DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Gps và thiết bị đầu cuối người sử dụng

      Hiện nay công nghệ GPS đang được ứng dụng rộng rãi ở Việt Nam, ngày càng trở nên thiết thực trong đời sống. Trong bài viết này tôi muốn cung cấp đến các bạn những kiến thức cơ bản về hệ thống GPS và ứng dụng của nó, các thành phần GPS và đặc biệt là thiết bị đầu cuối người sử dụng.

      Với kiến thức còn hạn chế nên bài viết có nhiều thiếu sót rất mong được sự đóng góp của các bạn để tôi có thể hoàn thành bài viết của mình.
1.GPS là gì
     Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) là một hệ định vị thông qua vệ tinh được hình thành từ những năm 1970. Sau đó, nó được phát triển hoàn thiện và quản lý bởi Bộ quốc phòng Mỹ (DoD). Vệ tinh GPS đầu tiên được phóng vào tháng Hai năm 1978 và từ đầu những năm 1990, GPS bắt đầu được sử dụng trong dân sự. Chính phủ Mỹ dành riêng mức định vị chính xác cao nhất cho quân đội, tuy nhiên họ cũng đã phát triển mã thu thô C/A cho  mục đích dân dụng.
2.Các thành phần 1 hệ thống GPS
      Hệ thống GPS bao gồm 3 phần cơ bản: phần không gian, phần điều khiển và phần người sử dụng.

Các thành phần hệ thống GPS
Phần không gian:
       Gồm các vệ tinh GPS. GPS được thiết kế với 24 vệ tinh không gian, trong đó mỗi 8 vệ tinh di chuyển trên một quỹ đạo tròn, tuy nhiên sau đó được điều chỉnh lại thành 6 quỹ đạo với mỗi 4 vệ tinh trên một quỹ đạo. 6 quỹ đạo có độ nghiêng xấp xỉ 55 độ (so với đường xích đạo của trái đất) và được chia bởi các góc 60 độ giữa các giao điểm của quỹ đạo.
      Các vệ tinh được sắp xếp sao cho có ít nhất 6 vệ tinh luôn luôn nằm trong tầm nhìn từ hầu hết các điểm trên bề mặt trái đất. Các vệ tinh có độ cao so với mặt nước biển xấp xỉ 20.200 km, chuyển động với vận tốc không đổi vào khoảng 11.250 km/h. Mỗi vệ tinh hoàn thành hai vòng quỹ đạo trong thời gian một ngày (tính theo thời gian xoay quanh trục của trái đất xét từ một định tinh, bằng 23 giờ, 56 phút, 4.09 giây).
      Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2008, đã có 31 vệ tinh hoạt động trong chùm vệ tinh GPS. Các vệ tinh được bổ sung cho phép tăng độ chính xác của các phép tính trên bộ thu nhờ các phép đo bổ sung.
Phần điều khiển
        Các đường bay của vệ tinh được giám sát bởi các trạm điều khiển của Không lực Hoa Kỳ tại các khu vực khác nhau. Thông tin giám sát được gửi về trạm điều khiển trung tâm và sau đó trung tâm này liên lạc với từng vệ tinh để cập nhật định hướng thường kỳ. Các cập nhật này đồng bộ đồng hồ nguyên tử trên các vệ tinh trong phạm vi một vài nano giây và điều chỉnh lịch thiên văn của mỗi mô hình quỹ đạo bên trong của vệ tinh.
Phần người sử dụng
       Một bộ thu GPS đơn giản của người sử dụng bao gồm ăng-ten, và một mô đun thu, xử lí tín hiệu thu được. Chúng cũng có thể bao gồm các bộ phận hiển thị để cũng cấp các thông tin vị trí, tốc độ, hay bản đồ chỉ đường.

    Bộ thu GPS tính toán vị trí của nó bằng việc tính toán và so sánh thời gian truyền tín hiệu từ lúc nó được gửi từ vệ tinh đến khi nhận được tại bộ thu trên mặt đất. Mỗi vệ tinh truyền liên tục các bản tin có chứa thời gian bản tin được gửi đi, thông tin quỹ đạo chính xác, tình trạng hệ thống chung. Bộ thu GPS đo thời gian truyền của mỗi bản tin gửi từ vệ tinh và tính toán khoảng cách tới vệ tinh đó. Phép đo hình học ba cạnh tam giác được sử dụng để kết hợp các khoảng cách này cùng vị trí của các vệ tinh để xác định vị trí của bộ thu. Tuy nhiên trên thực tế, một sai số nhỏ của thời gian nhân với vận tốc rất lớn của ánh sáng (cũng là vận tốc lan truyền của sóng điện từ) sẽ gây ra sai số về khoảng cách đáng kể. Do vậy các bộ thu sử dụng thêm một vệ tinh để hiệu chỉnh đồng hồ của chúng. Trong một số trường hợp nếu biết một trong các thông số tọa độ không gian, ví dụ như độ cao, chúng ta chỉ cần 3 vệ tinh để xác định được vị trí chính xác.

Nhận biết sóng thần bằng hệ thống GPS

Cho đến nay, người ta vẫn chỉ dựa vào những thiết bị địa chấn cổ điển để nhận biết những khi sắp có những cơn sóng thần (tsunami). Trong một hội nghị tại San Francisco, nhà khoa học Jeff Freymueller thuộc đại học Alaska và vừa trình bày một phương pháp có thể nhận biết sóng thần nhanh hơn và chính xác hơn nhờ hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System).
Từ trước đến nay vẫn có một bất lợi là những máy địa chấn chỉ có thể vẽ lại những chấn động dưới mặt đất. Để có thể biết được cường độ của những chấn động này, thường thì phải mất một thời gian tương đối lâu. Trong khi đó theo quan điểm của Freymueller, với hệ thống GPS, người ta có thể nhận định được rất nhanh và khá chính xác khoảng cách giữa các lớp đất chuyển động.

