sống hàng ngày.
+ Những nghiên cứu về các xã hội truyền thống tại các nước đang phát triển cho thấy cộng đồng dân cư bản địa  khai thác, sử dụng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên xung quanh nơi cư trú của họ, như củi đốt, rau cỏ, hoa quả, thịt cá, dược phẩm và các nguyên vật liệu xây dựng cho sinh hoạt hàng ngày của mình. Vào khoàng 80% dân số trên thế giới vẫn dựa vào những dược phẩm mang tính truyền thống lấy từ các loài động vật, thực vật để sử dụng cho những sơ cứu ban đầu khi họ nhiễm bệnh (Franworth, 1988). Trên 5.000 loài động, thực vật được dùng cho mục đích chữa bệnh ở Trung Quốc;  Việt Nam có khoảng  3.000 loài thực vật được dùng trong cuộc sống.
+ Một trong những nhu cầu không thể thiếu được của con người là protein động vật, từ xưa đến nay người dân có thể kiếm được bằng việc săn bắn các loài động vật hoang dã để lấy thịt. Tại nhiều nơi ở Châu Phi, những động vật bị săn để lấy thịt là nguồn chủ yếu cung cấp protein trong khẩu phần ăn của người dân ở đây; Tại Bosnia khoảng 40% và tại Zaia 75% (Myers, 1988). Cá biển cũng là nguồn thực phẩm rất quan trọng của nhân dân các vùng gần biển.
- Giá trị sử dụng cho sản xuất:
   Các sản phẩm của rừng đã và đang là một nguồn kinh tế lớn trên toàn thế giới. Theo ước tính hơn 40% nền kinh tế trên thế giới và 80% nhu cầu của người nghèo trên thế giới phụ thuộc vào DDSH (Constanza etal - 1997 đã tính giá trị DDSH trên toàn cầu đối với loài người là 33.000 tỷ đô la Mỹ /năm). Thực vậy, nền nông nghiệp hiện đại nhờ sử dụng các nguồn gen lấy từ các hệ sinh thái tự nhiên mà đã đạt được khoảng 3 tỷ đô la Mỹ, hoặc do kinh doanh du lịch sinh thái cũng đạt được khoảng 12 tỷ đô la Mỹ hàng năm và ngày càng tăng lên rõ rệt, nhất là tại các nước đang phát triển, nơi thường có các cảnh quan đẹp và sinh học phong phú. Đối với Việt Nam cũng nhờ có các hệ sinh thái độc đáo, có tài nguyên động, thực vật đa dạng đã thu hút khách du lịch
- Về thuốc chữa bệnh: người ta tính rằng từ mỗi loài cây, nếu cung cấp được hoá chất cơ bản để sản xuất các loại thuốc mới thì thu lợi được khoảng 290 triệu đô la Mỹ hàng năm.
-Hiện nay đã có hơn 119 chất hoá học tinh chế từ 90 loài thực vật có mạch bậc cao được sử dụng trong dược học hiện tại trên toàn thế giới và ngày càng phát hiện thêm nhiều cây, con có khả năng cứu loài người khỏi các bệnh tật hiểm nghèo.
+ DDSH cung cấp phần lớn chất đốt cho nhân loại. Theo FAO, giá trị hàng năm về củi sử dụng ở Việt nam là 1.278 triệu USD, Trung Quốc 9.320 triệu USD,  Ấn Độ 9.080 triệu USD, Indônêxia 2.317 USD, Thái lan 2.027 USD … 
+ DDSH quan trọng đối với nông nghiệp và góp phần vào việc bảo đảm an toàn lương thực. l Giá trị gián tiếp: Ngoài việc bảo vệ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho ngày nay và cho tương lai, củi đốt, bảo vệ sức khoẻ, môi trường đa dạng sinh học còn là nguồn giải trí. Nguồn thu về giải trí có liên quan đến động vật, thực vật, cảnh quan thiên nhiên của nhiều nước đã đạt được những kết quả lớn. Năm 1991 việc tổ chức giải trí liên quan đến xem chim nước ở Mỹ đã thu được khoảng gần 20 triệu USD và tạo được hơn 250.000 công ăn việc làm. Hàng năm ở Mỹ, việc tổ chức giải trí bằng câu cá nước mặn đã thu được khoảng 15 tỷ USD vào tạo được 200.000 công ăn việc làm thường xuyên. Năm 1986, các khu bảo tồn ở Mỹ đã thu được khoảng 3,2 tỷ USD từ các khu bảo tồn và năm 1989 riêng việc tổ chức xem voi ở nước này đã thu được 25 triệu USD. Đó là chưa nói đến thiên nhiên, cây cỏ.
3. Tình trạng suy giảm DDSH
   Sự mất mát về DDSH sẽ ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội và môi trường vì lý do sau đây:
3.1 Các hệ sinh thái của quả đất là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất nói chung và ở Việt Nam nói riêng, trong đó có loài người.
3.2 Các hệ tự nhiên có nhiều giá trị thực tiễn. Rừng ở trên các sườn dốc trên núi đã điều tiết dòng chảy và thanh lọc các chất cặn bã để dòng nước trở nên trong lành khi đến người dùng.
3.3 Các loài cây và con mà chúng ta nuôi trồng luôn luôn cần được bổ sung những tính trạng di truyền mới lấy từ các cây con hoang dã.

