DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Bản đồ chuyên đề – Trần Thị Phụng Hà

Tác giả: Trần Thị Phụng Hà
Định dạng: PDF
Dung lượng: 7.69 MB
Ngôn ngữ: Tiếng Việt
Nội dung chính:
Chương 1: Các khái niệm cơ bản
Chương 2: Giải pháp thể hiện nội dung bản đồ
Chương 3: Phần mềm MapInfo để thành lập bản đồ chuyên đề
Chương 4: Qui trình, phương thức xây dựng bản đồ chuyên đề, biên tập đề cương thiết kế
 
Password unlock: trantoan

Sách Thực hành hệ thống thông tin địa lý (MapInfo 9.0 và ArcView GIS 3.3a)

 
Tác giả: TS. Nguyễn Kim Lợi, Vũ Minh Tuấn
Nhà xuất bản: NXB Nông nghiệp
Năm xuất bản: Đang cập nhật
Định dạng: PDF
Dung lượng: 8.21 MB
Số trang: 311
Nội dung chính:




PHẦN I: MAPINFO 9.0
Chương 1. Giới thiệu chung
Chương 2. Các thanh công cụ chính
Chương 3. Làm việc với giao diện MapInfo
Chương 4. Tạo lớp dữ liệu
Chương 5. Làm việc với dữ liệu không gian
Chương 6. Làm việc với dữ liệu thuộc tính
Chương 7. Trang trí bản đồ
Chương 8. In bản đồ
Chương 9. Biểu đồ (Chart) và phân vùng đối tượng
Chương 10. Phần mở rộng
Chương 11. Hệ quy chiếu trong MapInfo
Chương 12. Một số ứng dụng
PHẦN 2: ARCVIEW 3.3A
Chương 1. Giới thiệu phần mềm ArcView
Chương 2. Thanh menu và thanh công cụ
Chương 3. Tạo dữ liệu trong ArcView
Chương 4. Làm việc với dữ liệu
Chương 5. Tạo bản đồ theo chủ đề
Chương 6. Chồng xếp dữ liệu giữa các lớp dữ liệu
Chương 7. Tạo trang in
Chương 8. Phần mở rộng
Chương 9. Biểu đồ và bảng báo cáo
Password unlock: trantoan

Giao trinh Địa lý thổ nhưỡng

 Mould Making & Casting Ebook


Địa lý thổ nhưỡng là một bộ phận không thể tách rời của thổ nhưỡng học. Đối tượng nghiên cứu của nó là lớp đất nằm trên vỏ phong hoá hoặc còn gọi là lớp phủ thổ nhưỡng. Như vậy, địa lý thổ nhưỡng và thổ nhưỡng học đều có một đối tượng nghiên cứu chung là đất. Song, sự khác nhau giữa chúng ở chỗ: Thổ nhưỡng học đứng trên quan điểm tổng hợp toàn diện để xem xét đất, còn địa lý thổ nhưỡng đứng trên quan điểm địa lý để nghiên cứu đất mà thổ nhưỡng học không thể nào đi sâu và toàn diện bằng địa lý thổ nhưỡng.

Pass: trantoan

Thành lập DEM/DTM DSM bằng công nghệ LiDAR


Tác giả: TSKH. Lương Chính Kế
Nhà xuất bản: Đang cập nhật
Năm xuất bản: Đang cập nhật
Định dạng: PDF
Dung lượng: 697 KB
Số trang: 8
Giới thiệu:
Do có nhiều ưu điểm, công nghệ LiDAR ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu địa hình, trước hết phục vụ thành lập DEM/DTM và DSM với độ chính xác cao, ít phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và cung cấp sản phẩm trong thời gian ngắn. Bài báo trình bầy những nội dung đại cương cơ bản về công nghệ LiDAR bao gồm các phần: giới thiệu hệ thống LiDAR với các thông số kỹ thuật; đặc biệt nhấn mạnh công đoạn xử lý số liệu LiDAR; và sau cùng là kết quả ứng dụng LiDAR để thành lập DSM, DEM/DTM.

Download
Download

World Atlas - Địa lý

World Atlas - Địa lý



Đây là một e-book tài liệu khá hay và bổ ích dành cho các bạn yêu thích môn Địa lý, các thầy cô giảng dạy bộ môn này hay chỉ đơn thuần là để tra cứu.

E-book cung cấp bản đồ tổng thể tự nhiên của thế giới mà ngay trên đó, bạn có thể nhấp chuột vào tên châu lục, quốc gia, tên vùng hay lãnh thổ để truy cập tới nội dung chi tiết hoặc vào danh sách các quốc gia và lãnh thổ xếp theo ABC.

Ở nội dung chi tiết từng quốc gia là thông tin về diện tích, dân số (có ghi rõ thời điểm thống kê), dự đoán dân số tới năm 2010, GDP, ngôn ngữ chính, quốc kỳ, thủ đô, tiền tệ, các ngành công nghiệp chính, các nguồn tài nguyên chính, vị trí quốc gia hay lãnh thổ đó trên bản đồ thế giới, cả tuổi thọ trung bình của nam và nữ nữa đấy.

E-book cũng có chức năng tra chéo, chỉ cần trong bất cứ hình ảnh bản đồ nào có liên kết thì chúng đều có tác dụng và đưa bạn đến nội dung chi tiết.
Donwload: World Atlas - Địa lý 

Atlas Địa lý Việt Nam

Atlas Địa lý Việt Nam 2010 được công ty Cổ phần Công nghệ và Tin học EST (Estech,JSC.) phát triển với mục đích giới thiệu công nghệ xây dựng atlas điện tử dựa trên công nghệ GIS với nhiều ưu điểm nổi bật:
Về mặt thể hiện: atlas điện tử có một thể hiện linh động và mang tính tương tác cao.
Trong quá trình sử dụng, khai thác: nhờ lưu trữ dữ liệu ở dạng số và quản lý dữ liệu theo một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS), atlas điện tử có thể thực hiện những tính năng phân tích đặc biệt mà atlas truyền thống không thể có.
3-atlas
Về mặt lưu trữ và quản lý: là một hệ thống thông tin trong máy, các dữ liệu của atlas điện tử rất dễ dàng được cập nhật, thêm bớt, sửa đổi mà không làm thay đổi cấu trúc chung và không đòi hỏi thời gian và tiền bạc nhiều như đối với atlas truyền thống (để thay đổi một chi tiết nhỏ cũng phải vẽ sửa in lại từ đầu). Vì vậy, việc cập nhật, hiệu đính atlas điện tử có thể thực hiện thường xuyên, bất kỳ lúc nào ta muốn; do đó, tính hiện đại và chính xác của atlas điện tử dễ dàng được đảm bảo. Atlas trên đĩa cũng dễ bảo quản và vận chuyển (gọn, nhẹ, nhanh) -nhất là trong thời đại mạng máy tính phát triển như ngày nay-so với các atlas trên giấy cồng kềnh, dễ mốc, ướt, cháy...
Về mặt sản xuất: nhờ vào quy trình theo công nghệ mới, giá thành atlas điện tử sẽ thấp hơn mà chất lượng lại nâng cao hơn so với atlas truyền thống tương ứng.
Về mặt phân phối: hình thức xuất bản atlas khá linh động: có thể in ra giấy như atlas truyền thống (với số lượng ít bằng printer, plotter hay in cơ số nhiều sau khi chế bản) hoặc cung cấp ở dạng số dưới hình thức đĩa thường, CD. Atlas cũng có thể được cung cấp toàn bộ hoặc từng phần theo yêu cầu người mua... Những yếu tố này sẽ giúp việc phân phối atlas điện tử đến tay người tiêu dùng gặp nhiều thuận lợi.
---------------
Hướng dẫn cài đặt:
Mở thư mục \setup\ArcReader
Chạy file setup.exe để cài đặt ArcReader vào máy.
Sau khi cài đặt ArcReader thành công, ta mở file ATLAS.exe để chạy

Phần mềm Từ điển EST GeoDict

EST GEODICT là một phần mềm từ điển ra đời với mục đích mang đến cho các nhà khoa học, các kỹ sư, các sinh viên và tất cả những người làm trong lĩnh vực khoa học trái đất tại Việt Nam một công cụ phát triển kỹ năng ngoại ngữ toàn diện trong giai đoạn mà Tiếng Anh là một phần không thể thiếu hiện nay. Điểm nổi bật của EST GEODICT là các công cụ tra từ nâng cao với những bộ từ điển chuyên ngành Anh - Việt, Việt - Anh, Anh - Anh, Việt - Việt.
1-geodict
Tính năng:
Với EST GEODICT , bạn có thể:
- Tra cứu từ nhanh với nhiều phương pháp khác nhau.
+ Tra từ trong từng từ điển
+ Tra từ trong nhiều từ điển
+ Tra từ nhanh với click chuột
+ Tra từ, cụm từ bôi đen
- Dịch cả đoạn văn từ Anh sang Việt, Việt sang Anh (Bạn phải kết nối internet).
- Nghe phát âm từ với nhiều giọng đọc khác nhau.
- Nghe đọc tiếng anh cả đoạn văn.
- Dễ dàng thêm, cập nhật các từ điển mới.
- Dễ dàng thêm, xóa, sửa các từ trong từ điển.
- Dễ dàng chuyển đổi các nguồn dữ liệu có sẵn của bạn ở các định dạng Access, Excel, dict.tab sang định dạng của EST GEODICT để sử dụng các tính năng ưu việt của phần mềm.
- Dễ dàng chia sẻ dữ liệu từ điển của bạn cho bạn bè, đồng nghiệp cùng sử dụng.
Dữ liệu:
Với mục đích xây dựng một phần mềm đa từ điển chuyên ngành, hiện nay EST GEODICT đã có một số bộ dữ liệu:
- Từ điển địa chất Anh - Việt (hơn 20.000 từ)
- Từ điển địa chất Việt - Anh (hơn 20.000 từ)
- Từ điển địa chất Anh - Anh (hơn 10.000 từ)
- Từ điển GIS Anh - Việt (gần 2.000 từ)
- Từ điển GIS Anh - Anh.
- Từ điển Anh - Việt (khoảng 400.000 từ)
- Từ điển Việt - Anh.
Trong thời gian tới chúng tôi cam kết sẽ tiếp tục nhập dữ liệu cho các chuyên ngành khác như môi trường, dầu khí, trắc địa,..

Download
Download


Những vấn đề phát triển KT-XH trong các vùng

Đồng bằng Sông hồng

Đồng bằng sông Hồng rộng gần 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc với một vùng biển bao quanh ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của đồng bằng là 14,8 triệu người (1999), chiếm 19,4% số dân của cả nước.


Hệ thống Sông Hồng tại Việt Nam. Hình chụp từ vệ tinh của NASA.

