Climate Change

Popular Posts

Climate Change


GPS – Hệ thống định vị toàn cầu qua vệ tinh

Hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu hiện nay đang nổi lên như một trong nhưng công nghệ mới, hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho cuộc sống.
Giải pháp tổng thể GPS mà tôi cung cấp bao gồm:
  • Thiết bị đầu cuối GPS: nhỏ gọn, dễ dàng gắn lên các phương tiện vận chuyển cần giám sát, có thể hoạt động liên tục với thời gian cập nhật 10 giây – nhanh nhất ở Việt Nam hiện nay. Sản phẩm có PIN dự phòng có sẵn của thiết bị với chế độ hoạt động riêng, tiết kiệm khi dùng PIN đồng thời cảnh báo đang dùng đến PIN dự phòng.
  • Phần mềm quản lý, theo dõi GPS data: xin mời ghé qua địa chỉ này với Account: demo/demo để tìm hiểu thêm.
  • Dữ liệu bản đồ (đi kèm phần mềm)
Tiện ích
Thích hợp cho hoạt động theo dõi và giám sát phương tiện vận chuyển. Các tính năng được thiết kế và giá cả của thiết bị đủ để đáp ứng mọi đối tượng.
Ứng dụng
- Chống trộm trong thuê xe tự lái, quản lý phương tiện vận tải.
- Quản lý tài sản.
- Ghi lại lộ trình cho các chuyến công tác đi xa hay đi dã ngoại.
- Theo dõi và điều tra dấu vết tội phạm.
Tính năng kỹ thuật
- Theo dõi thời gian thực (realtime) cập nhật liên tục 10 giây 1 lần sử dụng băng tần GPRS.
- Theo dõi theo nhu cầu.
- Quản lý ra / vào khu vực cần giám sát (GEOFENCE).
- Sạc pin tự động.
- Lưu lại hành trình khi qua vùng mất sóng.
- Tính quãng đường đi với độ chính xác 3D(kể cả độ cao).
- Cổng giao tiếp mở rộng như đếm người,đo nhiệt độ,giám sát nhiên liệu,cửa xe …
Thông số kỹ thuật
- Kênh (Channel): 20.
- Độ nhạy thiết bị (Sensitivity): 159dBm.
- Độ chính xác trong vòng 2.5 mét. (Precision: within 2.5 meters)
Phụ kiện đi kèm

Bộ thiết bị định vị bao gồm:
- 1 thiết bị định vị GPS (GPS tracker)
- 1 sách hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Việt
Yêu cầu: Gắn DT10 vào phương tiện, sử dụng Máy tính kết nối Internet
Theo dõi tức thời: vị trí; trạng thái chuyển động; vận tốc, ,lộ trình
Quản lý: Theo dõi lại lộ trình đã đi; tổng thời gian chạy, lộ trình dừng xe; quãng đường di chuyển; định mức tiêu thụ nguyên liệu …
Tính năng:
- Sử dụng GPS chipset với độ nhậy cao.
- Kết hợp giữa mạng không dây: GPS, GSM/GPRS.
- Được thiết kế hoạt động định vị liên tục và không thấm nước.
- Dễ dàng cài đặt hay giấu trong xe hơi.
- Thiết kế đặc biệt để theo dõi phương tiện vận chuyển.
- Độ chính xác trong vòng nhỏ hơn 3m
Thông số kỹ thuật:

- GSM module: Tri-Band GSM 900/1800/1900MHz, or Quad-Band GSM 850/900/1800/1900 MHz
• GPRS multi-slot class 10/8
• GPRS mobile station class B
• Compliant to GSM phase 2/2+
- Class 4(2W @ GSM850/900MHz)
- Class 1(1W @ GSM1800/1900MHz)
-Low power consumption
- GPS Chipset: High sensitivity GPS chipset
- Frequency: L1, 1575.42 MHz
- C/A code: 1.023 MHz chip rate
- Channels: 20 channel all-in-view tracking
- Accuracy Position 2.5m CEP
– without SA/Velocity 0.1m/s
– without SA/Time 1μs synchronized to GPS time
– Position with DGPS/SBAS: 2.0m CEP
- Default datum: WGS-84.
- Hot start: 1 sec., average.
- Warm start: 38 sec., average.
- Cold start: 42 sec., average.
- Altitude Limit: 18,000 meters (60,000 feet) max.
- Velocity Limit: 515 meters/second (1000 knots) max.
- Low power consumption about 160mW at 3.3 V(full power).
– NMEA-0183
– SiRF binary
– RTCM SC-104
• Crystal oscillator (TCXO), temperature compensated with frequency stability of ±0.5ppm
• Memory: On-chip 4Mbit FLASH and 1Mbit SRAM
Read Post | nhận xét

GPS For Dummies

GPS For Dummies
For Dummies | June 4, 2004 | ISBN-10: 0764569333 | 408 pages | PDF | 14.5 Mb

Read Post | nhận xét

Nike+ GPS v2.1

Nike+ GPS v2.1
iPhone-iPodtouch | Application | 10.56mb | MU & FS

Release: Nov 12, 2010
Genre: gps
Developer: itunes
Language: En
Size: 10.56MB (3% repair) MU & FS

The Nike+ GPS app helps you get the most out of every run by tracking where you go and motivating you to take it further.

- Download it on the go and start running anywhere. With this app in hand, you can track every indoor and outdoor workout easily, without a sensor.

- Record your pace, distance and run route using the iPhone’s GPS and accelerometer technology so you can focus on the road ahead, and relive your run later.

- Anytime you’re up for a challenge, push farther, faster, or longer to better reach your goals. Then celebrate your victories with fun, motivational messages from Nike’s top athletes.

- As you run, get voice feedback on how you’re doing or tap the map to see where you are. Then activate your personalized PowerSong for an extra boost.

- Quickly send each run to where you can brag to friends, join challenges, set goals and connect with the rest of the Nike+ community.

- Cheer Me On: Tell your Facebook friends you’re going for a run and get mid-run encouragement each time one of them likes or comments on your status.

- One More PowerSong: Blast past your goals and records by running the duration of one more song.

- Share Run: Broadcast your accomplishments to the world via Facebook and Twitter.

- My Records: View your best runs and see if you’ve got what it takes to break them.

- The Nike+ GPS app was designed for the iPhone, but it’s also compatible with the iPod touch (without the mapping capabilities). Some features such as Share Run and Cheer Me On require users to be connected to a wireless network for full functionality. Please note that continued use of GPS running in the background can dramatically decrease battery life.

The Nike+ GPS App is compatible with iPhone3GS, iPhone 4 and iPod touch (2nd, 3rd, and 4th generations) running iOS 4.0 or later.


Read Post | nhận xét

Climate Change: Turning Up the Heat

Climate Change: Turning up the Heat explains how our attitudes toward risk and uncertainty – constant companions in life – influence our decision-making and, ultimately, how much we and future generations stand to lose from rapid climate change. It outlines the current concerns of the major international players and reviews the response to date, detailing national interests. Importantly, it shows there is real hope of managing climate change and minimizing the risk of disaster if we step up efforts to develop and apply innovative technological and policy solutions.
Download links:
Read Post | nhận xét

Hurricanes and Climate Change (Aegean Conferences)

Recent studies suggest that tropical cyclones are more powerful than in the past with the most dramatic increase in the North Atlantic. The increase is correlated with an increase in ocean temperature. A debate concerns the nature of these increases with some scientists attributing them to a natural climate fluctuation and others suggesting climate change related to anthropogenic increases in forcing from greenhouse gases.
A Summit on Hurricanes and Climate Change was held during the spring of 2007 on the island of Crete that brought together leading academics and researchers on both sides of the scientific debate to discuss new research and express opinions about what will happen in the future with regard to hurricane activity. This proceedings volume highlights the state-of-the-science research into various aspects of the hurricane-climate connection. It is likely that the science presented here will lead to new research that will help answer crucial questions about our sustainable future.
 Download links:
Read Post | nhận xét

Climate Change: Biological and Human Aspects

In recent years climate change has become recognized as the foremost environmental problem of the twenty-first century. Not only will climate change potentially affect the multi-billion dollar energy strategies of countries worldwide, but it also could seriously affect many species, including our own. A fascinating introduction to the subject, this textbook provides a broad review of past, present and likely future climate change from the viewpoints of biology, ecology and human ecology. It will be of interest to a wide range of people, from students in the life sciences who need a brief overview of the basics of climate science, to atmospheric science, geography, and environmental science students who need to understand the biological and human ecological implications of climate change. It will also be a valuable reference for those involved in environmental monitoring, conservation, policy-making and policy lobbying.
Jonathan Cowie's 2008 volume is the best book available on a critically important subject: how climate change affects life on earth. The book has an admirably broad perspective. Its content is rich and robust. Although Cowie's book is not as easy read (and could have been edited further), it is well worth the effort. Required reading for anyone who wants to understand our world.
Download links:
Read Post | nhận xét

Global Warming and Climate Change Demystified

A non-heated discussion on global warming and climate change Interested in getting to the core of the reasons for the Earth's changing climate? Want an accurate reading on the science behind global warming? Here's your gauge! This easy-to-follow guide offers a temperate view of this hot topic. Global Warming & Climate Change Demystified starts by looking at scientific data gathered from weather instruments, satellite telemetry, ice cores, and coral sections that reveal how the Earth's temperature is changing. The book goes on to examine the causes of climate change, including both natural processes and human-generated greenhouse gases. Finally, the consequences of global warming are discussed and a wide variety of viable solutions that can be implemented by individuals as well as society as a whole are presented. Complete with end-of-chapter quizzes and a final review to test your knowledge, this book will teach you the fundamentals of global warming and climate change in an unbiased and thorough manner. This fast and easy guide offers: * A thorough review of scientific data * Details on the evidence of global warming worldwide * Information on the origin and impact of greenhouse gases * Explanations of alternatives to carbon-based energy sources * Suggestions for local and global solutions Simple enough for a beginner, but challenging enough for an advanced student, Global Warming & Climate Change Demystified is your shortcut to understanding this important and timely issue.
Download links:
Read Post | nhận xét

Tropical Rainforest Responses to Climatic Change

The goal of this book is to provide a current overview of the impacts of climate change on tropical forests, to investigate past, present, and future climatic influences on the ecosystems with the highest biodiversity on the planet. Tropical Rainforest Responses to Climatic Change will be the first book to examine how tropical rain forest ecology is altered by climate change, rather than simply seeing how plant communities were altered. Shifting the emphasis onto ecological processes e.g. how diversity is structured by climate and the subsequent impact on tropical forest ecology, provides the reader with a more comprehensive coverage. A major theme of this book that emerges progressively is the interaction between humans, climate and forest ecology. While numerous books have appeared dealing with forest fragmentation and conservation, none have explicitly explored the long term occupation of tropical systems, the influence of fire and the future climatic effects of deforestation, coupled with anthropogenic emissions. Incorporating modelling of past and future systems paves the way for a discussion of conservation from a climatic perspective, rather than the usual plea to stop logging.