3.4 Nhiều loài cây, con hoang dã cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị trong lương thực, thực phẩm, trong thương mại, làm thuốc quý. Đến nay đã có khoảng 40% các loại thuốc có gốc từ các cây hoang dã.
 3.5 Về mặt đạo lý mà nói, khi chúng ta làm suy giảm sự phong phú đa dạng sinh học tức là chúng ta đã vô tình loại trừ nhiều dạng sống mà chúng có quyền được tồn tại.
4. Một số trung tâm đa dạng trên thế giới
  Trước khi nền nông nghiệp ra đời cách chúng ta khoảng 12.000 năm, trái đất được bao phủ tấm áo choàng màu xanh tuyệt tác mà trong đó chứa đựng nguồn đa dạng sinh vật với con số khổng lồ ước tính từ 5.443.644 đến 33.392.485 loài. Tuy nhiên, cho đến nay loài người cũng mới chỉ biết được 2.892.432 loài, trong đó có khoảng 1.120.561 loài động vật không xương sống, 322.390 loài thực vật; 19.056 loài cá, 9.040 loài chim, 11.757 loài bò sát lưỡng cư và 4.000 loài thú.
 Có khoảng 90.000 loài thực vật ở vùng nhiệt đới, trong khi đó toàn bộ vùng Bắc Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Á chỉ có 50.000 loài; vùng nhiệt đới Nam Mỹ chiếm 1.3 tổng số loài, Braxin có 55.000 loài, Côlômbia có 35.000 loài, Vênêzuêla có 15.000 -25.000 loài, Tanzania có 10.000 loài, Cameron 8.000 loài. Vùng Đông Nam Á có tính DDSH rất cao, có 25.000 loài, chiếm 10% số loài thực vật có hoa trên thế giới; Inđônêxia có 20.000 loài, Malaysia và Thái Lan có 12.000 loài; Đông Dương có 20.000 loài. Theo McNeely-1990 thì các cánh rừng nhiệt đới được coi là nơi giàu tính DDSH nhất, rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% bề mặt trái đất nhưng có thể chứa từ 50-90% tổng số loài động vật, thực vật của trái đất.
5.Đa dạng sinh học ở Việt Nam
- Dãy núi Hoàng Liên Sơn
- Dãy núi Bắc Trường Sơn (Bắc Trung Bộ)
- Vùng Tây nguyên
- Vùng Đông Nam Bộ

Sự phong phú thành phần loài sinh vật
Các loài cây trồng phổ biển nhất ở Việt Nam

Về động vật nuôi, trên cơ sở có sự đa dạng các hệ sinh thái, sinh cảnh, đa dạng về khí hậu nên Việt Nam  cũng là khu vực rất đa dạng các loài động vật nuôi: bò, trâu, ngựa, dê, hươu, thỏ, lợn, 12 giống gà, 10 giống vịt, 4 giống ngỗng, các loài cá nước ngọt.
 Sao la (Pseudoyx Nghetinhensis), phát hiện năm 1992
Mang lớn (Megamuntiacus Vuquangensis), phát hiện năm 1993
Bò sừng xoắn (Pseudonovibos spiralis) ở Tây nguyên, phát hiện năm 1994
Mang Trường Sơn (Canimumtiacus truongsonensis), phát hiện năm 1996
Mang Pù Hoạt (Muntiacus puhoatensis), phat hiện năm 1997
Cầy Tây nguyên (Viverra taynguyenensis), phát hiện năm 1997
Thỏ vằn (Isolagrs timminsi), phát hiện năm 2000.