Hiện tại cũng như trong tương lai, đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1. Vấn đề dân số

Đồng bằng sông Hồng là nơi dân cư tập trung đông đúc nhất trong cả nước. Việc dân cư quá tập trung ở đồng bằng làm cho mật độ dân số trung bình đã lên tới 1180 người/km2 (1999). Mật độ này cao gấp 5 lần mật độ trung bình của toàn quốc; gấp gần 3 lần so với đồng bằng sông Cửu Long; gấp 10 lần so với khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ; gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên.

Những nơi dân cư đông nhất là Hà Nội (2883 người/km2), Thái Bình (1183 người/km2), Hải Phòng (1113 người/km2), Hưng Yên (1204 người/km2 – 1999). Ở các nơi khác, chủ yếu thuộc khu vực rìa phía Bắc và Đông Bắc của châu thổ, dân cư thưa hơn.

Sự phân bố dân cư quá đông ở đồng bằng sông Hồng liên quan tới nhiều nhân tố. Nền nông nghiệp thâm canh cao với nghề trồng lúa nước là chủ yếu đòi hỏi phải có nhiều lao động. Trong vùng còn có nhiều trung tâm công nghiệp quan trọng và một mạng lưới các đô thị khá dày đặc. Ngoài ra, đồng bằng sông Hồng đã được khai thác từ lâu đời và có các điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho hoạt động sản xuất và cư trú của con người.

Ở đồng bằng sông Hồng, dân số gia tăng vẫn còn nhanh. Vì vậy, tốc độ tăng dân số chưa phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội. Điều này gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của đồng bằng.

Việt Nam là nước có diện tích canh tác tính theo đầu người rất thấp (892m2). Trên cái nền chung ấy, chỉ số này ở đồng bằng sông Hồng còn thấp hơn nhiều do bị sức ép quá nặng nề của dân số. Ở đây, bình quân mỗi đầu người chỉ đạt khoảng ½ con số trung bình của cả nước. Đất canh tác ít, dân đông nên phải đẩy mạnh thâm canh. Song nếu thâm canh không đi đôi với việc hoàn lại đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ làm cho đất đai ở một số nơi bị giảm độ phì nhiêu.

Với việc áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và những chính sách đổi mới trong nông nghiệp, sản lượng lương thực của vùng tiếp tục tăng lên, nhưng về lâu dài có thể tiến đến giới hạn của khả năng sản xuất.

Nền kinh tế ở đồng bằng sông Hồng tuy tương đối phát triển, nhưng đang phải chịu áp lực rất lớn của dân số. Vào thời kì 1979 – 1989, nhịp độ tăng trưởng trung bình năm của sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đạt khoảng 4 – 5%, trong khi đó tỉ lệ tăng dân số hằng năm vẫn dao động ở mức trên 2%. Thời kì 1990 – 1998, mức tăng trưởng tương ứng là 7% và 1,4%.

Dân số đông và sự gia tăng dân số đã để lại những dấu ấn đậm nét về kinh tế - xã hội. Mặc dù mức gia tăng dân số đã giảm nhiều, nhưng sản xuất nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu tích luỹ và cải thiện đời sống nhân dân. Hàng loạt vấn đề xã hội như việc làm, nhà ở, y tế, văn hoá, giáo dục vẫn còn là bức xúc.

Trong nhiều năm qua, nước ta đã tiến hành phân bố lại dân cư và lao động trên phạm vi cả nước. Đối với đồng bằng sông Hồng, điều đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ngay từ năm 1961 đã có nhiều người từ đồng bằng sông Hồng chuyển lên các tỉnh thuộc miền núi Tây Bắc và một số tỉnh thuộc miền núi Đông Bắc. Nhưng phải đến cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỉ này, việc chuyển cư mới được thực hiện với quy mô lớn. Trong thời kỳ 1984 – 1989, tỉ lệ chuyển cư thuần tuý (tương quan giữa tỉ lệ người chuyển đến và tỉ lệ người chuyển đi) của hầu hết các tỉnh trong vùng đều mang giá trị âm, nghĩa là số người chuyển đi nhiều hơn số người chuyển đến đồng bằng sông Hồng.

Ngoài vấn đề chuyển cư, giải pháp hàng đầu ở đồng bằng sông Hồng là việc triển khai có hiệu quả công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỉ lệ sinh. Đồng thời, trên cơ sở lựa chọn cơ cấu kinh tế hợp lí, từng bước giải quyết việc làm tại chỗ cho lực lượng lao động thường xuyên tăng lên, tiến tới nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong vùng.

2. Vấn đề lương thực, thực phẩm

Đồng bằng sông hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất lương thực, thực phẩm. Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau đồng bằng sông Cửu Long.
Số đất đai đã được sử dụng vào hoạt động nông nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng sông Hồng. Ngoài số đất đai phục vụ lâm nghiệp và các mục đích khác, số diện tích đất chưa được sử dụng vẫn còn hơn 2 vạn ha.

Nhìn chung, đất đai của đồng bằng sông Hồng được phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp tương đối màu mỡ. Tuy vậy, độ phì nhiêu của các loại đất không giống nhau ở khắp mọi nơi. Đất được bồi đắp hàng năm màu mỡ không hơn đất không được bồi đắp hàng năm. Đất thuộc châu thổ của sông Hồng phì nhiêu hơn đất thuộc châu thổ của sông Thái Bình.

Có giá trị nhất đối với việc phát triển cây lương thực ở đồng bằng sông Hồng là diện tích đất không được phù sa bồi đắp hàng năm (đất trong đê). Loại đất này chiếm phần lớn diện tích châu thổ, đã bị biến đổi nhiều do trồng lúa.

Ở đồng bằng, đất và nước là hai yếu tố đan quyện vào nhau. Hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình cùng các nhánh của chúng là nguồn cung cấp nước thường xuyên cho hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, lại quá thừa nước trong mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô.

Bên cạnh khả năng tự nhiên, những nguồn lực về kinh tế - xã hội cũng đóng vai trò đáng kể trong việc phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm. Từ bao đời nay, người dân đồng bằng sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm. Đó là vốn rất quý để đẩy mạnh sản xuất. Ngoài ra, sự phát triển của nền kinh tế cùng với hàng loạt các chính sách mới cũng góp phần quan trọng cho việc giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm ở đồng bằng sông Hồng.

Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực luôn giữ địa vị hàng đầu. Diện tích cây lương thực khoảng 1,2 triệu ha, chiếm khoảng 14% diện tích cây lương thực của cả nước. Sản lượng lương thực là 6,1 triệu tấn, chiếm 18% sản lượng lương thực toàn quốc (1999).

Trong các cây lương thực, lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tích và sản lượng. Hàng năm, đồng bằng sông Hồng có hơn 1 triệu ha đất gieo trồng lúa. Với con số này, lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của đồng bằng và chiếm khoảng 14% diện tích gieo trồng lúa của cả nước (1999).

Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Tây. Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa (61,6 tạ/ha – năm 1999). Nhiều huyện, hợp tác xã đạt năng suất 8 – 10 tấn/năm.

Ngành trồng cây lương thực, đặc biệt là ngành trồng lúa ở đây đã có từ lâu đời và được thâm canh với trình độ cao nhất trong cả nước. Tuy vậy, việc đảm bảo lương thực cho con người và cho các nhu cầu khác (phục vụ chăn nuôi, công nghiệp chế biến v.v…) còn bị hạn chế. Mức bình quân lương thực theo đầu người ở đồng bằng sông Hồng vẫn thấp hơn mức bình quân của cả nước (414 kg/người so với 448 kg/người – năm 1999).

Vấn đề thực phẩm liên quan đến cơ cấu bữa ăn và ảnh hưởng nhiều tới cơ cấu cây trồng. Ở đồng bằng sông Hồng, việc sản xuất thực phẩm chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.

Rau các loại có diện tích gieo trồng hơn 7 vạn ha, chiếm 27,8% diện tích rau cả nước, tập trung chủ yếu ở vành đai xung quanh các khu công nghiệp và thành phố.

Nguồn thực phẩm của vùng đồng bằng phụ thuộc nhiều vào ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản. Việc phát triển các ngành này còn nhiều khả năng to lớn. Vấn đề cơ bản là giải quyết tốt cơ sở thức ăn cho gia súc nhỏ và mở rộng quy mô của ngành nuôi trồng thuỷ sản.

Hiện nay, chăn nuôi lợn rất phổ biến và thịt lợn là nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân. Đàn lợn của đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau vùng núi và trung du Bắc Bộ về số lượng với gần 4,3 triệu con, chiếm 22,5% đàn lợn của toàn quốc (1999).

Việc nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn đã được chú ý phát triển, nhưng thực tế chưa khai thác hết tiềm năng của vùng. Hiện nay toàn vùng có 5,8 vạn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 10,9% diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản của cả nước.

Vấn đề lương thực, thực phẩm ở đồng bằng sông Hồng nằm trong chiến lực phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước. Quá trình giải quyết vấn đề này liên quan tới hàng loạt các biện pháp kinh tế, kỹ thuật.

Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí (trong đó cơ cấu nông nghiệp hợp lí) của đồng bằng có thể được coi là biện pháp quan trọng. Sản xuất lương thực, thực phẩm hàng hoá được phát triển theo hướng thâm canh, đa dạng hoá gắn liền với sự nghiệp công nghiệp hoá.

Việc đẩy mạnh chăn nuôi (nhất là lợn, gia cầm), tận dụng mọi khả năng để nuôi cá nước ngọt, tôm nước lợ, đánh bắt cá biển và chế biến các sản phẩm nông nghiệp sẽ tạo điều kiện tốt để giải quyết nhu cầu thực phẩm và tăng sản phẩm xuất khẩu của đồng bằng này.

Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta, với diện tích gần 4 triệu ha, chiếm khoảng 11,9% diện tích toàn quốc. Tại đây có 16,1 triệu người sinh sống, chiếm khoảng 21,1 số dân cả nước (số liệu năm 1999).

1. Vấn đề sử dụng và cải tạo tự nhiên
 
Hai nhánh Tiền Giang và Hậu Giang của sông Cửu Long. Hình từ vệ tinh của NASA.

Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm phần đất nằm trong phạm vi tác động của các nhánh sông Cửu Long (thượng và hạ châu thổ) và phần đất nằm ngoài phạm vi tác động đó (đồng bằng phù sa ở rìa).

Phần thượng châu thổ là một khu vực tương đối cao (2 – 4m so với mực nước biển), nhưng vẫn bị ngập nước vào mùa mưa. Phần lớn bề mặt có nhiều vùng trũng rộng lớn. Vào mùa mưa, chúng chìm sâu dưới nước, còn vào mùa khô chỉ là những vũng nước tù đứt đoạn. Đây là vùng đất rộng, dân còn thưa, chưa được khai thác nhiều.