Link Download
Read Post | nhận xét

Climate Change and Global Crop Productivity

 Worldwide climatic changes have been raising concerns about potential changes to crop yields and production systems. Such concerns include the ability to accommodate these uncertain effects in order to ensure an adequate food supply for an increasing population. Written by leading international experts, this book is the first comprehensive examination of the potential effect climate change, particularly greenhouse gases, will have on agroecosystems. It also reviews the effects such systems have on climate change itself.

Link Download
Read Post | nhận xét


(To the best of my knowledge the information below is true, please report any errors)

Indonesia has one of the world’s worst deforestation rates, averaging at around 2 million hectares a year. In 1950 the forest cover of Indonesia was about 160 million hectares, today less than 48 million hectares are left.
Massive deforestation of Indonesia began in the 1970s with the expansion of the timber industry. Then came the pulp and paper industry followed by the palm oil industry. Today, the major driving force behind Indonesian deforestation comes from the international demand for palm oil to make biofuels. An October 2009 report by the United Nations Environment Programme (UNEP) found that: “95 per cent of the increased production of palm oil in Malaysia and Indonesia was driven by the growing demand for biodiesel”, and that “two-thirds of the current expansion of palm oil cultivation in Indonesia is based on the conversion of rainforests”.
This demand comes essentially from India, Europe and China who are all promoting palm oil biodiesel as tomorrow’s best renewable “green”energy to combat climate change. But reports show that converting forests into oil palm plantations for biofuel actually worsens climate change. Palm oil bio-diesel is not really about combating climate change, it is just about making money.
The Indonesian archipelago is made of about16000 islands for a total area of 1 900 000 km2. Orangutans in the wild can now only be found in the forests of Sumatra and Borneo.

Palm Oil

Indonesia is the largest palm oil producer in the world and plans to expand its palm oil plantations from the present 7 million hectares to 20 million hectares in the years to come.
Besides bio-diesel, palm oil is also used to process a broad range of final products in a number of industrial sectors:

Food industry

Palm oil is valued by the food industry for its competitive price compared to other oils and fats, its nutritional advantages over other fats and the fact that it contains hardly any cholesterol. Ingredients derived from palm oil are used in margarine, frying fat, shortenings, mayonnaise, sauces, salad oil, potato chips, crisps, instant noodles, snacks, biscuits, bread, cakes, pastry, chocolate, confectionaries, ice cream, coffee whitener and many other food products. It is often labelled as vegetable oil.

Soap and detergents industry

Lauric oils are indispensable in soap making. Good soap must contain at least 15% lauric oils for quick lathering, while soap made for use in sea water is based on virtually 100% lauric oils. Palm oil is still used to make soap as well, but on a declining scale.

Cosmetics industry

Palm oil has the advantage of being more easily absorbed by the skin than other oils, so it is found in beauty creams, lotions, shampoo, lipsticks…

Leather and textile industry

Palm oil is used for greasing and softening leather. In the textile industry it is used as a lubricant, since it has the advantage of being easier to remove than mineral oil.

Metal industry

Palm oil is used on a large scale for cold rolling of thin metal sheet, and sharpening and polishing special steels.

Chemical industry

Palm oil and palm kernel oil are used for the production of plasticizers and as additives to plastics, rubber and textiles. They are also used in the production of paint and surface coatings.

Other industries

Palm oil is also used as a substrate for cultivating yeast, as a lubricant additive, as a component in ski wax and printing ink, to make candles, as an ingredient for insecticides and fungicides, and substances used in the electronics industry…
Read Post | nhận xét

Chống biến đổi khí hậu: Cuộc chiến vì tương lai của nhân loại

Chống biến đổi khí hậu: Cuộc chiến vì tương lai của nhân loại
tuyetMột hiến chương mới của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu (BĐKH) dự kiến sẽ được ký kết vào tháng 12 tới tại Copenhagen (Đan Mạch). Đây sẽ là “liều thuốc thử” những nước giàu nhất trên thế giới trong việc đưa ra những cam kết cụ thể để giảm nhẹ tình trạng biến đổi khí hậu trên thế giới. Những nghiên cứu mới đây nhất đều chỉ ra rằng chính những nước giàu là thủ phạm chính của tình trạng biến đổi khí hậu trên toàn cầu.

Trách nhiệm của các nước giàu
Suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến tiến triển trong việc đối phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) chậm lại, nhưng lãnh đạo (các nước giàu) cần phải chống lại tình trạng hoài nghi và thúc đẩy tiến trình lên phía trước”, Tổng thống Mỹ Barack Obama phát biểu tại Hội nghị G8 diễn ra trong tháng 7 vừa rồi tại Aquila (Ý).

Tám nước giàu nhất thế giới: Mỹ, Anh, Canada, Nhật, Đức, Ý,  Pháp và Nga đã đưa ra mục tiêu giảm lượng khí thải nhà kính xuống còn 80% vào năm 2050, trong khi mục tiêu này của cả thế giới là 50%.
Cuộc họp Thượng đỉnh cũng đã yêu cầu các nước mới nổi như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Mêhicô và  Nam Phi cam kết tham gia Hiệp định thư, giảm các hiệu ứng tiêu cực để nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 2oC. “Sẽ không thực sự có hiệu quả tốt nếu các nước giàu như châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canada chấp nhận giảm các chất gây hại, tức là sẽ bị thiệt thòi về kinh tế nếu như hơn 5 tỉ người ở các nước đông dân và các nền kinh tế mới nổi khác lại không tham gia vào việc này trước”, Thủ tướng Ý Silvio Berlusoni nói.
Tuy nhiên, trước đó, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban-Ki-moon lại chỉ trích kế hoạch của các nước G8 về biến đổi khí hậu, cho rằng là không công bằng nếu các nước giàu không giúp đỡ các nước nghèo trong việc cắt giảm khí thải ở những nước này.
Ông Ban gợi ý rằng G8 cần phải tìm cách để tài trợ cho những nước nghèo nhất, giúp họ thay đổi các tác nhân gây ô nhiễm và thay đổi công nghệ phù hợp nhằm giảm các chất thải gây hiệu ứng nhà kính. “Những chính sách mà họ bắt đầu còn lâu mới đủ với yêu cầu”, ông nói.
“Đây là khoa học và chúng ta phải làm việc theo khoa học. Đây cũng là đòi hỏi cấp bách không chỉ về chính trị, đạo đức và cả trách nhiệm lịch sử đối với các nhà lãnh đạo (G8) vì tương lai của nhân loại, thậm chí tương lai của cả Trái đất”.
Các nền kinh tế mới nổi cho tới nay vẫn từ chối đưa ra cam kết cụ thể về cắt giảm khí thải. Một số nước còn lẩn tránh đưa ra những cam kết trước Hội nghị của Liên Hiệp Quốc sắp tới.
Các nước này sợ quá trình công nghiệp hóa của nước họ sẽ không đạt được mục tiêu nếu cam kết cắt giảm các chất gây thải.
Một số nước cũng nói họ muốn thấy các nước giàu cung cấp trợ giúp tài chính và công nghệ cho các nước đang phát triển để chiến đấu chống lại biến đổi khí hậu. Trong khi đó các nhà nghiên cứu cho rằng việc Chủ tịch Hồ Cẩm Đào rời hội nghị sớm sẽ khiến các cơ may tiến triển trong các cuộc hội đàm về biến đổi khí hậu không còn nữa. Ông Hồ rời khỏi hội nghị vì tình trạng bạo loạn diễn ra tại tỉnh miền Tây Tân Cương của nước này.

Những bước đi ban đầu
“Trợ giúp của các nước G8 chỉ là bước đi ban đầu trong một tiến trình dự kiến sẽ diễn ra rất lâu dài và khó khăn”, Guy Caruso, nhà tư vấn cao cấp về năng lượng và chương trình an ninh quốc gia của Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu quốc tế tại Washington.
Thủ tướng Stephen Harper của Canada kêu gọi giải pháp cần “mạnh mẽ hơn ở cấp quốc gia” hơn chỉ là những thông cáo báo chí của Hội nghị G8 năm ngoái, trong khi Thủ tướng Anh Gordon Brown lại gọi Hội nghị G8 lần này là cuộc gặp gỡ lịch sử và Thủ tướng Đức Angela Merkel thì cho rằng đó thực sự là một “bước tiến rõ ràng lên phía trước”.
Phát biểu với báo giới sau bài diễn văn của Tổng thống Obama, Thủ tướng Harper nói “một bước tiến quan trọng là chúng ta đã đồng thuận về các mục tiêu đối với các nước phát triển”.
Tuy nhiên, ông cũng nói thêm rằng: “Vẫn còn một con đường quá xa đối với mọi người, trong đó có cả một số lượng lớn các nước đang phát triển cũng cần phải có mục tiêu cắt giảm. Đó sẽ là bước đi tiếp”.

Bộ trưởng Môi trường Canada Jim Prentice nói, nước này sẽ đạt được mức khí thải thấp nhất vào năm 2050 và đây sẽ là tấm gương cho các nước phát triển khác. Nhưng cũng sẽ là khó khăn đối với đất nước khi đưa ra kế hoạch giảm chất thải xuống còn 70% vào năm 2050, ông nói.
Ông cho rằng Canada không cần phải thay đổi chiến lược để đạt được mục tiêu này. “Chúng tôi đang trong tiến trình giảm 20% khí thải cho tới năm 2020 và 60-70% vào năm 2050”, ông cho biết.
Nhà lãnh đạo phái tự do Micheal Ignatiff chỉ trích các tiến bộ và các nhà bảo thủ đạt được trong vấn đề này. “Chúng ta quả là những người lạc hậu trong vấn đề này”, Ignatieff đã nói tại London. “Chúng ta phải là những nhà lãnh đạo, những người đi đầu trong việc này”.
Trong khi mục tiêu 2050 của G8 đang trên đúng con đường cần đi thì nhà lãnh đạo NDP Jack Layton nói ông hy vọng Harper không chỉ nói về vấn đề mà cần phải hành động. “Chúng tôi biết chắc rằng các nước như Đức và Bắc Âu đã đi được rất xa so với vị trí mà chúng ta đang đứng. Họ hiểu các cơ hội để tạo ra các công việc sạch nhằm thay đổi triệt để cách sống của chúng ta”, Layton nói.