 Và hàng chục loài chim, 118 loài bò sát, ếch nhái, hàng chục loài cá và hàng nghìn loài côn trùng, ký sinh trùng.
 Từ năm 2000 đến nay, nhiều loài thực vật, động vật không xương sống được tiếp tục phát hiện.
 Những dẫn liệu về các giống, loài mới cho khoa học và cho Việt Nam được bổ sung như trên cho thấy thành phần khu hệ động vật, thực vật Việt Nam còng chưa được biết hết.
 Đa dạng sinh học ở tỉnh Vĩnh Phúc: Chỉ tinh riêng Vườn quốc gia Tam Đảo với diện tich 36.883 ha cũng xác định được 77 loài thú, thuộc 24 họ, và 18 bộ, trong đó có 21 loài thuộc diện quý hiếm; có hơn 200 loài chim, 43 họ, 5 bộ; Bò sát có 46 loài, 13 họ, 2 bộ; Ếch nhái 19 loài, 7 họ, 2 bộ, đặc biệt có cá cóc Tam Đảo là loài đặc biệt quý hiếm và hơn 600 loài thực vật đã được mô tả.
6. Các mối đe doạ đến DDSH
 Các mối đe doạ tới DDSH do 2 nguyên nhân: Trực tiếp và gián tiếp
Nguyên nhân trực tiếp:
-Hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên bị tác động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội dẫn đến mất môi trýờng sống.
-Do săn bắt, buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.

Mất môi trýờng sống
Mất môi trýờng sống

7. Biện pháp bảo tồn DDSH
Mục tiêu của bảo tồn DDSH là giữ cân bằng giữa bảo tồn sự đa dạng của thiên nhiên và nâng cao chất lượng sống của con người. Điều đó có nghĩa là tăng cường bảo tồn DDSH qua việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên sinh vật một cách khôn khéo, không vượt quá khả năng tái tạo cũng như khả năng dịch vụ có thể có của hệ sinh thái.
Bảo tồn DDSH trên cạn
7.1 Tăng cường bảo tồn nguyên vị (in-situ)
Quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn ĐDSH, bảo tồn các hệ sinh thái đặc trưng và các loài quý hiếm ở trên cạn.

Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên được gọi chung là rừng đặc dụng, phân bố đều trong cả nước và được chia thành ba loại chính: Vườn quốc gia (VQG), khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và khu bảo vệ cảnh quan (BVCQ). Đã có 126 khu rừng đặc dụng được thành lập với diện tích trên 2,5 triệu ha, chiếm 7,6% diện tích tự nhiên bao gồm 30 vườn quốc gia, 59 khu bảo tồn thiên nhiên và 39 khu bảo vệ cảnh quan.

Các khu bảo tồn thiên nhiên (rừng đặc dụng) ở Việt Nam

Một điều đáng chú ý là thời gian gần đây, ngoài hệ thống khu rừng đặc dụng và BTTN, đã có một số hình thức khu bảo tồn khác đã được UNESCO công nhận:
- 2 khu di sản thiên nhiên thế giới: Khu Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) và khu Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình);
- 4 khu dự trữ sinh quyển: Khu Cần Giờ (TP.HCM), khu Cát Tiên (Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước), khu Cát Bà (Tp. Hải Phòng) và khu ven biển đồng bằng Sông Hồng (Nam Định và Thái Bình);
- 4 khu di sản thiên nhiên của ASEAN: Ba Bể (Bắc Cạn), Vườn quốc gia Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), Chư Mom Rây (Kon Tum) và Kon Ka Kinh (Gia Lai)
- 1 khu Ramsar (đất ngập nước) là Khu Xuân Thủy (Nam Định).

Hiện nay, công tác xây dựng các khu BTTN có xu hướng phát triển theo diện rộng (số lượng).
 - Chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành trong vấn đề quy hoạch và quản lý.
- Quy hoạch hệ thống và tổng thể chưa có nghiên cứu kỹ.
-Quy hoạch các khu bảo tồn chưa gắn liền với quy hoạch vùng đệm.
-Các luận chứng kinh tế - kỹ thuật chưa thể hiện rõ nội dung bảo tồn, nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch.
-Để có cơ sở cho quản lý phù hợp các khu BTTN, cần thiết thực hiện việc quản lý, quan trắc diễn biến DDSH trong các khu bảo tồn.

 Tăng cường quản lý và quan trắc DDSH tại các khu BTTN.
lVùng đệm không thuộc quyền quản lý của Ban quản lý các khu BTTN, nhưng Ban quản lý có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương của vùng đệm để nâng cao đời sống của cộng đồng nhân dân địa phương, tạo công ăn việc làm, giảm sức ép lên các khu BTTN và lôi cuốn họ tham gia vào công tác bảo vệ các khu rừng đặc dụng.
7.2 Biện pháp bảo tồn chuyển vị (ex-situ)
-Các vườn thực vật
-Vườn động vật

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482