Phần hạ châu thổ thấp hơn, thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều và sóng biển. Mực nước trong các cửa sông lên xuống rất nhanh, những lưỡi nước mặn ngấm dần vào trong đất. Ngoài các giống đất ở hai bên bờ sông và các cồn cát duyên hải, trên bề mặt đồng bằng cao 1 – 2m còn có các khu vực trũng ngập nước vào mùa mưa và các bãi bồi trên sông.

Các đồng bằng phù sa ở rìa tuy nằm ngoài phạm vi tác động trực tiếp của sông nhưng vẫn được cấu tạo bởi phù sa sông (như đồng bằng sông Đồng Nai, đồng bằng Cà Mau).

Thiên nhiên đồng bằng sông Cửu Long rất đa dạng với nhiều tiềm năng và không ít trở ngại.

Ở đây, trên nền nhiệt đới ẩm, tính chất cận xích đạo của khí hậu thể hiện hết sức rõ rệt. Hệ thống sông ngòi và các kênh rạch chằng chịt cắt xẻ châu thổ thành những ô vuông làm cho việc giao thông bằng đường thuỷ trở nên dễ dàng.

Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là mùa khô kéo dài, là sự xâm nhập sâu vào đất liền của nước mặn, sự tăng cường độ chua và chua mặn trong đất cũng như những tai biến do thời tiết, khí hậu đôi khi có thể xảy ra.

Mặc dù thổ nhưỡng ở châu thổ là đất phù sa, nhưng tính chất của nó rất phức tạp. Có 3 loại đất chủ yếu. Đất phù sa ngọt ven sông là loại đất tốt nhất, chạy thành một dải dọc sông Tiền và sông Hậu. Đất phèn chiếm diện tích lớn nhất, phân bố thành các vùng tập trung (Đồng Tháp Mười, Hà Tiên, Cần Thơ). Đất mặn phân bố ở cực Nam Cà Mau và dải đất duyên hải Gò Công, Bến Tre. Những trở ngại chính khi cnah tác là đất thiếu dinh dưỡng, nhất là thiếu các nguyên tố vi lượng, đất quá chặt, khó thoát nước.
Sinh vật cũng là nguồn tài nguyên quan trọng của đồng bằng. Thảm thực vật gồm 2 thành phần chủ yếu là rừng ngập mặn và rừng tràm. Về động vật, có giá trị hơn cả là cá và chim.

Tài nguyên biển ở đây hết sức phong phú với hàng trăm bãi cá cùng với nhiều loại hải sản quý.

Các loại khoáng sản ở đồng bằng không có nhiều, chủ yếu là than bùn, vật liệu xây dựng. Việc thăm dò và khai thác dầu khí, mặc dù nằm ngoài khơi, nhưng chắc chắn sẽ có tác động tới nền kinh tế của vùng.

Đồng bằng sông Cửư Long có nhiều ưu thế hơn về điều kiện tự nhiên so với đồng bằng sông Hồng. Tuy vậy, việc sử dụng và cải tạo tự nhiên ở đây lại trở thành một vấn đề cấp bách nhằm biến đồng bằng thành một khu vực kinh tế quan trọng của đất nước.

Nước là vấn đề hàng đầu ở đồng bằng sông Cửu Long. Một hạn chế đáng kể cho việc sử dụng hợp lí đất đai trong vùng là việc đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Vì vậy, cần có nước để rửa phèn, rửa mặn trong mùa khô.

Để đối phó với sự khô hạn làm bốc phèn và bốc mặn, nguồn nước ngọt trong các dòng sông và nước dưới đất có ý nghĩa đặc biệt. Vào mùa khô rất thiếu nước ngọt. Nhân dân địa phương đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để rửa phèn, rửa mặn, và đã đạt được kết quả nhất định. Cách tốt hơn cả, có thể là chia đồng bằng thành các ô nhỏ để có đủ nước thau chua, rửa mặn; đồng thời kết hợp với việc tạo ra các giống lúa chịu được phèn hoặc mặn trong điều kiện nước tưới bình thường.

Đối với khu vực rừng ngập mặn phía Tây Nam đồng bằng, có thể từng bước biến thành những bãi nuôi tôm, trồng sú, vẹt, đước kết hợp với việc bảo vệ môi trường sinh thái; cải tạo dần diện tích đất mặn, đất phèn, thành những vùng đất phù sa mới để trồng cói, lúa, cây ăn quả.

Việc sử dụng và cải tạo tự nhiên vùng này không tách khỏi hoạt động kinh tế của con người. Vết tích của chiến tranh vẫn còn tồn tại. Tình trạng độc canh lúa còn tương đối phổ biến. Điều đó đòi hỏi phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phá thế độc canh, đẩy mạnh việc trồng cây công nghiệp có giá trị cao, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, phát triển công nghiệp chế biến. Đối với vùng biển, hướng chính trong tổ chức lãnh thổ kinh tế là kết hợp mặt biển với đảo, quần đảo và đất liền để tạo nên một thế kinh tế liên hoàn.

2. Vấn đề lương thực, thực phẩm

Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước. Việc giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm ở đây có ý nghĩa không chỉ trong vùng, mà cả trong toàn quốc.
Diện tích đồng bằng khoảng 4 triệu ha, trong đó đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp: 2,65 triệu ha, vào lâm nghiệp: 30 vạn ha, vào các mục đích khác: 33 vạn ha và số đất còn lại chưa khai thác: 67 vạn ha.

Được phù sa sông Cửu Long bồi đắp, lại không bị con người can thiệp quá sớm (như đắp đê), đất đai ở đây nhìn chung khá màu mỡ. Đất trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long nhiều gấp 3 lần mức bình quân đầu người so với đồng bằng sông Hồng.

Đồng bằng sông Cửu Long có 35 vạn ha mặt nước nuôi thủy sản, trong đó có hơn 10 vạn ha nước lợ nuôi tôm xuất khẩu. Riêng cá biển khai thác ở đây chiếm tới 42% sản lượng của cả nước.

Như đã trình bày, trở ngại lớn nhất của đồng bằng là sự nhiễm phèn, nhiễm mặn của đất, trong lúc nước lại không đủ vào mùa khô. Về mặt kinh tế - xã hội, tình trạng chậm phát triển của các ngành kinh tế khác và kết cấu hạ tầng thiếu nghiêm trọng đã ảnh hưởng tới việc sản xuất lương thực, thực phẩm của vùng.

Với tiềm năng sẵn có, đồng bằng sông Cửu Long đã tạo ra một khối lượng lương thực, thực phẩm lớn nhất cả nước.

Lúa giữ ưu thế tuyệt đối trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chiếm tới 99% diện tích cây lương thực và 99,7% sản lượng lương thực của toàn bộ đồng bằng này. Diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt gần 4 triệu ha, chiếm 52% diện tích gieo trồng lúa trong toàn quốc (1999).

Cách tỉnh trồng nhiều lúa nhất ở đồng bằng nói riêng và ở cả nước nói chung là An Giang (462.800 ha), Long An (441.200 ha), Kiên Giang (514.300 ha), Đồng Tháp (442.700 ha).

Do thiên nhiên ưu đãi, năng suất lúa trung bình cả năm ở đây vượt năng suất lúa trung bình toàn quốc (40,3 tạ/ha so với 38,8 tạ/ha, thời kì 1995 – 1999). Năm 1999, sản lượng lúa đạt 16,3 triệu tấn, chiếm 52% sản lượng lúa toàn quốc. Mức lương thực bình quân trên đầu người ở đồng bằng sông Cửu Long lên đến 1012,3 kg nghĩa là gấp 2,3 lần mức bình quân của toàn quốc và cao hơn hẳn so với các vùng khác.

Ngành chăn nuôi của đồng bằng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh. Bò có trên 18 vạn con trong toàn vùng, và được nuôi nhiều nhất ở An Giang, Bến Tre, Trà Vinh. Lợn được nuôi ở khắp nơi và có gần 2,8 triệu con. Đàn vịt hết sức đông đúc, được chăn thả trên các ruộng sau vụ thu hoạch.

Nguồn thực phẩm quan trọng nữa của đồng bằng sông Cửu Long là nguồn thuỷ, hải sản. Trong những năm qua, vùng đồng bằng này đã cung cấp cho các vùng khác và cả cho xuất khẩu 10 vạn tấn cá, tôm, và hàng vạn tấn thịt lợn.

Vấn đề lương thực, thực phẩm của đồng bằng sông Cửu Long liên quan tới nhu cầu của nhiều vùng khác và của xuất khẩu. Đây là địa bàn chiến lược để giải quyết vấn đề ăn cho cả nước và cho xuất khẩu. Vì vậy những định hướng lớn về sản xuất lương thực, thực phẩm của đồng bằng này là tập trung vào việc từng bước biến nơi đây thành vùng lương thực, thực phẩm hàng hoá lớn hơn nữa trên cơ sở thâm canh, tăng vụ, khai thác những diện tích còn hoang hoá, đẩy mạnh ngành công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ hải sản.

Trên thực tế, đồng bằng sông Cửu Long là nơi còn nhiều tiềm năng chưa được lôi cuốn vào hoạt động sản xuất. Hiện tại, hệ số sử dụng ruộng đất ở đây còn thấp. Phần lớn diện tích canh tác là ruộng 1 vụ. Ruộng 2 vụ, và nhất là ruộng 3 vụ còn ít. Nếu giải quyết tốt vấn đề thuỷ lợi, diện tích lúa 2 – 3 vụ sẽ tăng lên.

Diện tích các bãi bồi ven sông, ven biển và diện tích mặt nước chưa được sử dụng còn lớn. Có thể từng bước cải tạo các diện tích này thành đất canh tác hoặc thành vùng nuôi thuỷ sản, nhất là thuỷ sản nước lợ và thuỷ sản nước mặn.

Duyên hải miền Trung

1. Khái quát chung
 
The Hải Vân (Sea and Clouds) pass near Da Nang

Duyên hải miền Trung bao gồm vùng duyên hải Bắc Trung Bộ (các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) và duyên hải Nam Trung Bộ (thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận). Khối núi Bạch Mã – nơi có đèo Hải Vân, được coi là ranh giới tự nhiên giữa hai vùng trên.

Đây là một lãnh thổ hẹp theo chiều Đông – Tây, nhưng lại kéo dài theo chiều Bắc – Nam, với sự phân hoá khá rõ của các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, của dân cư – dân tộc, điều kiện lịch sử… cho phép phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành để khai thác có hiệu quả nhất sự khác biệt lãnh thổ đó.