Tuyên bố của các nước nghèo
Ngày 29/7 vừa qua, tại Dhaka (Bangladesh), Tổ chức dân sự quốc tế (International Civil Society-ICS) của những nước dễ bị tổn thương nhất bởi BĐKH đã ra tuyên bố sau hai ngày tiến hành hội thảo: Các quyền của những nước dễ bị tổn thương nhất trong các cuộc hội đàm về BĐKH.
Tuyên bố này kêu gọi Chính phủ của toàn bộ các nước trên thế giới thừa nhận sự đe dọa của BĐKH đặt ra đối với sự sinh tồn và phát triển của loài người đối với các nước dễ bị tổn thương nhất, trong đó các nước kém phát triển nhất, các hòn đảo nhỏ và các nước châu Phi. Tuyên bố cũng kêu gọi Chính phủ của các nước thành viên ICS cùng kết hợp với nhau để nâng cao tiếng nói trong các cuộc thảo luận quốc tế. Tuyên bố cũng đề nghị toàn bộ các bên có tên trong Hiệp định khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (UNFCCC) thừa nhận các nước dễ bị tổn thương nhất (MVCs) là một thực thể có tiếng nói chung trong toàn bộ các cuộc thương thảo về BĐKH. Theo đánh giá của ICS, các nước MVCs hiện có số dân lên tới hơn 1 tỉ người.
“MVCs cần phải được nhanh chóng trợ giúp để có thể thích nghi với tình trạng BĐKH, vốn không thể tránh được đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu”, tuyên bố nói rõ.
Các nước tham gia bản tuyên bố cũng yêu cầu mỗi năm có khoảng ít nhất 150 tỉ USD được cung cấp cho UNFCCC để giải quyết các vấn đề về BĐKH tại các nước đang phát triển, trong đó có ít nhất 50 tỉ USD dành cho việc thích nghi với BĐKH và các nước MVCs phải là những nước được ưu tiên.
Việc cung cấp tài chính cho các nước đang phát triển, vẫn theo bản tuyên bố cần là nguồn vốn phụ, nhưng độc lập với vốn dành cho tài trợ phát triển (ODA), với mục tiêu vào khoảng 0,7% tổng sản phẩm quốc nội (GNI).
Hy vọng ở tương lai
Chưa biết kết cục sẽ như thế nào ở Hội nghị về BĐKH của Liên Hiệp Quốc tại Copenhagen vào tháng 12 tới, nhưng rõ ràng động thái của các nước trước vấn đề này trên thế giới vẫn khá khác biệt nhau.
Dù cho có những tiến bộ về chính trị (có thể dẫn tới chính sách) trước tình trạng BĐKH ở các nước lớn và các nền kinh tế mới nổi, khả năng đi tới những thay đổi ngoạn mục tại Copenhagen là chưa chắc chắn.
Trong khi đó, các nước nghèo đang tìm cách liên kết, tập hợp nhau lại để đòi quyền lợi trước các nước giàu, những nước có khả năng đảm bảo tài chính cho một chiến lược nhằm hạn chế tác hại của BĐKH trên phạm vi toàn thế giới.
Mặc dù các cuộc đàm phán vẫn còn đang tiếp diễn nhưng người ta vẫn kỳ vọng vào tương lai, bởi ít nhất nhận thức về BĐKH cũng đã thay đổi ở nhiều người, trong đó có những người lãnh đạo cao nhất ở các nước giàu.
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ
Read Post | nhận xét

Làm gì trong cuộc chiến biến đổi khí hậu?

Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng đang là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong Thế kỷ 21. BĐKH tác động lên tất cả các lĩnh vực: tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội và sức khoẻ con người trên phạm vi toàn cầu, đến mức đe dọa sự tồn tại của Trái đất, của Nhân loại và “đòi hỏi thế giới phải hành động ngay và nhanh chóng hơn bao giờ hết, khi chưa quá muộn” (UN, 2007)
Về mặt kinh tế, ấm lên toàn cầu có thể làm kinh tế thế giới suy giảm đến 20%. Nếu không hành động, tổng thiệt hại do BÐKH gây ra sẽ tương đương ít nhất là 5% GDP toàn cầu mỗi năm. Ngược lại, theo ước tính, nếu thế giới chỉ cần 1% GDP cho cuộc chiến chống BÐKH thì có thể tránh được những tác động xấu của thảm họa này.
Trên phạm vi toàn cầu, chưa bao giờ cộng đồng quốc tế lại có sự đồng thuận và quyết tâm cao như vậy trong cuộc chiến chống BÐKH. Ba năm liền, Thông điệp của Tổ chức Môi trường LHQ (UNEP) gửi nhân loại nhân Ngày môi trường Thế giới (ngày 5/6) đều tập trung vào chủ đề BÐKH với mức độ ngày một khẩn thiết hơn: “Băng tan - một vấn đề nóng bỏng?" (2007); “Hãy thay đổi thói quen! Hướng tới một nền kinh tế ít các bon" (2008) và năm 2009 là “Trái đất đang cần bạn! Hãy LIÊN HỢP lại để phòng chống BÐKH".
Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng và triển khai các Chương trình, Kế hoạch ứng phó với BÐKH trong đó có Kế hoạch Quốc gia thích ứng với BÐKH của các nước đang phát triển (NAPA).
Thực tế của Việt Nam
Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi khí hậu (NTP)đã được thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 2/12/2008 và trở thành định hướng và chiến lược cơ bản quốc gia để ứng phó với BÐKH.Chương trình này được thực hiện trên phạm vi toàn quốc theo ba giai đoạn: Khởi động (2009 - 2010), Triển khai (2011 - 2015) và Phát triển (sau 2015). Mục tiêu chiến lược của Chương trình là đánh giá được mức độ tác động của BÐKH đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với BÐKH cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng cácbon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BÐKH, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất. Chương trình tập trung vào các mục tiêu cụ thể: Ðánh giá mức độ biến đổi của khí hậu Việt Nam do BÐKH toàn cầu và mức độ tác động của BÐKH đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương; Xác định được các giải pháp ứng phó với BÐKH; Tăng cường các hoạt động khoa học công nghệ nhằm xác lập các cơ sở khoa học và thực tiễn cho các giải pháp ứng phó với BÐKH; Củng cố và tăng cường năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về BÐKH; Nâng cao nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng và phát triển nguồn nhân lực; Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ sự giúp đỡ, hỗ trợ của quốc tế trong ứng phó với BÐKH; Tích hợp vấn đề BÐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và địa phương; Xây dựng và triển khai các kế hoạch hành động của các bộ, ngành và địa phương ứng phó với BÐKH; triển khai các dự án, trước tiên là các dự án thí điểm.

Chúng ta phải làm gì?
Vừa qua, các kịch bản về BÐKH ở Việt Nam, đặc biệt là nước biển dâng từ năm 2010 - 2100 về cơ bản đã được xây dựng và cập nhật. Nhiệm vụ tiếp theo là dựa trên các kịch bản này, tất cả các bộ, ngành và địa phương sẽ phải: Ðánh giá được tác động của các kịch bản BÐKH tới các lĩnh vực hoạt động của ngành, của địa phương, và trên cơ sở đó xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết phù hợp cho ngành cũng như địa phương mình để từ năm 2011 chuyển sang giai đoạn tiếp theo giai đoạn 2 – giai đoạn Triển khai thực sự những hoạt động thích ứng và giảm nhẹ BÐKH trên phạm vi toàn quốc.
Ðể là được điều này, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức lớn. Khó khăn trước tiên là sự yếu kém về nhận thức của toàn xã hội, ở mọi cấp, từ các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ ở các ngành và địa phương, các tổ chức xã hội cũng như bản thân các cộng đồng về tác động của BÐKH. Vì thế, nâng cao nhận thức về BÐKH rõ ràng là hoạt động cần được ưu tiên đầu tiên, phải được làm ngay và làm một cách hệ thống đối với mọi tầng lớp trong xã hội.
Khó khăn thứ hai là khả năng tích hợp các vấn đề BÐKH vào các quá trình hoạch định chính sách: các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển và sự phối hợp điều hành thực hiện giữa các ban ngành, giữa các cấp từ trung ương tới địa phương. Ðây chính là vấn đề xây dựng năng lực gồm năng lực tổ chức, năng lực khoa học công nghệ, năng lực con người… Các hoạt động này có lẽ cần phải đi trước một bước và cũng phải làm ngay từ bây giờ, trong đó chức năng quan trọng thuộc về các cơ quan giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ…
GS.TSKH Trương Quang Học
Read Post | nhận xét

Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách

“Tiến bộ của nhân loại không phải tự dưng mà có và cũng không phải là một điều đương nhiên. Giờ
đây, chúng ta đang đối mặt với thực tế là ngày mai cũng chính là ngày hôm nay. Chúng ta đang đối
mặt với một tình huống hết sức khẩn cấp của ngày hôm nay. Trong bài toán nan giản này của cuộc
sống và lịch sử, chúng ta thấy một vấn đề là có lúc mọi việc trở nên quá muộn màng…..Chúng ta
có thể kêu gào một cách vô vọng để thời gian ngừng trôi, song con tàu thời gian đâu có để ý đến
tiếng cầu cứu, van xin nào, nó cứ lao đi một cách vội vã. Trong đống ngổn ngang hài cốt và tàn dư
của nhiều nền văn minh nổi lên một dòng chữ đầy nuối tiếc: quá muộn mất rồi.”
Link Download tài liệu
Read Post | nhận xét