Duyên hải miền Trung có khá nhiều tài nguyên nhưng chưa khai thác được bao nhiêu. Một số loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn. Tài nguyên lâm nghiệp tương đối giàu. Tài nguyên nông nghiệp, thuỷ sản cũng không kém phần đa dạng. Nhưng đây lại là vùng thường xuyên chịu thiên tai và là vùng bị tàn phá nặng nề nhất trong thời gian chiến tranh. Hiện nay, sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng thực sự còn gặp nhiều khó khăn. Với sự tập trung đầu tư cho vùng, nhất là với sự hình thành và phát triển của địa bàn kinh tế trọng điểm miền Trung, trong tương lai gần đây, kinh tế của vùng sẽ có bước phát triển đáng kể.

2. Vấn đề hình thành cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp

Duyên hải miền Trung là vùng duy nhất của nước ta mà tất cả các tỉnh đều giáp biển, có vùng biển rộng lớn phía Đông, tiếp đến là dải đồng bằng nhỏ hẹp ven biển và vùng đồi núi thấp phía Tây. Vì vậy, vấn đề hình thành cơ cấu kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp có ý nghĩa lớn với tất cả các tỉnh trong vùng.

a) Lâm nghiệp

Tài nguyên lâm nghiệp của toàn vùng chỉ đứng sau Tây Nguyên cả về diện tích và trữ lượng. Độ che phủ của rừng là 34%. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý (táu, lim, sến, kiền kiền, săng lẻ, lát hoa…), nhiều lâm sản, chim, thú có giá trị. Hiện nay, rừng giàu chỉ còn tập trung chủ yếu ở vùng sâu giáp biên giới Việt – Lào và ở sườn cao nguyên. Chính ở đây tập trung nhiều lâm trường, vừa khai thác, tu bổ và trồng rừng. Lâm sản khai thác chủ yếu được đưa về các cơ sở chế biến lâm sản ở Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn để chế biến nhằm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Ở các tỉnh duyên hải miền Trung, việc đẩy mạnh khâu chế biến gỗ và lâm sản, tu bổ rừng và trồng rừng đã trở nên cấp bách. Việc bảo vệ và phát triển vốn rừng còn có tác dụng điều hoà nguồn nước, hạn chế tác hại của các cơn lũ đột ngột trên các sông ngắn và dốc của Trung Bộ. Ở vùng Bắc Trung Bộ việc trồng rừng ven biển có tác dụng chắn gió, bão và ngăn không cho cồn cát lấn sâu vào làng mạc, ruộng đồng.

b) Nông nghiệp

Việc phát triển nông nghiệp của vùng cần dựa trên cơ sở khai thác tổng hợp các thế mạnh về nông nghiệp của vùng trung du, đồng bằng và miền biển. Vùng đồi trước núi có thế mạnh về chăn nuôi đại gia súc (bò là chính). Đàn bò của vùng hiện nay có khoảng 2 triệu con, bằng 50% đàn bò của cả nước. Bắc Trung Bộ còn có một số vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm (cà phê ở Tây Nghệ An và Quảng Trị, cao su, hồ tiêu ở Quảng Bình và Quảng Trị, chè ở Tây Nghệ An).

Trong số các đồng bằng thuộc duyên hải miền Trung chỉ có đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh là tương đối lớn, còn các đồng bằng khác thì nhỏ hẹp, do phù sa bồi đắp các vụng biển cũ. Đất phần lớn là đất cát pha, thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp hàng năm (lạc, mía, thuốc lá…) nhưng không thật thuận lợi cho cây lúa. Ở đây đã hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp hàng năm và các vùng lúa thâm canh. Tuy vậy, bình quân lương thực trên đầu người của vùng còn thấp (chưa đến 290 kg/người).

c) Ngư nghiệp  

 

Bão Lingling bên ngoài bờ biển Việt Nam năm 2001

Biển miền Trung lắm tôm, cá và các hải sản khác. Tỉnh nào cũng có bãi tôm, bãi cá, nhưng lớn nhất là ở biển cực Nam Trung Bộ. Chỉ tính riêng các tỉnh thuộc Nam Trung Bộ, sản lượng thuỷ sản năm 1999 đã vượt 400 nghìn tấn, gấp 2 lần sản lượng năm 1990. Sản lượng cá biển năm 1999 của toàn vùng duyên hải miền Trung là 385 nghìn tấn (của Nam Trung Bộ là 300 nghìn tấn), trong đó có nhiều loài cá quý (như cá thu, cá ngừ, cá trích, cá nục, cá hồng, cá phèn), tôm hùm, tôm he, mực… Bờ biển miền Trung có nhiều vụng, đầm phá thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản. Việc nuôi tôm hùm, tôm sú đang được phát triển ở nhiều nơi, nhất là các tỉnh ở vùng Nam Trung Bộ (Phú Yên, Khánh Hoà). Hoạt động chế biển hải sản ngày càng đa dạng, phong phú. Tương lai, ngành thuỷ sản sẽ có vai trò ngày càng lớn hơn trong việc giải quyết vấn đề thực phẩm của vùng và tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá. Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý tới việc khai thác hợp lí và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trong vùng.

3. Vấn đề hình thành cơ cấu công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng


Vấn đề hình thành có cấu công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng ở các tỉnh thuộc duyên hải miền Trung có ý nghĩa cấp bách. Đó là vì duyên hải miền Trung có nhiều tiềm năng về khoáng sản, lâm sản, thuỷ sản, nhưng tiềm năng về năng lượng tương đối hạn chế, cơ sở hạ tầng của vùng còn nghèo và bị tàn phá nhiều do chiến tranh, lại hay bị đe doạ huỷ hoại do thiên tai.

a) Cơ cấu công nghiệp của vùng đang trong quá trình hình thành

Trong vùng có một số mỏ khoáng sản có giá trị như mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh), mỏ crômit Cổ Định (Thanh Hoá), mỏ thiếc Quỳ Hợp (Nghệ An). Duyên hải Nam Trung Bộ có trữ lượng lớn cát làm thuỷ tinh, ôxyt titan. Đất sét, cao lanh, đá vôi làm xi măng sẵn có ở Bắc Trung Bộ. Ngoài ra còn có một số mỏ đá quý.

Do hạn chế về điều kiện kỹ thuật và vốn nên nhiều tài nguyên khoáng sản của vùng vẫn ở dạng tiềm năng hoặc được khai thác không đáng kể (crômit, thiếc…)

Cơ sở năng lượng (điện) chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển cũng như các hoạt động kinh tế khác của vùng. Vấn đề này đang được giải quyết theo hướng sử dụng điện của nhà máy điện Hoà Bình qua đường dây 500 kV, xây dựng ở Nam Trung Bộ một số nhà máy thuỷ điện với quy mô trung bình như Sông Hinh (Phú Yên), Vĩnh Sơn (Bình Định), hoặc tương đối lớn như Hàm Thuận – Đa Mi (Bình Thuận). Ở Bắc Trung Bộ dự kiến sẽ xây dựng nhà máy thuỷ điện Bản Mai (Nghệ An).

Các trung tâm công nghiệp của vùng như Thanh Hoá - Bỉm Sơn, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang đang được phát triển với nhịp độ nhanh, định hình rõ nét, với việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho các ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm, dệt. Trong vùng có một số nhà máy xi măng lớn như Bỉm Sơn, Nghi Sơn (Thanh Hoá).

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi) đang được chú trọng đầu tư, đặc biệt với việc xây dựng cảng nước sâu Dung Quất và nhà máy lọc dầu số 1 ở khu công nghiệp Dung Quất, công nghiệp của vùng sẽ có những bước phát triển rõ nét trong thập kỉ tới.

b) Việc xây dựng cơ cấu công nghiệp của vùng gắn liền với việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trước hết là giao thông vận tải và thông tin liên lạc

Do lãnh thổ dài và hẹp nên trục đường quốc lộ 1, đường sắt Bắc – Nam và các thành phố, thị xã nằm dọc theo các trục đường này trở thành trục kinh tế xương sống của vùng. Quốc lộ 1 và đường sắt Bắc – Nam đã và đang được nâng cấp, hiện đại hoá, giúp đẩy mạnh sự giao lưu giữa duyên hải miền Trung với các vùng cực phát triển của cả nước là đồng bằng sông Hồng (ở phía Bắc) và Đông Nam Bộ (ở phía Nam). Hệ thống sân bay của vùng đã được khôi phục, hiện đại, gồm sân bay quốc tế Đà Nẵng và các sân bay trong nước Vinh, Huế, Quy Nhơn, Nha Trang.

Duyên hải miền Trung (nhất là Nam Trung Bộ) là khu vực thuận lợi nhất của nước ta để xây dựng các cảng nước sâu. Đây là lợi thế của vùng để phát triển nền kinh tế mở. Hiện nay, hệ thống cảng biển trong vùng đang được nâng cấp, trong đó có các cảng quốc tế Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang. Các cảng nước sâu mới xây dựng là Nghi Sơn (Thanh Hoá), Dung Quất (Quảng Ngãi).

Dự án đường Hồ Chí Minh nhằm hiện đại hoá các tuyến đường xuyên Trường Sơn, nối với đường quốc lộ 1 bằng các tuyến đường ngang theo hướng Đông – Tây, trong đó có các tuyến đường sang Lào, lên Tây Nguyên, nối các vùng khai thác với các cơ sở chế biến và các cảng xuất khẩu, làm cho sự phân công lao động theo lãnh thổ được phát triển ngày một hoàn chỉnh hơn.

Trung du và miền núi phía Bắc

1. Khái quát chung

Đường lên Phan Xi Păng vào mùa đông - Ảnh: Owlmain Ghi rõ nguồn khi sử dụng!

Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích rộng lớn (102,9 nghìn km2), với vị trí địa lí đặc biệt, giáp với Thượng Lào và có thể giao lưu thuận lợi bằng đường sắt và đường ô tô với các tỉnh phía Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai và Móng Cái.

Trung du và miền núi phía Bắc kề liền với khu vực đồng bằng sông Hồng, giao lưu dễ dàng (nhất là vùng Đông Bắc) với khu vực kinh tế phát triển sôi động này của đất nước. Phía Đông là vịnh Bắc Bộ, một vùng biển giàu tiềm năng.

Trung du và miền núi phía Bắc bao gồm vùng Tây Bắc núi non hiểm trở và vùng Đông Bắc với các núi thấp và đồi, các dãy núi hình cánh cung. Đây là những vùng giàu tài nguyên để phát triển nông nghiệp (trồng cây công nghiệp, cây đặc sản, chăn nuôi gia súc lớn), công nghiệp (tài nguyên năng lượng, kim loại và không kim loại), du lịch, kinh tế biển và phần nào là lâm nghiệp (vì tài nguyên rừng đã bị suy thoái nhiều).

Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người (Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Mông…). Nơi đây có Việt Bắc, cái nôi của cách mạng, có Điện Biên Phủ lịch sử. Do vậy, việc phát huy các thế mạnh của vùng không chỉ có ý nghĩa kinh tế lớn, mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc.

2. Thế mạnh về khai thác, chế biến khoáng sản và thuỷ điện


Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có khoáng sản và trữ năng thuỷ điện lớn nhất nước ta. Lòng đất ở đây giàu than, quặng sắt, mangan, đồng, chì, kẽm, đất hiếm, apatit. Tuy nhiên, đa số các mỏ lại ở nơi mà kết cấu hạ tầng giao thông vận tải chưa phát triển, các vỉa quặng thường nằm sâu dưới lòng đất cho nên việc khai thác đòi hỏi phải có các phương tiện hiện đại và chi phí khai thác cao. Trong tương lai, sự kết hợp các tài nguyên phong phú, đa dạng trên lãnh thổ của vùng là một thế mạnh mà không phải vùng nào cũng có.

Các mỏ than tập trung chủ yếu ở khu Đông Bắc (Quảng Ninh, Na Dương, Thái Nguyên). Vùng than Quảng Ninh (trữ lượng thăm dò được là 3 tỉ tấn, chủ yếu là than antraxit) là vùng than lớn bậc nhất và chất lượng than tốt nhất của khu vực Đông Nam Á. Năm 1998, sản lượng khai thác vào khoảng 10 triệu tấn, trong đó lượng xuất khẩu vào khoảng 3 triệu tấn. Nguồn than khai thác được còn dùng làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện, như nhà máy nhiệt điện Uông Bí (Quảng Ninh) có công suất lên tới 150 nghìn kW. Sắp tới sẽ xây dựng nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, công suất 600 nghìn kW.

Khu Tây Bắc có một số mỏ khá lớn như mỏ quặng đồng – niken (Sơn La), đất hiếm (Lai Châu).

Khu Đông Bắc có nhiều mỏ kim loại, đáng kể hơn cả là mỏ sắt (Yên Bái), thiếc và bôxit (Cao Bằng), kẽm – chì ở Chợ Điền (Bắc Cạn), đồng – vàng (Lào Cai). Mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) sản xuất khoảng 1000 tấn thiếc mỗi năm, để tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Khoáng sản phi kim loại đáng kể có apatit (Lào Cai). Mỗi năm khai thác khoảng 600 nghìn tấn quặng để sản xuất phân lân.

Trữ năng thuỷ điện của hệ thống sông Hồng (11 triệu kW) chiếm hơn 1/3 trữ năng thuỷ điện của cả nước. Riêng sông Đà chiếm gần 6 triệu kW. Nguồn thuỷ năng lớn này đang được khai thác. Nhà máy thuỷ điện Thác Bà trên sông Chảy có công suất thiết kế là 110 nghìn kW. Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà có công suất thiết kế là 1,9 triệu kW. Dự kiến sẽ xây dựng một số nhà máy thuỷ điện lớn như nhà máy thuỷ điện Sơn La (trên sông Đà) với công suất là 3,6 triệu kW, thuỷ điện Đại Thị (trên sông Gâm) 250 nghìn kW…

Việc phát triển thuỷ điện sẽ tạo ra động lực mới cho sự phát triển của vùng, nhất là việc khai thác và chế biến khoáng sản trên cơ sở nguồn điện rẻ và dồi dào. Tuy nhiên với những công trình kỹ thuật lớn như thế, cần chú ý đến những thay đổi không nhỏ của môi trường.

3. Thế mạnh về cây công nghiệp, cây dược liệu, các loại rau quả cận nhiệt và ôn đới.

Trung du và miền núi phía Bắc có phần lớn diện tích là đất feralit trên đá phiến, đá vôi và các đá mẹ khác, ngoài ra còn có đất phù sa cổ (ở vùng trung du). Nơi đây có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, có mùa đông lạnh, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện địa hình vùng núi. Vùng núi và trung du Đông Bắc địa hình tuy không cao, nhưng lại là nơi chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa đông bắc, là khu vực có mùa đông lạnh nhất nước ta. Vùng núi Tây Bắc tuy chịu ảnh hưởng yếu hơn của gió lạnh mùa đông, nhưng do nền địa hình cao nên mùa đông cũng vẫn lạnh. Bởi vậy, trung du và miền núi phía Bắc có thế mạnh đặc biệt để phát triển các cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới. Đây chính là vùng chè lớn nhất cả nước, với các loại chè thơm ngon nổi tiếng ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Yên Bái, Hà Giang, Sơn La.

Ở các vùng núi giáp biên giới của Cao Bằng, Lạng Sơn, cũng như trên vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng các cây thuốc quý (tam thất, đương quy, đỗ trọng, hồi, thảo quả…) và các cây ăn quả như mận, đào, lê. Ở Sa Pa có thể trồng rau mùa đông và sản xuất hạt giống quanh năm.

Khả năng mở rộng diện tích và nâng cao năng suất cây công nghiệp, cây đặc sản và cây ăn quả của trung du và miền núi phía Bắc còn rất lớn. Nhưng một khó khăn lớn đối với khu Đông Bắc là thời tiết hay nhiễu động, thất thường, còn đối với khu Tây Bắc là nạn thiếu nước về mùa đông. Mạng lưới các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản (nguyên liệu cây công nghiệp) chưa cân xứng với thế mạnh của vùng.

Việc đẩy mạnh sản xuất cây công nghiệp và cây đặc sản sẽ cho phép phát triển nền nông nghiệp hàng hoá có hiệu quả cao của vùng và có tác dụng hạn chế nạn du canh, du cư.

4. Thế mạnh về chăn nuôi gia súc

Trung du và miền núi phía Bắc có nhiều đồng cỏ, chủ yếu là trên các cao nguyên ở độ cao 600 – 700m. Các đồng cỏ thường không lớn. Tuy vậy ở đây có thể phát triển chăn nuôi trâu, bò (lấy thịt và lấy sữa), ngựa, dê. Bò sữa được nuôi tập trung ở cao nguyên Mộc Châu (Sơn La). Trây, bò thịt được nuôi rộng rãi, nhất là trâu. Trâu khoẻ hơn, chịu ẩm giỏi hơn bò, dễ thích nghi với điều kiện chăn thả trong rừng. Đàn trâu trong vùng có hơn 1,7 triệu con, chiếm 3/5 đàn trâu cả nước. Đàn bò khoảng 800 nghìn con, bằng 20% đàn bò cả nước.

Hiện nay, những khó khăn trong việc vận chuyển các sản phẩm chăn nuôi tới vùng tiêu thụ (đồng bằng và đô thị) đã hạn chế việc phát triển chăn nuôi gia súc lớn của vùng. Thêm vào đó, các đồng cỏ cũng cần được cải tạo, nâng cao năng suất.

Do giải quyết tốt hơn lương thực cho người, nên hoa màu lương thực được giành nhiều hơn cho chăn nuôi đã thúc đẩy nhanh việc phát triển đàn lợn trong vùng, lên tới gần 5 triệu con (năm 1999), chiếm 26% đàn lợn của cả nước.

5. Thế mạnh về kinh tế biển


Trong điều kiện mở cửa nền kinh tế, thế mạnh về kinh tế biển của trung du và miền núi phía Bắc sẽ càng được phát huy. Vùng biển Quảng Ninh là một vùng biển rất giàu tiềm năng, một vùng đang phát triển năng động cùng với sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Ở đây đang phát triển mạnh ngành đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, nhất là đánh bắt xa bờ. Du lịch biển - đảo đang đóng góp đáng kể vào cơ cấu kinh tế, với quần thể du lịch Hạ Long đã được xếp hạng vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới. Cảng Cái Lân (một cảng nước sâu) đang được xây dựng và nâng cấp, tạo đà cho sự hình thành khu công nghiệp Cái Lân…

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý


Trong thời gian qua tôi đã nhận được rất nhiều thư từ các bạn đọc. Xin cảm ơn sự quan tâm đó. Có một câu hỏi được các bạn độc giả hỏi rất nhiều là: Bảo hộ chỉ dẫn địa lý là gì và bảo hộ ra sao? Bài viết này nhằm trả lời thắc mắc các độc giả cũng xin giới thiệu thêm TT Nghiên cứu & PT Hệ thống Nông Nghiệp của chúng tôi là một đơn vị chuyên làm về chỉ dẫn địa lý. Mọi thắc mắc xin liên hệ với chúng tôi.

Chỉ dẫn địa lý là gì ?
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó.
Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp.
Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ.
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
b) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý:
a) Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt Nam;
b) Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng;
c) Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;
d) Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó.
Theo Cục sở hữu trí tuệ

Phân tích mờ - điểm nhấn của ArcGIS 10

Phân tích mờ - điểm nhấn của ArcGIS 10
 
Phân tích không gian được xem là điểm mạnh nỗi bật của GIS so với các ứng dụng khác
Từ ArcGIS 10, điểm mạnh này càng được gia tăng khi phân tích mờ (fuzzy analyst) được chính thức tích hợp vào ArcGIS.
Phân tích mờ được xem xét tới khi các biến đầu vào của bài toán biến đổi không rõ (fuzzy), theo một hàm toán học cho trước. Ví dụ khi xem xét tới vị trí ngập nước và không ngập nước, vị trí này có thể xem như xác định không rõ ràng. Xác định vùng ranh giới giữa đô thị và nông thông chỉ mang tính tương đối. Ranh giới giữa vùng nhiễm mặn và không nhiễm mặn là đường ranh không cố định (mờ). Những vùng chồng lấn này trong thực tế khó xác định một cách chính xác, mà chỉ có thể giải quyết dựa trên yếu tố mờ để định lượng được chúng. Kết quả đầu ra của bài toán dựa trên thuận toán phân tích dựa vào các biến mờ đầu vào sẽ cho ta các vị trí lựa chọn mang tính phù hợp cao hơn so với các bài toán phân tích dựa trên các biến rõ mà ta đã làm trước đây.
Một vài ứng dụng có thể sử dụng phân tích mờ:
-         Phân tích vùng thích nghi cây trồng và không thích nghi với cây trồng
-         Phân tích vùng thích nghi động vật và không thích nghi với động vật
-         Phân tích vùng ô nhiễm và không ô nhiễm
-         Phân tích tìm đường đi
-         Phân tích xác định vùng đệm (dân cư, rừng, nhiễm mặn, ngập lụt…)
-         Phân tích trong kinh doanh

Để hiểu rõ hơn bạn có thể tham khảo clip về dùng phân tích mờ xác định vùng thích nghi của loài chim đại bàng tại đây.