Tác giả: PGS.TS. Bảo Huy
Dịch giả: Khác
Hiệu đính: Không có
Khổ sách: 15 x 23
Số trang: 152
Năm xuất bản:
Giá bìa: 45.000 VNĐ
Sự phát triển của GIS (Hệ thống thông tin địa lí) và ảnh viễn thám đã mở ra nhiều hướng ứng dụng trong nhiều ngành khoa học và quản lý. Đặc biệt đối với lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng và môi trường, công nghệ này hỗ trợ đắc lực cho quản lý cơ sở dữ liệu, phân tích dữ liệu để lựa chọn các giải pháp quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả tài nguyên.
GIS ứng dụng rất rộng, đa ngành và có hiệu quả, do vậy xu hướng hiện nay là cần phải cập nhật kiến thức, kỹ năng này ở nhiều ngành quản lý, sản xuất để ứng dụng. Hiệu quả của ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám là:
       - Giảm chi phí thời gian, lao động
       - Số liệu chính xác
       - Dữ liệu được quản lý, lưu giữ ở trạng thái động
       - Có thể áp dụng ở bất cứ quy mô nào
       - Tạo cơ hội cho việc phân tích, tạo ra kiến thức, giải pháp mới trên cơ sở nền dữ liệu gắn với thuộc tính thông tin địa lý
Do vậy việc vận dụng GIS và viễn thám sẽ hỗ trợ rất lớn cho nhiều đối tượng như:
       - Nhà quản lý để quy hoạch và ra các chính sách
       - Đối với nhà kỹ thuật, nghiên cứu: Phân tích các vấn đề có tính hệ thống cao
       - Đối với người ứng dụng: Được cung cấp thông tin cụ thể, chính xác, đầy đủ và cập nhật thường xuyên; được cung cấp các giải pháp để lựa chọn trong quản lý sử dụng tài nguyên.
Thu tục Đặt mua sách    Download
Read Post | nhận xét

Công nghệ web GIS ( web Map ) của google


Nói về GIS thì chắc ngoại trừ NASA wordwin (nguồn mở) ra thì google phải nói là một đại gia về GIS mà cụ thể là web GIS và ứng dụng googleEarth. 
 Làm thế nào mà google lại đưa dữ liệu GIS lên web nhanh như vậy?. Dữ liệu cả thế giới nếu bạn mở AcrGIS lên hay một phần mềm GIS Desktop nào lên và zoom full thì hẳn bạn phải ngồi chờ và đi uống vài cử cafe hoặc Có khi là "out of memories" cũng nên. 
Phải nói ý tưởng và thuật toán của google thật độc đáo. 
 Sau đây là tóm tắt công nghệ đưa bản đồ lên web của goole mà vài năm gần đây Việt Nam đã tìm hiểu và sử dụng khá thành công.
Tôi đã mất khoảng 1 tháng để hoàn thành code và công nghệ trên để có thể đưa bản dồ TPHCM lên Web theo kiểu chơi của đại gia maps thế giới này.
Đầu tiên: Ta không thể vẽ ra (render) một hình bản từ dữ liệu và vẽ (đưa) trực tiếp lên web. Công việc này tốn một khoảng thời gian phải chờ đợi. Vả lại mỗi lần Zoom( phóng to , thu nhỏ) hay pan(kéo rê bản đồ) thì phải tạo ra ảnh mới. Cách này thời gian không cho phép nếu phải truyền dữ liệu trên môi trường Internet.
Vậy muốn nhanh phải làm như thế nào?? Chắc chắn một điều là phải tạo ra ảnh trước đó và khi zoom, pan thì chỉ việc đưa ảnh ra thôi. Vậy tạo bao nhiêu ảnh cho đủ???
Cách nghỉ đơn giản đầu tiên mà tôi nghĩ ( và tôi chắc chắn là người làm ra cũng đã nghĩ như vậy) là tạo ra tấm ảnh khổng lồ và chỉ việc kéo rê hoặc zoom pan nó. Làm sao để tạo ra được những tấm ảnh khổng lồ như vậy?? Có phần mềm GIS nào làm được không??
Theo tôi test thử thì không có phần mềm nào làm được điều này vì đơn giản là máy tính chưa cho phép sử dụng một bộ nhớ lớn như vậy. Bạn thử dùng code tạo ra một hình ảnh (bitmap) với kích thướt 13800X13800 pixel là đủ biết thế nào. Hoặc có thể bạn tạo được lớn hơn nhưng vẫn có một giới hạn cho phép. và ngay cả bản đồ HCM thôi cũng là không thể tạo ở mức độ zoom lớn nói j đến thế giới. Thêm vào đó giả sử nếu ta tạo ra được những tấm ảnh khổng lồ liệu website của bạn có load lên liên tục nhanh không?Câu trả lời là rất chậm,nếu một ảnh lớn thì web load lên cũng khá lâu và lại phải chờ.
Vậy làm sao đây?? Nghĩ đơn giản một chút , cắt nó nhỏ ra rồi ráp nó lại theo thứ tự là OK. Vâng đó là cách nghĩ của thế giới của những người vĩ đại. Suy nghĩ thật đơn giản nhưng thực hiện thì không.Đầu tiên làm thế nào cắt ra theo từng mảnh. Phải tự mình viết lấy phần mềm ( hoặc tìm phần mềm hổ trợ). Và tôi đã chọn tự viết lấy từ mã nguồn mở. Một cách vừa có thể quản lý được công việc và vừa tiết kiệm được thời gian.
google maps đưa bản đồ lên web như thế nào?


Đầu tiên anh ta cắt bản đồ theo từng độ phóng to ,thu nhỏ(độ zoom) khác nhau. Mỗi mức độ như vậy sẽ cắt ảnh mỗi tấm là 256x256 hoặc có thể chọn khác( 512x512) chẳng hạn.
Như vậy ở mỗi độ zoom khác nhau số lượng ảnh sẽ khác nhau. Và để đơn giản tôi chọn tỉ lệ zoom lớn = 2 lần tỉ lệ zoom nhở hơn. Tức là khi bản đồ của bạn ở kích thướt 1:50000 thì khi zoom in ( phóng to hơn một mức) tỉ lệ sẽ là 1:25000.
Giả sử tấm zoom full toàn thế giới của bạn chỉ có kích thướt 256x256 pixel (tức là bạn có 1 tấm ảnh kích thướt 256x256 chứa hình ảnh bản đồ toàn thế giới). Vậy khi zoom in ( phóng to lên mức nữa) thì ảnh của bạn sẽ to gấp đôi ( tức là kích thướt 512x512 chứa full). Cứ như vậy bạn phóng to thì ảnh sẽ lần lượt là : 1024x1024, 2048x2048,…Và nếu tôi gọi mức đầu tiên (256x256) là 0 thì tôi có mức n sẽ có kích thướt 256.2nx256.2n.
Như vậy nếu tôi cắt ảnh ở mỗi mức ra kích thướt 256x256. Thì mức thứ 2 tôi sẽ có 4 ảnh ( vì 512x512 sẽ cắt làm 4 tấm 256x256), và mức n tôi sẽ có 2n.2n tấm ảnh nhỏ.
Và khi đưa lên web chỉ cần ráp những tấm ảnh này theo độ zoom, pan mà người dùng thao tác là xong. That’s all.
Read Post | nhận xét

GIS sẽ ra sao nếu nếu dữ liệu không đáng tin cậy?

Khó khăn lớn nhất, khó vượt qua nhất trong việc phát triển và ứng dụng GIS là sự thiếu hợp tác của các tổ chức và cá nhân được giao trách nhiệm nắm giữ các loại thông tin, dữ liệu. GIS sẽ ra sao nếu không đủ thông tin, nếu dữ liệu không đáng tin cậy?
Gần đây liên tiếp có những tín hiệu vui với những người quan tâm đến sự phát triển và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (geographical information system - GIS) từ các địa phương.

Tỉnh miền núi Lào Cai đã mạnh dạn đầu tư xây dựng 888 bản đồ điện tử một cách đồng bộ, thống nhất ở ba cấp tỉnh, huyện, xã bằng công nghệ GIS và đưa các sản phẩm này lên internet nhằm chia sẻ rộng rãi cho các đối tượng và mục đích sử dụng khác nhau. Thành công của Lào Cai sẽ kích thích các tỉnh, thành phố chọn lựa để triển khai những ứng dụng phù hợp với điều kiện của địa phương từ rất nhiều ứng dụng của GIS.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, từ một đề tài KHCN cấp nhà nước hỗ trợ cho các địa phương xây dựng 14 lớp bản đồ số hóa, đến các dự án quốc tế hỗ trợ kỹ thuật cho các ngành, các địa phương ở nước ta, dù ở lĩnh vực nào, cũng thường có nội dung liên quan đến GIS. Mức độ thành công của đề tài cấp nhà nước về GIS và nội dung liên quan đến GIS của các dự án quốc tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng đóng góp đáng ghi nhận nhất của chúng là ảnh hưởng tích cực đến nhận thức về tầm quan trọng của GIS và khả năng ứng dụng tuyệt vời của nó.
Hàng trăm công trình nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã được triển khai thực hiện, được báo cáo ở 13 hội thảo khoa học về GIS hằng năm tại TP Hồ Chí Minh với tên gọi rất ấn tượng là GISNet - mạng lưới GIS. Một số dự án ứng dụng GIS đã có những thành công như ở UBND quận Gò Vấp, Sở Khoa học và Công nghệ (KH và CN) Ðồng Nai, UBND TP Ðà Lạt, Sở Y tế Quảng Trị, Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Ngãi... Các ứng dụng GIS được triển khai ở tất cả các lĩnh vực: giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường (thí dụ, giám sát sự biến động đa dạng sinh học bằng cách kết hợp các dữ liệu viễn thám và quan sát của cộng đồng trong dự án Hành lang xanh, tỉnh Thừa Thiên - Huế), phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp và nông thôn (trồng trọt, phòng trừ dịch bệnh), phát triển du lịch, quản lý đô thị (thí dụ điển hình là quận Gò Vấp với mục tiêu đẩy tham vọng "quản lý từng căn nhà, từng hộ gia đình" trong quận), quản lý quy hoạch và đầu tư, quy hoạch nuôi trồng thủy sản (dự án Quản lý tổng hợp các hoạt động trên đầm phá (IMOLA), tỉnh Thừa Thiên - Huế).

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và ứng dụng GIS ở Việt Nam, giới làm GIS và các địa phương đang gặp những khó khăn từ nhiều phía, có cả những khó khăn do chính họ tạo ra.

Khó khăn thứ nhất là vẫn chưa có một định hướng chiến lược, một chương trình tổng thể về phát triển và ứng dụng GIS của quốc gia và các địa phương.