Mapinfo 10.5.0.19

Mapinfo 10.5.0.19

Mapinfo 10.5.0.19 [phần mềm về GIS, biên tập bản đồ thông dụng nhất]



Vừa qua, MapInfo 10.5.0.19 đã được ra lò. Với những ưu điểm như vượt trội so với bản các phiên bản trước:
+ Tốc độ nhanh.
+ Giao diện thiết kế rất bắt mắt...
Sử dụng rất thuận tiện với layer control thông minh, Đặc biệt với giao diện Vista rất ấn tượng.     
Độc giả download phiên bản dùng thử 30 ngày tại đây: Download
Cần phần mềm liên hệ tại đây

Hiểu rõ bản chất của GIS

Nếu bạn đang muốn tìm hiểu về GIS thì đây chính là trang của bạn. Nếu bạn mới tiếp xúc với GIS, chúng tôi khuyên bạn nên đi theo lần lượt thứ tự các nội dung như trình bày. Các nội dung được chúng tôi cố gắng trình bày rất đơn giản, dễ hiểu nhằm giúp mọi người đều có thể hiểu được.

Trước khi có thể hiểu về GIS chúng ta phải hiểu về thông tin và hệ thống thông tin.

I. THÔNG TIN


Chúng ta luôn có nhu cần có thông tin về những đối tượng mà chúng ta quan tâm. Ví dụ, nếu muốn chọn trường để học thì cần biết các thông tin như trường đó ở đâu, trường đó có nhiều giáo viên giỏi hay không, nội dung đào tạo như thế nào, đi từ nhà đến trước mất bao nhiêu thời gian, học phí của trường đó bao nhiêu…; nếu muốn xây dựng một khu du lịch hay khu công nghiệp ở một khu vực nào đó thì cần biết thông tin về tình hình kinh tế, các vấn để xã hội, vị trí địa lý, mạng lưới giao thông… của khu vực đó.

Tập hợp thông tin theo một cách sắp xếp nào đó thì trở thành dữ liệu. Dữ liệu có thể được lưu trữ bằng nhiều hình thức, ngày nay dữ liệu được lưu phổ biến trong máy vi tính.

II. HỆ THỐNG THÔNG TIN


Để có thể khai thác thông tin hay dữ liệu hiệu quả hơn, người ta thường tổ chức thành một hệ thống. Trong hệ thống đó có các máy vi tính và các thiết bị ngoại vi đi kèm, các phần mềm trong các máy vi tính, dữ liệu được lưu trong máy vi tính, con người và cách hoạt động của hệ thống. Cụ thể:

- Máy vi tính và các thiết bị ngoại vi (như máy in, máy scan, và nhiều thiết bị khác tuỳ theo hệ thống) là những công cụ rất quan trọng của hệ thống. Máy vi tính được dùng để lưu trữ dữ liệu và là nơi để cài đặt các phần mềm. Các thiết bị ngoại vi cũng có vai trò riêng trong hệ thống.

- Các phần mềm gồm có hệ điều hành (Microsoft Windows mà chúng ta thường dùng là một hệ điều hành, ngoài ra còn có hệ điều hành Linux, Unix, Macintosh) và các phần mềm được cài đặt trong hệ điều hành đó. Ngoại trừ hệ điều hành, các phần mềm còn lại giúp người dùng trong các công việc của hệ thống. Các công việc này có thể là chỉnh sửa, cập nhật dữ liệu, phân tích dữ liệu để phục vụ các quyết định và nhiều công việc khác.

- Dữ liệu của hệ thống được xem là một thành phần rất quan trọng và thường được ví là linh hồn của hệ thống. Dữ liệu được lưu trữ theo nhiều cách khác nhau. Ngày nay, dữ liệu thường được lưu trữ thành những bảng có nhiều cột và nhiều dòng, các bảng có quan hệ với nhau. Cơ sở dữ liệu bao gồm nhiều bảng như vậy. Để quản lý các cơ sở dữ liệu, người ta sử dụng những phần mềm riêng. Những phần mềm này được gọi là hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Cơ sở dữ liệu cần được thường xuyên cập nhật theo thời gian.

- Cách thức mà hệ thống hoạt động cũng được xem là một thành phần của hệ thống. Cách thức hoạt động của hệ thống nêu rõ nhiệm vụ của từng bộ phận, nêu rõ các công việc của hệ thống và nêu rõ hệ thống hoạt động như thế nào để hệ thống đem lại thông tin và phục vụ các quyết định của người sử dụng. Không có cách thức hoạt động này, các bộ phận khác như phần mềm, máy móc, dữ liệu… không thể kết hợp với nhau thành hệ thống được.

- Con người tồn tại hiển nhiên trong hệ thống. Con người có thể là những người xây dựng, bảo dưỡng, cập nhật hệ thống và con người cũng có thể là những người sử dụng hay khai thác thông tin từ hệ thống.
III. MỘT VÍ DỤ VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐƠN GIẢN


httt don gian


Trong phần này, chúng ta cùng nhau xem xét một hệ thống thông tin đơn giản để hiểu sâu hơn về hệ thống thông tin. Hãy đọc thêm phần này nếu như bạn chưa hiểu về hệ thống thông tin.

Các trường đại học thường có hệ thống thông tin để quản lý các sinh viên của họ. Hệ thống này có thể được tổ chức như sau:

- Dữ liệu về sinh viên được tổ chức thành dạng các bảng (các bảng tab_ngoaikhoa, tab_ngoaingu, tab_nhatro, tab_password, tab_relation…. Trong các bảng này có nhiều cột, thường được gọi là trường, có các trường id, mssv, hoten, ngaysinh, quequan, suckhoe. Mỗi trường tương ứng với một thông tin nào đó của sinh viên. Mỗi dòng thường được gọi là mẫu tin, một mẫu tin bao gồm nhiều thông tin cho một sinh viên.

- Các máy tính của hệ thống này sẽ gồm một máy chủ, các máy trạm. Máy chủ sẽ lưu trữ dữ liệu, sẽ được cài Microsoft Access để quản lý dữ liệu, và sẽ là nơi để một trang web hoạt động. Trang web này cho phép các sinh viên, giảng viên có thể truy cập để xem các thông tin của mình như điểm, lịch học, lịch thực tập…Các máy trạm là các máy của các thầy cô giáo phụ trách hệ thống sử dụng để kết nối vào máy chủ cập nhật dữ liệu, cập nhật trang web hay các công việc khác của hệ thống. Các máy mà sinh viên sử dụng để truy cập và trang web của trường cũng được xem là các máy trạm. Ngoài các máy tính, hệ thống còn có có máy in để in thông tin, máy scan để quét ảnh của sinh viên.

- Các bảng nói trên được tập hợp và quản lý trong phần mềm Microsoft Access. Microsoft Access chính là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Ngoài Microsoft Access, chúng ta cần thêm hệ điều hành Microsoft Window cho máy chủ và máy trạm, cần thêm các phần mềm để nhập và biên tập dữ liệu thuận lợi hơn vì làm trực tiếp trên Access thì chưa thuận tiện, cần phần mềm để quét ảnh từ máy scan…

- Cách thức hoạt động của hệ thống này là: thông tin sinh viên được các thầy cô giáo phụ trách hệ thống nhập vào cơ sở dữ liệu và cập nhật thường xuyên. Các máy tính phần mềm có vai trò như đã nói ở trên. Các sinh viên, phụ huynh, các thầy cô giáo tùy theo nhu cầu có thể truy cập vào trang web của trường để xem thông tin ở đó. Một lãnh đạo trường xem xét thông tin có thể sẽ có những biện pháp để cải thiện tình hình học tập của sinh viên hay tổ chức các hoạt động liên quan. Một sinh viên xem thông tin về lịch học sẽ sắp xếp thời gian của mình. Phụ huynh xem điểm học của con em có thể có khen thưởng hay phê bình con em mình. Thông tin tác động đến con người và phục vụ con người như thế đó !

- Con người của hệ thống chính là thầy cô giáo, sinh viên, phụ huynh và những người quan tâm.


IV. HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ


GIS


Qua phần II và III chúng ta đã phân tích thế nào là một hệ thống thông tin. Và bây giờ chúng ta sẽ dễ hiểu được thế nào là hệ thống thông tin địa lý.
Cụm từ “Hệ thống thông tin địa lý” trong tiếng Anh là Geography Information System, được viết tắt là GIS. Các nước nói tiếng Pháp thì do trật tự từ khác đi nên thuật ngữ này thường được viết tắt là SIG.

Trong cụm từ “hệ thống thông tin địa lý” có cụm từ “hệ thống thông tin” và từ “địa lý”. Có thể hiểu hệ thống thông tin địa lý trước hết là một hệ thống thông tin. Điều này có nghĩa là GIS cũng là một hệ thống thông tin như bao nhiêu hệ thống thông tin khác, tức là cũng có các thành phần mà chúng ta đã phân tích ở các phần trước. Điều khác biệt giữa GIS và các hệ thống thông tin khác là ở từ “địa lý”, tức là dữ liệu của GIS là dữ liệu địa lý.


Như vậy, nếu như phải có một định nghĩa về hệ thống thông tin địa lý thì chúng ta có thể định nghĩa: hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống thông tin nhưng khác biệt với các hệ thống thông tin khác ở chổ dữ liệu của hệ thống này là dữ liệu địa lý.


V. DỮ LIỆU ĐỊA LÝ LÀ DỮ LIỆU NHƯ THẾ NÀO ?


Ví dụ chúng ta đang tìm hiểu thông tin về các ngôi trường trung học trong khu vực chúng ta đang sinh sống. Khi thu thập thông tin, ta sẽ có được những mẫu tin cho các trường. Với mỗi trường các thông tin có thể có là tên trường, lọai hình, số lượng giáo viên, số lượng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ đang công tác tại trường, số lượng học sinh, số lượng nam, số lượng nữ, ngày thành lập, địa chỉ...

Như vậy là có rất nhiều thông tin về trường đó nhưng còn thiếu một loại thông tin rất quan trọng: ngôi trường đó ở vị trí nào trong không gian, ở độ cao bao nhiêu, xung quang ngôi trường đó có những đối tượng nào không, khuôn viên của trường có hình dáng như thế nào, rộng bao nhiêu, kích thước các chiều như thế nào, từ ngôi trường đó đến nhà bạn thì khoảng cách bao nhiêu, đi qua các con đường nào là ngắn nhất...

Tất nhiên là chúng ta có thể mô tả những thông tin bị thiếu trên đây bằng lời mà vẫn hiểu được. Nhưng rõ ràng là khó hình dung một cách cụ thể.
Để giải quyết bài toàn này, người ta xây dựng một loại dữ liệu tái hiện hình dáng các đối tượng trong không gian bằng hình học, các thông tin không tái hiện ở dạng hình học được thì sẽ được đính kèm vào các hình vẽ đó một cách tương ứng. Các thông tin đính kèm này được gọi là dữ liệu thuộc tính. Phần hình học được gọi là dữ liệu không gian.

Như vậy, dữ liệu địa lý là dữ liệu bao gồm dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính được kết hợp với nhau một cách tương ứng. Dữ liệu địa lý có thể là các bản đồ số trên máy vi tính, các mô hình mô phỏng hình dáng bề mặt trái đất, các cơ sở dữ liệu ảnh bề mặt trái đất...Trong đó, bản đồ số là một loại dữ liệu địa lý rất phổ biến nhưng dữ liệu địa lý không chỉ có mỗi một loại dữ liệu bản đồ số. Đây là điều mà chúng ta cần phân biệt rõ.

Dữ liệu địa lý có từ nhiều nguồn khác nhau như từ bản đồ giấy, từ các dữ liệu đo đạc, dữ liệu thu thập thông tin, từ ảnh vệ tinh, từ ảnh bay chụp hàng không... Ngày nay, trong GIS, dữ liệu thuộc tính không chỉ ở dạng text như trước mà còn được ở dưới nhiều định dạng khác nhau, đặc biệt là ở dưới dạng hình ảnh, các đọan video, các file âm thanh... nhờ đó thông tin trở nên phong phú và càng sinh động hơn.

Dữ liệu của GIS là dữ liệu địa lý vì vậy nhiều nơi người ta thường gọi dữ liệu địa lý là dữ liệu GIS.

Top 5 máy định vị toàn cầu GPS

Công nghệ GPS có vẻ như vẫn rất xa lạ với người Việt Nam. Để giúp bạn đọc hiểu phần nào những ứng ụng tuyệt vời của GPS Navigation – định vị toàn cầu, xin giới thiệu top 5 thiết bị GPS đang được ưa chuộng nhất trên thế giới, đặc biệt dành cho nhưng người yêu thích du lịch, đi xa, hay chỉ đơn giản là hay…bị lạc đường!

Garmin Nuvi 660

Mặc dù giá thành hơi cao, nhưng bù lại Nuvi 660 có bề ngoài bắt mắt và tính năng vô cùng đa dạng. Bên cạnh những đặc điểm cơ bản nhất của một thiết bị GPS, Nuvi 660 có kết nối Bluetooth, Wi-Fi…Nếu không đủ tiền mua loại này, bạn có thể chọn các mẫu khác của Garmin – cũng sẽ khiến bạn hài lòng.

Giá: 508 USD – 800 USD


HP iPaq rx5900 Travel Companion


Với những người bận rộn, HP iPad rx5900 Travel Companion thực sự là một người bạn đồng hành đáng tin cậy. Mang dáng vẻ lôi cuốn, giải pháp “tất cả trong một” của rx5900 không những hướng dẫn bạn đi đúng đường mà còn giúp thực hiện đúng những kế hoạch của mình. Chiếc máy GPS kiêm PDA này được coi là đẹp mắt nhất từ trước đến nay.

Giá: chưa được công bố

Magellan Maestro 4040


Phiên bản mới này của Magellan đã được cải tiến nhiều trong thiết kế và giao diện. Hãy ngồi thảnh thơi trong xe hơi với chuyến du ngoạn của mình, Maestro 4040 sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về địa lý, giao thông trên hành trình của bạn thông qua hệ thống định vị bản đồ AAA.

Giá: 328 USD – 510 USD

Mio C520 Navigation Receiver


Màn hình rộng, nhiều tính năng bổ trợ với giá thành rẻ là điểm hấp dẫn của C520. Bạn có thể sử dụng thiết bị này để chơi video với chất lượng đủ tốt; bên cạnh đó, vẻ ngoài cũng không phải là..xấu.

Giá: 280 USD – 340 USD

TomTom GO 720

Dù thiết bị GPS đã phổ biến ở các nước giàu có, có thể dễ dàng mua với một giá “rẻ bèo” nhưng GO 720 vẫn tạo ra sự khác biệt với công cụ Map Share cộng đồng – cho phép bạn update các bản đồ, hướng dẫn một cách cập nhật nhất. Đặc biệt là chức năng hỗ trợ trong những trường hợp khẩn cấp.

Giá: 400 USD – 600 USD

VietMap Tư Triều phiên bản 1.3 đã phát hành

Phiên bản 1.3 có một số thay đổi sau :
- Bỏ logo quảng cáo ban đầu
- Có bản đồ tỉnh thành toàn quốc ( data này có khả năng khai thác đvị toàn cầu )
- Dữ liệu HN có bổ sung thêm, có màu sắc các quận huyện
- Rất tiếc HCM em chưa có thời gian update data này
- Có khả năng đánh dấu các điểm mốc, thuận lợi hơn cho việc định mốc các vị trí trên bản đồ
- Có khả năng chèn địa danh của chính mình ( mở rộng tất cả , từ nhà hàng, ksạn …) và lưu trữ được chúng.
 
Lưu ý: Khi người dùng mở các data khác nhau, khi mở lại data cũ thì dữ liệu mới nạp vào sẽ ko thấy , người dùng nên nạp lại bằng cách : Hệ thống -> Nạp thông tin -> chọn MyVietMapInf
- Ổn định hơn trên các dòng PDA, PDA-Phone khác nhau
- GPS tốt hơn, tuy nhiên với các GPS-BuildIn, Tư Triều chưa có thiết bị để test nên vẫn chưa xài đc ( hy vọng 1-2 tuần tới mượn đc thiết bị sẽ fix cho a em)

Link download vietmap1.3:
http://www.gpsvn.com/tutrieu/VietMap1.3.rar
Nếu lỗi font hiển thị, xin download và cài font sau:
http://www.gpsvn.com/tutrieu/VNSysFont.exe
Hy vọng 1.3 sẽ tốt hơn, hữu dụng hơn với mọi người.
Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.
Vietmap


Hình ảnh


Hình ảnh

_________________

Vietmap cập nhật bản đồ Việt Nam đầy đủ 64 tỉnh thành

In

Vietmap hiện tại có thể xem là thương hiệu số 1 tại Việt Nam về định vị dẫn đường cho các thiết bị cầm tay. Lâu nay, người dùng sản phẩm của công ty có nhiều kỳ vọng ở sản phẩm này và đến tháng 5 này, tin từ Vietmap cho hay đã có nhiều thay đổi. Thông tin về các dòng sản phẩm của Vietmap đã được cập nhật

VIETMAP GPS R12

Hệ thống vệ tinh dẫn đường VIETMAP - Phần mềm cài đặt cho PocketPC.


Tính năng:

* Bản đồ điện tử 64 tỉnh thành Việt Nam với thông tin số nhà, thông tin giao thông (đường 1 chiều, đường 2 chiều, đường 1 chiều ô tô, đường cấm, biển cấm rẽ trái / phải, biển cấm ô tô rẽ trái / phải...) được cập nhật liên tục
* Cẩm nang tra cứu thông tin du lịch nhanh chóng, chính xác và dễ sử dụng với thông tin phong phú các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn, ngân hàng,... trên toàn quốc
* Định vị, tìm đường và hướng dẫn lộ trình bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS
* Tra cứu địa điểm muốn đến bằng nhiều cách: theo tên đường, theo địa chỉ, theo giao lộ, theo các điểm có sẵn trong danh bạ
* Tìm lộ trình nhanh nhất hoặc ngắn nhất từ vị trí đang đứng đến địa điểm muốn đến
* Tự động tìm lại lộ trình trong tình huống đi sai
* Hình ảnh dẫn đường 2D/3D với giọng nói hướng dẫn lộ trình bằng tiếng Anh, tiếng Việt
* Hiển thị hướng quẹo và khoảng cách đến chỗ quẹo
* Hiển thị khoảng cách tới điểm đến và dự tính thời gian tới điểm đến
* Giao diện thân thiện, màu sắc hài hòa với 2 ngôn ngữ hiển thị Việt - Anh
* Chế độ màn hình ban ngày, ban đêm
* Dễ dàng cập nhật dữ liệu bản đồ mới hoàn toàn miễn phí

Yêu cầu hệ thống:

* Hệ điều hành Pocket PC 2003 SE trở lên
* CPU: XScale (PXA)
* OS hỗ trợ tiếng Anh và tiếng Việt
* Tối thiểu 64 MB RAM
* Thẻ nhớ 64MB trở lên (khuyến cáo)
* Thiết bị thu tín hiệu GPS receiver (tùy chọn và hỗ trợ các loại thiết bị thu tín hiệu GPS CF/PCMCIA/RS232/Bluetooth/SD)

VIETMAP GPSmile 53A/53B/53C


Hệ thống vệ tinh dẫn đường VIETMAP - Bộ sản phẩm gắn trực tiếp trên xe ô tô hoặc sử dụng như thiết bị cầm tay.

Tính năng:

* Bản đồ điện tử 64 tỉnh thành Việt Nam với thông tin số nhà, thông tin giao thông (đường 1 chiều, đường 2 chiều, đường 1 chiều ô tô, đường cấm, biển cấm rẽ trái / phải, biển cấm ô tô rẽ trái / phải...) được cập nhật liên tục
* Cẩm nang tra cứu thông tin du lịch nhanh chóng, chính xác và dễ sử dụng với thông tin phong phú các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn, ngân hàng,... trên toàn quốc
* Định vị, tìm đường và hướng dẫn lộ trình bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS
* Tra cứu địa điểm muốn đến bằng nhiều cách: theo tên đường, theo địa chỉ, theo giao lộ, theo các điểm có sẵn trong danh bạ
* Tìm lộ trình nhanh nhất hoặc ngắn nhất từ vị trí đang đứng đến địa điểm muốn đến
* Tự động tìm lại lộ trình trong tình huống đi sai
* Hình ảnh dẫn đường 2D/3D với giọng nói hướng dẫn lộ trình bằng tiếng Anh, tiếng Việt hoặc tiếng Hàn
* Hiển thị hướng quẹo và khoảng cách đến chỗ quẹo
* Hiển thị khoảng cách tới điểm đến và dự tính thời gian tới điểm đến
* Giao diện thân thiện, màu sắc hài hòa với 2 ngôn ngữ hiển thị Việt - Anh
* Chế độ màn hình ban ngày, ban đêm
* Chức năng lưu các điểm ưa thích cá nhân
* Thao tác nhanh đến các điểm ưa thích
* Dễ dàng cập nhật dữ liệu bản đồ mới hoàn toàn miễn phí
* Tích hợp tính năng giải trí đa phương tiện với trình xem phim, trình nghe nhạc MP3, trình duyệt ảnh số và xem eBook

Đặc tính kỹ thuật:

* Bắt tín hiệu được 20 kênh song song
* Nhận được tín hiệu trong phạm vi 10m
* Bút canh chỉnh và màn hình cảm ứng kết hợp với hệ điều hành Windows CE cho dễ dàng sử dụng
* Màn hình TFT 3.5” sáng hỗ trợ cho khả năng hiển thị tốt hơn
* Pin Li-on 2600mAh với mức sử dụng lên đến 10 giờ
* Dữ liệu được lưu trữ trong thẻ nhớ SD Card



GPS Receiver 236/236B
Thiết bị thu tín hiệu GPS GR-236/236B



Đặc tính kỹ thuật:

* Sử dụng chipset SiRF Star III
* Khả năng bắt tín hiệu được 20 kênh GPS
* Tích hợp thiết bị bo mạch theo chuẩn WAAS/EGNOS
* Hỗ trợ Bluetooth Serial Port Profile (SPP)
* Pin sạc Lithium-ion kèm theo có khả năng sử dụng lên đến 10 giờ
* Tích hợp pin sạc cho bộ nhớ hỗ trợ sao lưu RTF và xác định vị trí (TTFF) nhanh
* Hỗ trợ giao thức dữ liệu NMEA0183 v2.2 hay mã hóa SiRF
* Bộ nhớ chương trình dựa trên nền công nghệ FLASH
* Cung cấp thiết bị đầu cuối mở rộng và có khả năng kết nối với hệ thống khác mà không cần thông qua thiết bị Bluetooth

VIETMAP GPS Pro



Hệ thống vệ tinh dẫn đường VIETMAP - Bộ sản phẩm tích hợp với màn hình có sẵn trên xe ô tô.