Khó khăn thứ hai là, đến nay, trong CNTT nói chung và GIS nói riêng, Nhà nước chưa ban hành các loại chuẩn, bao gồm các chuẩn thông tin, dữ liệu và quy trình và không có quy định buộc phải áp dụng chuẩn. Mà thiếu chuẩn thì thông tin, dữ liệu không thể tích hợp, trao đổi và chia sẻ, các bản đồ không thể ghép nối được với nhau. Mới đây có thông tin rằng 95% các mảnh bản đồ GIS của TP Hồ Chí Minh không ghép nối được với nhau. Thông tin, dữ liệu nếu không được tích hợp thì sẽ ít giá trị gia tăng; nếu không được trao đổi và chia sẻ cũng có nghĩa là ít người được sử dụng thì vô cùng lãng phí và kém giá trị. Vì vậy rất cần có tiếp cận đúng về chia sẻ thông tin. Nhận thức của thời đại ngày nay về thông tin là nguồn lực cho phát triển và là tài sản của xã hội, cần được dùng chung,  phải được tuyên truyền phổ biến và luật hóa để nó trở thành nhận thức chung của toàn xã hội.

Khó khăn thứ ba là trong mục tiêu của chương trình công nghệ thông tin từ cấp quốc gia đến các ngành, các cấp, các hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, được xây dựng theo chuẩn thống nhất, phù hợp với chuẩn quốc tế nhằm chia sẻ, trao đổi được trong phạm vi quốc gia và quốc tế, tích hợp được vào hệ thống chung toàn quốc chưa được chú trọng. Các trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước ít người truy cập vì người ta tìm thấy ở đó ít thông tin hữu ích, cập nhật. Ðến nay, vẫn chưa có quy định nào của Nhà  nước về xây dựng, cập nhật, nâng cấp, sử dụng và quản lý các cơ sở dữ liệu tổng hợp và chuyên ngành Luật CNTT có quy định về việc giao cho các bộ, ngành (Ðiều 58) hoặc các tỉnh/thành phố (Ðiều 59) các nhiệm vụ này. Nhưng bao giờ các nhiệm vụ đó phải được thực hiện và hoàn thành thì không được quy định.

Khó khăn lớn nhất, khó vượt qua nhất trong việc phát triển và ứng dụng GIS là sự thiếu hợp tác của các tổ chức và cá nhân được giao trách nhiệm nắm giữ các loại thông tin, dữ liệu. GIS sẽ ra sao nếu không đủ thông tin, nếu dữ liệu không đáng tin cậy? Các tổ chức làm GIS chưa được tập hợp lại thành một tổ chức đủ mạnh, đủ năng lực làm được những việc có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn. Ít người nghĩ đến việc trao đổi, chia sẻ và tích hợp các dữ liệu và xây dựng những hệ thống thông tin quốc gia hoặc địa phương.

Rõ ràng là, để khắc phục những khó khăn trên, để phát triển GIS trong phạm vi toàn quốc, phạm vi một ngành hoặc địa phương hay chỉ để xây dựng và thực hiện một dự án GIS, cần có cách tiếp cận hệ thống. Rất may mắn là dự án Xây dựng hệ thống thông tin địa lý của tỉnh Thừa Thiên - Huế (được gọi gắt là dự án GISHue) về cơ bản đã tuân theo cách tiếp cận này nên đã thu được những thành công bước đầu.

Về bản chất GIS là một hệ thống. Hệ thống ở đây được hiểu là tập hợp của nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, làm thành một thể thống nhất, đồng thời còn được hiểu là phương pháp, cách thức phân loại, sắp xếp các yếu tố đó một cách trật tự, logic. Các yếu tố cấu thành GIS là phần cứng, phần mềm, các cơ sở dữ liệu, quy tắc vận hành hệ thống và con người. Trong các yếu tố này, các cơ sở dữ liệu có vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống, làm nên sức mạnh của hệ thống, thông thường chiếm đến ba phần tư thời gian, công sức và tiền bạc của một dự án GIS, nhưng lại chưa thật sự được quan tâm. Quy tắc vận hành, bao gồm các quy chuẩn kỹ thuật và quy tắc hành chính là cần thiết cho bất kỳ một hệ thống nào hoạt động trơn tru, hiệu quả, nhưng thật đáng tiếc là hầu hết các dự án GIS hiện nay ở Việt Nam đang bỏ qua thành phần quan trọng này. Có thể, khi xây dựng và quyết định đầu tư một dự án GIS chúng ta chưa chú ý đến việc phối hợp các mục tiêu, hướng đến các đối tượng tiềm năng sẽ hưởng thụ thành quả dự án thông qua việc chia sẻ và trao đổi thông tin liên ngành với quốc gia, quốc tế. Nếu chú ý đến mục tiêu đó, thì tự nhiên phải quan tâm đến việc khớp nối, liên kết các cơ sở dữ liệu được xây dựng một cách độc lập bởi một bộ chuẩn đầy đủ.

GIS và các ứng dụng của nó đang phát triển nhanh chóng. Ðó là các dịch vụ kết hợp GIS với hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để hiển thị vị trí nhà hàng, khách sạn, tìm đường... được cài vào các thiết bị cầm tay, các ứng dụng bản đồ trên web cho phép tạo lập các ứng dụng của riêng mình, các nghiên cứu sự biến động của các quá trình trên trái đất theo thời gian và tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng... đang rất cần được phát triển đúng hướng.

Những gì chúng tôi mạo muộn gọi là "cách tiếp cận" không có gì mới so với thế giới, nhưng là mới ở nước ta, vì chúng ta có những điều kiện khách quan và chủ quan riêng có, nên chưa thực hiện được. Hy vọng rằng với tinh thần hội nhập, chúng ta cũng sẽ hội nhập cả về cách làm, để GIS của nước ta không còn là những kết quả đơn lẻ, phân tán, không thể tập hợp lại thành hệ thống như chính tên gọi của nó.

Read Post | nhận xét

Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội: Đưa GIS vào quản lý đất

Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - GIS) - một công nghệ lập bản đồ, quản lý, phân tích và hiển thị tri thức địa lý - đang phát huy tác dụng ở quận Hai Bà Trưng (Hà Nội) và hứa hẹn sẽ mang lại những dịch vụ công về đất đai hiệu quả.
HBT là một quận lớn của TP. Hà Nội (HN) với 1.005 tổ chức, sử dụng 1.300 lô đất, chưa kể gần 20.000 chủ sử dụng nhà tập thể, hơn 17.000 chủ sử dụng đất thuộc Nhà Nước... Khối lượng hồ sơ, tài liệu lưu trữ rất lớn và nhiều chủng loại, khiến việc quản lý gặp nhiều khó khăn.
Từ khi về nhận công tác tại Phòng Tài Nguyên – Môi Trường (TN-MT) quận HBT, ông Bùi Văn Hải , trưởng phòng đã thường xuyên gặp các công ty tin học để tìm một giải pháp quản lý thông tin, bản đồ đất đai tốt hơn. Thế nhưng, phải đến khi DMC Group, một tập đoàn chuyên về phát triển và ứng dụng công nghệ GIS, đặt vấn đề hợp tác để số hóa toàn bộ CSDL đất đai trên địa bàn quận, mọi ý tưởng mới trở nên khả thi.
Bên cạnh ứng dụng GIS xây dựng ngân hàng dữ liệu về đất đai, dự án "Ứng dụng CNTT xây dựng hệ thống thông tin địa lý phục vụ quản lý nhà nước và đô thị” của quận HBT cũng được tiến hành. Dự án này hiện mang đến một số kết quả: số hóa toàn bộ CSDL về đất đai trên địa bàn quận theo công nghệ GIS, một số mô-đun nghiệp vụ đã được đưa vào ứng dụng như quản lý thông tin đất đai, cập nhật thông tin hồ sơ, cập nhật biến động bản đồ, quản lý biến động. Đối với nhu cầu quản lý đất đai cấp quận tại Phòng TN-MT quận, dự án hỗ trợ xây dựng quy trình nghiệp vụ xử lý hồ sơ đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) trên môi trường mạng LAN.
Với hệ thống mới, cán bộ chuyên môn có thể tiếp nhận, xem và duyệt hồ sơ ngay trên mạng từ CSDL bản đồ số hóa, nên chỉ mất 5 phút (tối đa là 30 phút) để hoàn tất quy trình cấp GCN QSDĐ thay vì 2 ngày như trước đây. Ông Phùng Anh Quân, cán bộ trực tiếp làm công tác cấp GCN QSDĐ cho biết: đến nay, quận đã thực hiện 95% việc cấp GCN QSDĐ.
Bên cạnh đó, nhờ CSDL bản đồ số hóa, công tác quản lý hồ sơ dữ liệu về địa chính – nhà đất, cấp các loại giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà... cũng được đơn giản hóa; các hồ sơ báo cáo, thống kê đều được lập tự động theo mẫu quy định.
Hiện tại, mỗi ngành đều tự đo vẽ lấy các bản đồ để phục vụ công tác quản lý trong lĩnh vực của mình.Việc đo vẽ bản đồ theo cách làm thủ công tiêu phí thời gian, công sức, tiền bạc mà vẫn luôn không đúng thực tế và không chia sẻ được dữ liệu cho nhau. Theo ông Quân, trước đây, mỗi khi xét duyệt để cấp GCN QSDĐ, cán bộ chuyên trách phải chồng nhiều lớp bản đồ giấy lên nhau để đối chiếu. Thao tác thủ công này không thể tránh khỏi sai sót. Về kinh phí, để vẽ một tờ bản đồ địa chính của một phường ở HN mất 1- 2 tỷ đồng (tùy theo địa bàn phường lớn hay nhỏ). HN có 232 phường; để vẽ xong bản đồ của TP. HN phải tốn khoảng trên 100 tỷ đồng và phải mất 5 năm. Trong thời gian 5 năm đó, có rất nhiều thay đổi và bản đồ vừa vẽ xong đã trở nên lạc hậu.
Giải pháp DMC ProLAN của tập đoàn DMC là một bản đồ nền do công ty xây dựng, từng ngành sẽ đưa thêm vào đó dữ liệu để có bản đồ chuyên ngành. Tất cả CSDL bản đồ được chia sẻ trên mạng LAN. Khi cần tham khảo, cán bộ có thể sử dụng công nghệ chồng ghép bản đồ để đối chiếu. Đối với những thay đổi trên thực địa, chỉ cần cập nhật mới về dữ liệu mà không cần phải đo vẽ lại khu vực đó. Điểm nổi bật trong giải pháp DMC ProLAN là khả năng liên kết giữa thông tin dữ liệu và thông tin bản đồ. Khi cập nhật dữ liệu, bản đồ sẽ tự động điều chỉnh, ngược lại, khi chỉnh sửa bản đồ, dữ liệu cũng sẽ tự động cập nhật. Nhờ đó, bản đồ chỉ cần vẽ một lần nhưng vẫn luôn mới.
CSDL bản đồ được số hóa, kết hợp với công nghệ DMC Internet MAP (công cụ cho phép tích hợp giữa mạng LAN và mạng Internet) có thể giúp lãnh đạo quản lý ngay trên mạng hoặc cung cấp dịch vụ phục vụ người dân trên mạng Internet. Hiện đã có trên 10 quận, huyện và hàng trăm khu đô thị mới sử dụng công cụ này để giới thiệu thông tin trên Website Chính Phủ ( cũng đang sử dụng công nghệ này để đưa thông tin về bản đồ hành chính của một số quận, huyện. Theo ông Nguyễn Hoài Phương, chủ tịch tập đoàn DMC, để thông tin bản đồ trở thành dịch vụ có ý nghĩa, vấn đề mấu chốt là các cấp quận/huyện phải số hóa CSDL bản đồ và thường xuyên cập nhật. CSDL càng đầy đủ, dịch vụ càng hiệu quả. Người dân có thể xem thông tin chi tiết đến từng ngôi nhà, từng thửa đất.
Ngoài ra, với DMC Internet MAP, ông Hải cho biết, quận HBT đang có kế hoạch lắp đặt các trạm thông tin để người dân có thể tự tra cứu thông tin và trả tiền. Tùy từng cấp phường/xã hay quận, huyện và mức phí dịch vụ, người dân có thể tự tìm kiếm các thông tin cần thiết thay vì phải hỏi trực tiếp các cán bộ địa chính. Hiện tại, quy trình và chính sách cho việc cung cấp thông tin về đất đai tới người dân đã được phòng TN-MT hoàn tất và chờ phê duyệt. Nếu được thông qua, trong năm 2007, người dân quận HBT có thể tiếp cận các dịch vụ công về đất đai một cách thuận tiện.
Trong lĩnh vực quản lý đất đai, thông tin tập trung nhiều ở cấp quận, huyện và phải được cập nhật, khai thác, xử lý thường xuyên. Thế nhưng ở nhiều quận, huyện trên toàn quốc, việc ứng dụng CNTT để quản lý còn yếu vì nhiều nguyên do, trong đó một phần do đội ngũ cán bộ quản lý trình độ không đồng đều, phần lớn chỉ sử dụng được phần mềm (PM) văn phòng.
Về CSDL bản đồ, tuy một số quận, huyện đã sử dụng bản đồ vẽ bằng phần mềm AutoCAD hoặc Microstation nhưng phần lớn các nơi do hệ thống thiết bị máy móc còn nghèo nàn, chuyên viên chưa được làm quen với GIS nên bản vẽ giấy vẫn hiện diện. Bản đồ giấy thường có độ chính xác thấp, khó xác minh ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất, nên độ tin cậy chưa cao, nhất là với tình trạng đất đai biến động nhiều như hiện nay thì việc cập nhật thông tin theo phương pháp thủ công (đo vẽ lại bản đồ) không thể theo kịp.
(Theo PCWorld)
Read Post | nhận xét

Ứng dụng GIS trong phát triển đô thị: 10 năm vẫn chưa được chuẩn hóa

Phát triển đô thị với GIS
Tại hội thảo, PGS. TS Lưu Đức Hải - Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, Bộ Xây dựng - khẳng định: Với đặc thù công tác Quy hoạch và quản lý phát triển đô thị ở nước ta cũng như kinh nghiệm các nước tiên tiến, việc ứng dụng GIS là phù hợp. Ông Hải cho biết: Viện Kiến trúc, quy hoạch đô thị - nông thôn là một trong những đơn vị đi đầu trong việc ứng dụng GIS. Với những cơ sở dữ liệu đầu vào về dân số, kinh tế - xã hội, cơ cấu sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, phần mềm GIS xây dựng các kịch bản phát triển đô thị liên quan như môi trường, định cư, mạng lưới giao thông... Cuối cùng thông qua các kịch bản để đưa ra quyết định lựa chọn.
Việc ứng dựng GIS trong phát triển đô thị cũng đã được một số đô thị như TP.HCM, TP Nam Định, TP Cần Thơ chứng minh là mang lại nhiều lợi ích, kèm theo đó là những khả năng mới, giải quyết các bài toán phức tạp trong công tác quản lý địa chính, đền bù, cây xanh, hạ tầng, chiếu sáng đô thị... Đơn cử, chính quyền quận Gò Vấp (TP.HCM) áp dụng GIS trong quản lý nhà và hộ gia đình, nhờ đó tính toán được chính xác diện tích cần giải tỏa, số tiền cần đền bù một cách nhanh chóng... TP Nam Định cũng đã áp dụng GIS trong xây dựng bản đồ đánh giá đất theo loại đường, bản đồ quản lý số nhà, sử dụng thông tin nhà đất để bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, cung cấp thông tin nhà đất và quy hoạch, quản lý hồ sơ sử dụng đất...

Vì sao GIS chưa phát triển rộng rãi?

Một trong những lý do được các đại biểu tập trung phân tích là sau 10 năm ứng dụng vào thực tế nhưng công nghệ GIS vẫn chưa được chuẩn hóa. "Nếu chỉ có TP.HCM và một vài đô thị ứng dụng thì việc chuẩn hóa cơ sở dữ liệu GIS chưa phủ kín cả nước" - ông Lưu Đức Hải nói.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Trần Ngọc Chính thì chỉ ra hàng loạt những khó khăn khi áp dụng công nghệ GIS. Theo đó, các địa phương và cơ quan vẫn còn lúng túng trong nhìn nhận khả năng thực tiễn của công nghệ GIS trong quản lý và phát triển đô thị. Hơn nữa, việc áp dụng GIS đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm, biết kết hợp nhiều công nghệ bổ trợ. Nhưng trên thực tế, đội ngũ chuyên gia này đang thiếu. Bên cạnh đó, trang thiết bị có hạ tầng mạng, hệ thống lưu trữ dữ liệu các phần mềm GIS thì chưa đầy đủ. Ngân hàng dữ liệu GIS chuyên ngành xây dựng và phát triển đô thị, liên kết đa ngành và quốc gia mới ở giai đoạn đầu hình thành...
Đề cập đến giải pháp nhằm ứng dụng GIS rộng rãi hơn trong phát triển đô thị, theo ông Lưu Đức Hải cần phải có sự liên kết liên ngành giữa "5 nhà". Đó là các nhà lập chính sách, nhà giáo (lồng ghép công tác đào tạo GIS trong các trường đại học chuyên ngành kiến trúc - quy hoạch - xây  dựng) nhà quy hoạch, nhà quản lý đô thị và nhà lập trình phần mềm.
Các đại biểu khác thì cho rằng để có một hệ thống GIS đồng bộ phục vụ công tác quy hoạch xây dựng ở Việt Nam, cần thiết phải xây dựng được ngân hàng dữ liệu quốc gia về quy hoạch, tiến tới kết hợp với các ngành xây dựng hệ thống thông tin địa lý quốc gia.
Thứ trưởng Trần Ngọc Chính đồng tình với những đề xuất nói trên và cho rằng: "Để tránh những phức tạp trong giao lưu thông tin, nâng cao hiệu quả phục vụ của GIS về đô thị cần phải xây dựng một cấu trúc cơ sở dữ liệu GIS quốc gia về đô thị, quy hoạch đô thị và phổ biến cho các cơ quan chuyên ngành cũng như cơ quan quản lý đô thị cùng áp dụng".
Trong khi đó, TS-KTS Nguyễn Đình Toàn - Viện trưởng Viện Kiến trúc, quy hoạch đô thị - nông thôn - lại tỏ ra thực tế: Việc áp dụng GIS vào công tác quy hoạch là rất cần thiết tuy nhiên không nên quá cầu toàn. Điều quan trọng là dần dần chỉ ra được tính hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ GIS đối với xã hội, tổ chức và cá nhân tham gia trực tiếp vào công tác quy hoạch xây dựng.
Đứng ở góc độ người đã và đang ứng dụng GIS trong quản lý đô thị, ông Nguyễn Viết Hưng - Chủ tịch UBND TP Nam Định - đề xuất: Bộ Xây  dựng cần phải chuẩn hóa phần mềm quản lý và chuẩn hóa thông tin lưu trữ về quy hoạch, công trình kiến trúc, hạ tầng... Bộ xây dựng quy chế phối hợp quản lý và cung cấp thông tin giữa quản lý quy hoạch và quản lý địa chính để có sự thống nhất về thông tin, tính đầy đủ của dữ liệu như thông tin về đất đai, quy hoạch, cấp thoát nước, điện, thông tin.
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường Online
Read Post | nhận xét