Tính năng:

* Hiển thị hình ảnh bản đồ và lộ trình trực tiếp lên màn hình có sẵn trên xe ô tô mà không làm ảnh hưởng đến các tính năng khác đang có của màn hình như xem DVD, nghe nhạc, camera lùi
* Bản đồ điện tử 64 tỉnh thành Việt Nam với thông tin số nhà, thông tin giao thông (đường 1 chiều, đường 2 chiều, đường 1 chiều ô tô, đường cấm, biển cấm rẽ trái / phải, biển cấm ô tô rẽ trái / phải...) được cập nhật liên tục
* Cẩm nang tra cứu thông tin du lịch nhanh chóng, chính xác và dễ sử dụng với thông tin phong phú các điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn, ngân hàng,... trên toàn quốc
* Định vị, tìm đường và hướng dẫn lộ trình bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS
* Tra cứu địa điểm muốn đến bằng nhiều cách: theo tên đường, theo địa chỉ, theo giao lộ, theo các điểm có sẵn trong danh bạ
* Tìm lộ trình nhanh nhất hoặc ngắn nhất từ vị trí đang đứng đến địa điểm muốn đến
* Tự động tìm lại lộ trình trong tình huống đi sai
* Hình ảnh dẫn đường 2D/3D với giọng nói hướng dẫn lộ trình bằng tiếng Anh, tiếng Việt hoặc tiếng Hàn
* Hiển thị hướng quẹo và khoảng cách đến chỗ quẹo
* Hiển thị khoảng cách tới điểm đến và dự tính thời gian tới điểm đến
* Giao diện thân thiện, màu sắc hài hòa với 2 ngôn ngữ hiển thị Việt - Anh
* Chế độ màn hình ban ngày, ban đêm
* Chức năng lưu các điểm ưa thích cá nhân
* Thao tác nhanh đến các điểm ưa thích
* Dễ dàng cập nhật dữ liệu bản đồ mới hoàn toàn miễn phí

Đặc tính kỹ thuật:

* HĐH: Microsoft Windows CE .Net 5.0
* CPU: ARM9, 350MHz
* Bộ nhớ 64MB SDRAM and Bộ nhớ Flash 32MB
* Tích hợp anten GPS bắt sóng nhạy
* Dữ liệu được lưu trữ trong thẻ nhớ SD Card , hỗ trợ đến 2GB
* Ngõ ra Video: RGB/AV
* Định dạng Video: NTSC/PAL
* Tự điều chinh các thông số hiển thị cho màn hình
* Điều khiển thông qua bộ điều khiển không dây RF TrackPad



Điểm đáng chú ý là đến nay, những ai yêu thích sản phẩm Vietmap có thể download các bản dùng thử tại địa chỉ:

http://www.vietmap.vn/Download.aspx

Các phiên bản trước có thể được cập nhật dữ liệu bản đồ lên 64 tỉnh từ 52 tỉnh như trước đây.

EMap - Bản đồ Việt Nam [Có file update]

EMap là phần mềm tra cứu bản đồ các tỉnh thành Việt Nam , đây là bản miễn phí định dạng .jar Giao diện thân thiên Tiếng Việt dễ sử dụng, hỗ trợ nhiều chức năng khác như tìm kiếm địa điểm ( nhà hàng, cây xăng, bến xe,máy ATM,siêu thị, trường học,khu du lịch.....)
Dowload về dùng và cảm nhận (Link download bao gồm cả dữ liệu bản đồ các thành phố Việt Nam)


Dùng được cho Nokia 7610, 5800, N97.....

Link download: Download

Tổng quan về Viễn thám

I.VIỄN THÁM LÀ GÌ ?

Ở Việt Nam, viễn thám là một ngành còn chưa phổ biến, chúng ta vẫn thường nghe rất nhiều người hỏi viễn thám là gì.
Nói một cách nôm na trong “viễn thám” có hai từ “viễn” và “thám”. “Viễn” có nghĩa là xa, từ xa, không tiếp xúc với đối tượng. “Thám” có nghĩa là tìm hiểu, lấy thông tin về đối tượng. Ta có thể hiểu một cách đơn giản viễn thám là một ngành khoa học nghiên cứu đối tượng mà không tiếp xúc trực tiếp với chúng. Trong tiếng Anh, viễn thám là “remote sensing”, thường được viết tắt là RS.
 
Nếu nói một cách khoa học thì chúng ta có thể dùng định nghĩa sau:
 

Viễn thám là một khoa học thu nhận thông tin của bề mặt trái đất mà không tiếp xúc trực tiếp với bề mặt ấy. Điều này được thực hiện nhờ vào việc quan sát và thu nhận năng lượng phản xạ, bức xạ từ đối tượng và sau đó phân tích, xử lý, ứng dụng những thông tin nói trên (theo CCRS).



Hệ thống viễn thám thường bao gồm bảy phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo trình tự hoạt động của hệ thống, chúng ta có:

Nguồn năng lượng. Thành phần đầu tiên của một hệ thống viễn thám là nguồn năng lượng để chiếu sáng hay cung cấp năng lượng điện từ tới đối tượng quan tâm. Có loại viễn thám sử dụng năng lượng mặt trời, có loại tự cung cấp năng lượng tới đối tượng. Thông tin viễn thám thu thập được là dựa vào năng lượng từ đối tượng đến thiết bị nhận, nếu không có nguồn năng lượng chiếu sáng hay truyền tới đối tượng sẽ không có năng lượng đi từ đối tượng đến thiết bị nhận.

Những tia phát xạ và khí quyển. Vì năng lượng đi từ nguồn năng lượng tới đối tượng nên sẽ phải tác qua lại với vùng khí quyển nơi năng lượng đi qua. Sự tương tác này có thể lặp lại ở một vị trí không gian nào đó vì năng lượng còn phải đi theo chiều ngược lại, tức là từ đối tượng đến bộ cảm.

Sự tương tác với đối tượng. Một khi được truyền qua không khí đến đối tượng, năng lượng sẽ tương tác với đối tượng tuỳ thuộc vào đặc điểm của cả đối tượng và sóng điện từ. Sự tương tác này có thể là truyền qua đối tượng, bị đối tượng hấp thu hay bị phản xạ trở lại vào khí quyển.

Thu nhận năng lượng bằng bộ cảm . Sau khi năng lượng được phát ra hay bị phản xạ từ đối tượng, chúng ta cần có một bộ cảm từ xa để tập hợp lại và thu nhận sóng điện từ. Năng lượng điện từ truyền về bộ cảm mang thông tin về đối tượng.

Sự truyền tải, thu nhận và xử lý. Năng lượng được thu nhận bởi bộ cảm cần phải được truyền tải, thường dưới dạng điện từ, đến một trạm tiếp nhận-xử lý nơi dữ liệu sẽ được xử lý sang dạng ảnh. Ảnh này chính là dữ liệu thô.

Giải đoán và phân tích ảnh. Ảnh thô sẽ được xử lý để có thể sử dụng được. Để lấy được thông tin về đối tượng người ta phải nhận biết được mỗi hình ảnh trên ảnh tương ứng với đối tượng nào. Công đoạn để có thể “nhận biết” này gọi là giải đoán ảnh. Ảnh được giải đoán bằng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp. Các phương pháp này là giải đoán thủ công bằng mắt, giải đoán bằng kỹ thuật số hay các công cụ điện tử để lấy được thông tin về các đối tượng của khu vực đã chụp ảnh.

Ứng dụng. Đây là phần tử cuối cùng của quá trình viễn thám, được thực hiện khi ứng dụng thông tin mà chúng ta đã chiết được từ ảnh để hiểu rõ hơn về đối tượng mà chúng ta quan tâm, để khám phá những thông tin mới, kiểm nghiệm những thông tin đã có ... nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể.


II. BỨC XẠ ĐIỆN TỪ

Như chúng ta đã nói ở trên, thành phần đầu tiên của một hệ thống viễn thám là nguồn năng lượng để chiếu vào đối tượng. Năng lượng này ở dạng bức xạ điện từ. Tất cả bức xạ điện từ đều có một thuộc tính cơ bản và phù hợp với lý thuyết sóng cơ bản.



Bức xạ điện từ bao gồm điện trường (E) có hướng vuông góc với hướng của bức xạ điện từ di chuyển và từ trường (M) hướng về phía bên phải của điện trường. Cả hai cùng di chuyển với tốc độ của ánh sáng (c).

Có hai đặc điểm của bức xạ điện từ đặc biệt quan trọng mà chúng ta cần hiểu nó là bước sóng và tần số.


- Bước sóng (λ): là chiều dài của một chu kỳ sóng được tính từ mô sóng này đến mô sóng liền kề của nó. Bước sóng được ký hiệu là λ và được tính bằng centimet, met, nanomet hay micromet.
 

- Tần số (f) là thuộc tính thứ hai mà chúng ta quan tâm. Tần số là số chu kỳ sóng đi qua một điểm cố định trong một đơn vị thời gian. Thông thường tần số được tính bằng herzt (Hz) tương đương với 1 chu kỳ trên một giây. Ngoài ra tần số còn được tính bằng một số đơn vị khác của Hz.

Tần số và bước sóng quan hệ với nhau công thức: c=λ.f. Trong đó c là tốc độ ánh sáng (c=3.108m/s), λ là bước sóng tính bằng mét, f là tần số tính bằng Hz.

Rõ ràng, hai yếu tố này có quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau, bước sóng càng ngắn thì tần số càng cao, bước sóng càng dài thì tần số càng thấp.

Hiểu đặc điểm của bức xạ điện từ một cách rõ ràng về bước sóng và tần số là điều cốt yếu để có thể hiểu được thông tin được chiết ra từ dữ liệu viễn thám như thế nào.