Biến đổi khí hậu - đã khác kịch bản

Biến đổi khí hậu ở Việt Nam: Thảm họa chẳng còn xa xôi
TTCT - Nếu nước biển dâng cao thêm 1m, nếu nhiệt độ tăng thêm 2-3ºC sẽ có hàng chục ngàn hecta đất bị xâm nhập mặn, hàng triệu hecta đất trồng lúa bị mất... Những kịch bản tưởng như ở “thì tương lai” ấy lại đang hiện ra ngày một rõ nét...
Nước dâng cao làm sạt lở cửa biển phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu - Ảnh: Thanh Phong
Ngồi trước cửa nhà, nhìn những đợt sóng biển đánh vào bờ đê, lão nông Tư Ánh (Nguyễn Văn Ánh) lo lắng cho đoạn đê đang trong tình trạng gia cố tạm ở ấp Vàm Rầy, xã Bình Sơn, huyện Hòn Đất, Kiên Giang. Ông nói: “Sóng biển ngày càng dữ, mỗi lần đánh ập vào bờ rút ra lại mang theo từng mảng đất lớn, lâu ngày bờ đê bị xé, có khi bị ăn đứt luôn nên nước mặn tràn vào phá”.
Biển mặn đang nuốt châu thổ sông Cửu Long...
Mùa mưa bão năm 2007, gia đình ông Tư Ánh đã một lần trắng tay vì sóng biển đánh vỡ đê, nước mặn tràn vào làm lúa chết héo, hơn 200 gốc nhãn rụng lá chết đứng, các ao cá nước ngọt thành ao nước mặn.
Tuyến đê dài hàng trăm kilômet ven biển Tây bắt đầu từ Hà Tiên (Kiên Giang) kéo dài đến tận Rạch Chèo (huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau) như lá chắn ngăn sóng dữ và nước mặn tràn vào đất liền song nay đã “bị thương” nhiều đoạn, có đoạn sạt lở nghiêm trọng, nhất là ở những cửa biển như Hương Mai (U Minh), Ðá Bạc, Sông Ðốc (Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau).
“Sóng biển đánh đứt dãy rừng phòng hộ rồi ngoạm bờ gây vỡ đê. Khoảng 5km đê đang bị sạt lở, có đoạn 1.200m sạt lở nghiêm trọng phải xử lý khẩn cấp, lực lượng cứu hộ đê phải túc trực thường xuyên” - ông Nguyễn Long Hoai, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Cà Mau, cho biết.
Tình trạng đất bị “hà bá” nuốt không chỉ ở đê biển Tây mà còn diễn ra gay gắt tại các con sông. Đã hơn ba tháng trôi qua nhưng ông Trương Thanh Tuấn (xã Hàng Vịnh, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau) vẫn chưa quên được đêm kinh hoàng xảy ra vụ sạt lở bên bờ sông Cửa Lớn cướp đi bốn mạng người, nhà ông và nhiều nhà hàng xóm đổ ùm xuống sông. Những năm gần đây, người dân ở các tuyến sông gần cửa biển luôn nơm nớp lo sợ nhà bị trôi xuống sông thình lình như vậy.
Kết quả quan trắc ba năm gần đây ở Cà Mau cho thấy vào thời điểm cuối tháng 10 và đầu tháng 11, nước sông ngày càng dâng cao. Năm 2007, Cà Mau thiệt hại 4.886ha nuôi trồng thủy sản và lúa, năm 2008 là 10.622ha, năm 2009 là 14.795ha. “Dân sống ven biển phản ảnh nước dâng ngày càng cao. Số liệu quan trắc của chúng tôi cho thấy đỉnh triều đã cao hơn 0,5cm so với năm năm trước” - ông Lai Thanh Ẩn, chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Bạc Liêu, cho hay.
Ông Nguyễn Hải Châu, giám đốc Sở Tài nguyên - môi trường tỉnh Bến Tre, khẳng định Bến Tre đã bắt đầu “thấm đòn” khí hậu thay đổi. Mặn xâm nhập nội đồng ngày càng gay gắt vào mùa khô. Còn ông Thái Thành Lượm, giám đốc Sở Tài nguyên - môi trường Kiên Giang, lo lắng môi trường sống của quần thể các hệ sinh thái tự nhiên rất phong phú nơi này sẽ “làm mồi” đầu tiên khi nước biển dâng. Kiên Giang được dự báo nằm trong danh sách những tỉnh bị ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu.
Năm 2009, Bến Tre bắt đầu xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng xu thế nhiễm mặn và chuyển dịch cây trồng. “Nhưng đây là vấn đề lâu dài, tác động cả hiện tại và tiềm tàng. Chúng tôi rất cần sự hỗ trợ và đầu tư để xây dựng chương trình mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu. Trước mắt là xây dựng nhà máy và hệ thống cấp nước ngọt, hệ thống đê sông, biển, cống đập ngăn mặn, các dự án trồng rừng thủy lợi phục vụ nông nghiệp” - ông Châu nói.
Ở Kiên Giang, ông Lượm đề xuất xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo sớm với biến đổi khí hậu, nâng cấp hệ thống đê, xây dựng các cống, kênh để phòng xâm nhập mặn, tăng vành đai rừng ngập mặn lên 500-1.000m để đủ sức phòng hộ. Tỉnh cũng đang tìm cách xây dựng mô hình nhà ở, mô hình canh tác, chăn nuôi thích nghi với việc nước biển dâng.
Việt Nam cần một kịch bản biến đổi khí hậu khác?
Hơn một năm trước (tháng 6-2009), Bộ Tài nguyên - môi trường công bố kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam. Có thể xem đây là một lời cảnh báo chính thức mang tầm quốc gia về những nguy cơ từ biến đổi khí hậu mà Việt Nam phải đối mặt cho đến cuối thế kỷ 21.
Ba kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các kịch bản phát thải khí nhà kính ở ba mức thấp, trung bình và cao với số liệu tính toán theo từng cột mốc thập kỷ: 2020, 2030, 2040 đến năm 2100.
Theo kịch bản phát thải cao của bộ thì vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa hằng năm có thể tăng khoảng 9-10% ở Tây Bắc, Đông Bắc, 10% ở đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ và 4-5% ở Nam Trung bộ, 2% ở Nam bộ và Tây nguyên so với trung bình thời kỳ 1980-1999. Lượng mưa các tháng cao điểm mùa mưa sẽ tăng 12-19% ở cả các vùng phía Bắc và Nam Trung bộ, trong khi khu vực Nam bộ và Tây nguyên chỉ tăng 1-2%.
Đối với nước biển dâng, một số nghiên cứu gần đây cho rằng mực nước biển toàn cầu có thể tăng 50-140cm vào năm 2100. Riêng các kịch bản cho Việt Nam tính rằng “vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 28-33cm và đến cuối thế kỷ mực nước biển có thể dâng thêm 65-100cm so với thời kỳ 1980-1999. Trong tương lai gần, dự báo đến năm 2020 mực nước biển ở nước ta có thể dâng cao thêm 11-12cm và đạt mức tăng 28-33cm vào năm 2050”...
Dựa trên các kịch bản nước biển dâng, bộ đã bước đầu xây dựng bản đồ ngập cho khu vực TP.HCM và ĐBSCL. Theo đó, khi nước biển dâng 65cm (mức thấp), diện tích ngập ở ĐBSCL là 5.144km2 (12,8%), và ở mức 100cm (cao) thì ngập sẽ trải rộng trên 15.116km2, tương đương 37,8% diện tích toàn vùng. Riêng khu vực TP.HCM, theo dự báo với mực nước biển tăng 65cm, diện tích ngập rộng khoảng 128km2 (6,3%) và nhấn chìm 473km2 (23%) nếu dâng mức 100cm.
Thực tại phũ phàng hơn  kịch bản
Trên thực tế, những hiểm họa mang tên biến đổi khí hậu không đợi lâu đến thế mà đã và đang đổ ập xuống nhiều vùng, cướp đi nhiều sinh mạng và gây ra vô số thiệt hại nghiêm trọng. Chỉ một trận mưa kéo dài ba ngày vào tháng 10-2008 đã dìm nội thành Hà Nội và một số tỉnh lân cận trong biển nước, làm chết 17 người, gây tê liệt giao thông và hủy hoại nông nghiệp đáng kể. Trong ba ngày đó, lượng mưa đo được tại Hà Nội là hơn 500mm, tại Hà Đông hơn 800mm.
Và khi hai cơn lũ liên tiếp đổ xuống miền Trung đầu tháng 10 vừa qua đã hiển hiện rất rõ sự bàng hoàng, bất ngờ của con người trước những biến cố thiên nhiên chưa từng dữ dội như vậy.
Tuần qua, lũ lụt lại tràn ngập các tỉnh Nam Trung bộ. Đêm 31-10-2010, lượng mưa đo được ở Ninh Thuận từ 100-200mm, Phan Rang lên tới 274mm. TP Nha Trang (Khánh Hòa) đã hứng một trận mưa hơn 500mm kéo dài nhiều giờ khiến nhiều phường bị nhấn chìm, giao thông đường bộ lẫn đường sắt bị tê liệt.
Đồng thời, tin tức về các dòng sông, suối cạn nước, trơ đáy tại khu vực Tây nguyên liên tiếp xuất hiện. Còn tại Nam bộ - vựa lúa và vựa cá ĐBSCL - người dân miệt đồng khắc khoải chờ lũ về. Mùa nước nổi trắng đồng - một đặc ân mà tạo hóa bao đời nay ưu ái tặng cho cư dân của đất chín rồng - càng lúc càng nhạt nhòa.
Ngày 2-12-2008, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đã được ban hành. Hai bộ Tài nguyên - môi trường, Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng cho hay đã có hàng loạt nghiên cứu, lập quy hoạch, kế hoạch ứng phó... Các địa phương trong cuộc như TP.HCM và Cần Thơ cũng đang lo đầu tư nghiên cứu, tìm giải pháp thích ứng cho từng kịch bản.
Nhưng thực tế phũ phàng cận kề của không ít thảm họa thiên nhiên đã “gõ cửa” ầm ầm, không còn là chuyện của những cột mốc thập kỷ như bộ hình dung. “Nước đã đến đầu gối”, dân Việt Nam ở nhiều vùng đang phải “quẫy đạp” thật sự để chống chọi từng ngày, mỗi thảm họa lại ở mức độ khốc liệt khác nhau với đầy rẫy bất ngờ, bàng hoàng và mất mát.
Trong khi chờ đợi và hi vọng những giải pháp mà kế hoạch dài hạn ứng phó với biến đổi khí hậu phát huy tác dụng, có lẽ cũng nên nghĩ tới những kịch bản và giải pháp ứng phó quyết liệt hơn trong ngắn hạn trước những diễn biến khôn lường của thời tiết, chí ít để không còn cảnh bị động chống chọi và những lời đổ lỗi cho “mưa lịch sử”, cho “lũ bất ngờ”!
Read Post | nhận xét

Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học ở Việt Nam

Đa dạng sinh học là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, ĐDSH đã và đang bị ảnh hư¬ởng ngày càng nghiêm trọng. Theo Báo cáo triển vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp Quốc 2007, thì BĐKH đang gây ra tỡnh trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi thế giới phải hành động nhanh chóng hơn bao giờ hết. Đối với Việt Nam - một trong những nước đư¬ợc dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH thì có lẽ vấn đề bảo vệ ĐDSH cần phải được quan tâm triệt để.
Tác động của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học
Trong thiên nhiên, ÐDSH, nhất là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là nơi chủ yếu tích luỹ trở lại nguồn khí CO2phát thải ra, để tạo thành chất hữu cơ. Trong khi đó, chúng ta lại đã và đang chặt phá rừng để phát triển nông nghiệp, mở rộng chăn nuôi, xây dựng nhà cửa, đô thị. Sự tàn phá rừng, không những gây mất cân bằng sinh thái ở nước ta mà còn làm giảm khả năng hấp thụ CO2 và gián tiếp làm tăng thêm lư­ợng khí CO2 phát thải vào khí quyển, góp phần làm cho BÐKH toàn cầu tăng nhanh. Như­ vậy, sự giảm sút ÐDSH, nhất là giảm sút diện tích rừng đã thúc đẩy sự gia tăng BÐKH toàn cầu, nhưng ngư­ợc lại sự nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh h­ưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của các loài sinh vật và ÐDSH.
Ngoài những tư­ liệu về sự thay đổi nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (IPCC) năm 2004 đã trình bày những kết quả nghiên cứu tại sao nhiệt độ trái đất thay đổi đã ảnh hưởng đến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc điểm đó của trái đất, đến nơi sống của các loài sinh vật và đến sự phát triển kinh tế của chúng ta. Báo cáo cũng đã đưa ra kết luận là nhiệt độ trái đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,6oC làm cho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu đã bị tan chảy, dẫn đến mực nư­ớc biển dâng lên. Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hư­ởng ngày một sâu, rộng đến các hệ sinh thái. Vùng phân bố của các loài đó thay đổi: nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và lên cỏc vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di cư­ sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều.
Chúng ta cũng biết rằng, các loài sinh vật muốn phát triển một cách bình th­ường cần phải có một môi trường sống phù hợp, tư­ơng đối ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nư­ớc... và cộng đồng các loài sinh vật trong nơi sống đó. Chỉ một trong những nhân tố của môi trư­ờng sống bị biến đổi, sự phát triển của một loài sinh vật nào đó sẽ bị ảnh hư­ởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào mức độ biến đổi nhiều hay ít.
Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt lư­ợng khí nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng thêm từ 1,8o C đến 6,4o C vào năm 2100, l­ượng mư­a sẽ tăng thêm 5 - 10%, băng ở hai cực và trên các núi cao sẽ tan chảy nhiều hơn, mực n­ước biển sẽ dâng lên khoảng 70 - 100 cm và tất nhiên nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan theo đó sẽ diễn ra với mức độ khó l­ường tr­ước đ­ược cả về tần số và mức độ. N­ước biển dâng sẽ gây nên xói mòn bờ biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái đất ngập n­ước, nước mặn xâm nhập, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt. Tại những vùng mà BÐKH làm tăng c­ường độ mưa, thì nước mưa sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt, sụt lở đất đá và có thể gây ảnh h­ưởng đến cấu trúc và chức năng của các thuỷ vực, làm ô nhiễm nguồn nư­ớc. Tất cả những hiện t­ượng đó đều ảnh h­ưởng đến các loài sinh vật và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ sinh thái bị suy thoái, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế và xã hội, nhất là tại các nước nghèo mà cuộc sống đa số ng­ười dân còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Cũng phải nói thêm rằng, nhiệt độ trái đất tăng/giảm, hay mực n­ước biển dâng lên có thể ảnh hư­ởng đến sự sống của các sinh vật, như­ng tác nhân chính của sự BÐKH là sự tích hợp của nhiều nhân tố về môi trư­ờng do ảnh h­ưởng của BÐKH gây ra cùng một lúc, tác động lên sinh vật như­: thiếu thức ăn, ô nhiễm n­ước, bệnh tật và nơi sống không ổn định, bị suy thoái... Riêng về sức khoẻ con ngư­ời thì những đợt nóng xảy ra vào tháng 8/2003 ở châu Âu, gây tử vong đến 35.000 ngư­ời đã nói lên tầm quan trọng của vấn đề. Hơn một tháng rét đậm bất thư­ờng ở miền Bắc Việt Nam trong mùa đông năm 2007, cũng có thể là hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu, đã làm chết hơn 53.000 gia súc, nhiều đầm cá, tôm bị chết, đó là chư­a nói đến thiệt hại về lúa, các loại hoa màu khác và các cây con hoang dã ở các vùng cao bị băng giá trong nhiều ngày liền.
Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam đ­ược xem là một trong những n­ước sẽ bị ảnh h­ưởng nặng do biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo dự báo thì biến đổi khí hậu sẽ làm cho cỏc trận bão ở Việt Nam thường xuyên xảy ra hơn với mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn. Ðường đi của bão dịch chuyển về phía nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lượng mưa giảm trong mùa khô (VII - VIII) và tăng trong mùa mưa (IV - XI); mưa lớn thường xuyên hơn gây lũ đặc biệt lớn và xảy ra thường xuyên hơn ở miền Trung và Nam. Hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả nước. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,10oC/thập kỷ; trong một số tháng mùa hè, nhiệt độ tăng khoảng 0,1 - 0,30oC/ thập kỷ. Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền nông nghiệp và nguồn nước. Mực nước biển có khả năng dâng cao 1m vào cuối thế kỷ, lúc đó Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích đất đai, nơi cư trú của 23% số dân.
Hậu quả do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra ngày một rõ ràng, trong đó có tác động lên ÐDSH, nguồn tài nguyên quý giá của đất n­ước, nhưng chúng ta cũng chư­a nghiên cứu về lĩnh vực này một cách nghiêm túc. Rồi đây trái đất sẽ tiếp tục nóng thêm, mực nư­ớc biển cũng sẽ cao hơn. Dựa vào một số nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới như­ ở quần đảo Maldavies, Banglades và một số vùng khác, kết hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam, chúng ta có thể dự báo hậu quả của BÐKH sẽ tác động mạnh lên hai vùng đồng bằng lớn là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ sinh thái rừng trong cả n­ước. Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước của bờ biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là các khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Ðịnh.
Hai vùng đồng bằng và ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Mực nư­ớc biển dâng lên cùng với c­ường độ của bão tố sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của n­ước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật đa dạng trong đó. Khi mực n­ước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nư­ớc có tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng; n­ước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nư­ớc ngọt, ảnh hư­ởng đến nguồn nư­ớc ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vư­ờn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập (theo kết quả đánh giá của Trung tâm quốc tế về quản lý môi trư­ờng).
Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thư­ơng. Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển quan trọng, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn sẽ bị suy thoái do nhiệt độ n­ước biển tăng, đồng thời mư­a nhiều làm cho n­ước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất nông nghiệp từ cửa sông đổ ra. Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán. Các loài cá nhiệt đới (kém giá trị kinh tế trừ cá ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới (giá trị kinh tế cao) giảm (Thông báo Quốc gia lần thứ nhất).
Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế xã hội, đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. Biến đổi khí hậu, với các hệ quả của nó như­ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các loài đang nguy cấp với số lư­ợng cá thể ít, cũng vỡ thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh (Thông báo Quốc gia lần thứ nhất). BÐKH tăng một số nguy cơ đối với người bệnh, thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người. Theo WHO, trái đất nóng lên có thể sẽ làm hơn 150.000 người chết và 5 triệu người bị mắc các chứng bệnh khác nhau. Con số trên có thể sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030.

Chúng ta nên làm gì để đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu
Tác động của BÐKH trong những năm qua không loại trừ quốc gia nào, dù cho nư­ớc đó không góp nhiều vào nguyên nhân gây nên biến đổi khí hậu. Riêng ở nư­ớc ta, trong những năm gần đây hạn hán, mư­a lũ, sụt lở đất, lũ quét xảy ra dồn dập, nhất là năm 2007, đã gây thiệt hại rất nặng nề về ngư­ời và của cải.
Rồi đây chắc rằng hậu quả của BÐKH sẽ còn lớn hơn, nặng nề hơn mà chúng ta khó có thể l­ường trước đ­ược. Như­ng điều có thể dự báo trước đối với n­ước ta là mư­a sẽ nhiều hơn, lũ lụt, xói mòn, sụt lở đất, lũ quét, cháy rừng, hạn hán sẽ xảy ra thư­ờng xuyên hơn (do rừng bị tàn phá quá nhiều), bão cũng sẽ mạnh hơn. Chúng ta đã và đang cố gắng để thực hiện những biện pháp làm giảm nhẹ ảnh hư­ởng của các loại thiên tai, cả bằng khoa học kỹ thuật và các biện pháp xã hội. Nh­ưng những biện pháp của chúng ta đề ra chỉ mới dừng lại ở những hiện t­ượng có mức độ ảnh h­ưởng cao. Thách thức lớn nhất của chúng ta hiện nay là chư­a có chiến l­ược, chính sách, ch­ương trình, kế hoạch phát triển phù hợp với sự biến đổi hết sức nhanh chóng của khí hậu toàn cầu. Việt Nam đang xây dựng Chương trình Mục tiêu Quốc gia đối phó với biến đổi khí hậu. Mong rằng Chương trình sớm được thụng qua và thực hiện.
Ðể phát triển bền vững, trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trư­ớc mắt và lâu dài của đất n­ước và từng vùng, cần phải sớm đặt vấn đề về BÐKH toàn cầu một cách nghiêm túc. Trong xây dựng quy hoạch phát triển, chúng ta cần chú ý việc làm giảm nhẹ và phòng chống nh­ư đã ghi trong Ch­ơng trình nghị sự 21, nh­ưng cũng cần quan tâm tới vấn đề thích nghi với BÐKH.
Nhà n­ước cần sớm tổ chức một cơ quan chuyên trách có đủ năng lực để nghiên cứu về BÐKH toàn cầu và phát triển bền vững, sớm đề xuất những ý kiến xác đáng, khả thi về phát triển kinh tế và xã hội nư­ớc ta một cách lâu dài trong bối cảnh BÐKH toàn cầu mới, trong đó cần lư­u ý đúng mức đến vấn đề bảo tồn ÐDSH, vốn tài nguyên quý giá của đất nư­ớc, cơ sở của sự phát triển bền vững của chúng ta.
Chúng ta cũng nên rà soát lại những công trình phát triển liên quan đến diện tích rừng hiện có; thúc đẩy mạnh hơn việc bảo vệ rừng và trồng rừng, vì các loài sinh vật chỉ có thể chống đỡ đư­ợc với những sự biến đổi về môi trư­ờng khi sinh sống trong một hệ sinh thái ổn định; sử dụng hợp lý đất đai, củng cố và quản lý tốt các khu bảo tồn thiên nhiên, những vấn đề các cấp quản lý ch­ưa quan tâm đúng mức đến tầm quan trọng của nó trong phát triển bền vững, mà còn thiên quá nhiều vào phát triển kinh tế; cũng cần tăng c­ường tiết kiệm năng lư­ợng, giảm thiểu ô nhiễm và xoá đói giảm nghèo.
Ðể mọi việc đư­ợc thuận lợi, cần sớm làm tốt công tác truyền thông, nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về thảm họa của biến đổi khí hậu toàn cầu dựa trên cơ sở cộng đồng, vì công việc chỉ thành công khi đ­ược đa số nhân dân thực hiện một cách tự giác, có hiểu biết và có trách nhiệm.
Read Post | nhận xét