Yếu tố quan trọng nhận biết sóng thần nhanh hơn và chính xác hơn nhờ hệ thống định vị toàn cầu GPS (Global Positioning System).

Nếu thiết lập nhiều hệ thống GPS trong khu vực có nguy cơ bị động đất, người ta có thể nhận biết ngay chỉ trong vòng vài phút sau tại trung tâm cảnh báo, nếu vừa xảy ra những cơn địa chấn ngoài biển khơi.

Freymueller cho biết vừa phát minh ra một loại máy có khả năng phối hợp chức năng của hệ thống GPS với các máy ghi địa chấn cổ điển. Có thể thiết lập những máy này, cách nhau khoảng vài trăm dặm, ngoài biển khơi và mỗi máy trị giá dưới 10.000USD.

Theo Freymueller, lẽ ra những nạn nhân của trận sóng thần cuối năm 2004 không đến nỗi nhiều như vậy nếu như họ có hai tiếng đồng hồ để di tản lánh nạn.

Nhưng những phân tích để nhận biết cường độ cơn địa chấn ngoài biển khơi đã kéo dài lâu hàng mấy tiếng đồng hồ, và cơn sóng thần khúng khiếp đó đã ập đến quá đột ngột không kịp trở tay.

GPS hệ thống định vị toàn cầu, Khái niệm cơ bản

Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS) là hệ thống xác định vị trí dựa trên vị trí của các vệ tinh nhân tạo. Trong cùng một thời điểm, ở một vị trí trên mặt đất nếu xác định được khoảng cách đến ba vệ tinh (tối thiểu) thì sẽ tính được toạ độ của vị trí đó. GPS được thiết kế và quản lý bởi Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, nhưng chính phủ Hoa Kỳ cho phép mọi người sử dụng nó miễn phí, bất kể quốc tịch.
Mục đích sử dụng ban đầu của GPS dùng trong lĩnh vực quân sự (chế tạo ra các loại tên lửa thông minh), nhưng ngày nay GPS ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều các lĩnh vực đặc biệt trong thời đại công nghệ số phát triển như hiện nay

Các nước trong Liên minh châu Âu đang xây dựng Hệ thống định vị Galileo, có tính năng giống như GPS của Hoa Kỳ, dự tính sẽ bắt đầu hoạt động năm 2011-12.
Phân loại
Hệ Định vị Toàn cầu GPS của Mỹ là hệ dẫn đường dựa trên một mạng lưới 24 quả vệ tinh (Thực tế chỉ có 21 vệ tinh hoạt động, còn 3 vệ tinh dự phòng) được Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đặt trên quỹ đạo không gian.
Các hệ thống dẫn đường truyền thống hoạt động dựa trên các trạm phát tín hiệu vô tuyến điện. Được biết nhiều nhất là các hệ thống có tên gọi LORAN – (LOng RAnge Navigation) – hoạt động ở giải tần 90-100 kHz chủ yếu dùng cho hàng hải, hay TACAN – (TACtical Air Navigation) – dùng cho quân đội Mỹ và biến thể với độ chính xác thấp VOR/DME – VHF (Omnidirectional Range/Distance Measuring Equipment) – dùng cho hàng không dân dụng.
Gần như đồng thời với lúc Mỹ phát triển GPS, Liên Xô cũng phát triển một hệ thống tương tự với tên gọi GLONASS. Hiện nay Liên minh Châu Âu đang phát triển hệ dẫn đường vệ tinh của mình mang tên Galileo.
Chú ý rằng cả GPS và GLONAS đều được phát triển trước hết cho mục đích quân sự. Nên mặc dù chúng có cho dùng dân sự nhưng không hệ nào đưa ra sự đảm bảo tồn tại liên tục và độ chính xác. Vì thế chúng không thoả mãn được những yêu cầu an toàn cho dẫn đường dân sự hàng không và hàng hải, đặc biệt là tại những vùng và tại những thời điểm có hoạt động quân sự của những quốc gia sở hữu các hệ thống đó. Chỉ có hệ thống dẫn đường vệ tinh châu Âu Galileo (đang được xây dựng) ngay từ đầu đã đặt mục tiêu đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt của dẫn đường và định vị dân sự.
GPS ban đầu chỉ dành cho các mục đích quân sự, nhưng từ năm 1980 chính phủ Mỹ cho phép sử dụng dân sự. GPS hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, mọi nơi trên Trái Đất, 24 giờ một ngày. Không mất phí thuê bao hoặc mất tiền trả cho việc thiết lập sử dụng GPS.
Sự hoạt động của GPS
Các vệ tinh GPS bay vòng quanh Trái Đất hai lần trong một ngày theo một quỹ đạo rất chính xác và phát tín hiệu có thông tin xuống Trái Đất. Các máy thu GPS nhận thông tin này và bằng phép tính lượng giác tính được chính xác vị trí của người dùng. Về bản chất máy thu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệ tinh với thời gian nhận được chúng. Sai lệch về thời gian cho biết máy thu GPS ở cách vệ tinh bao xa. Rồi với nhiều quãng cách đo được tới nhiều vệ tinh máy thu có thể tính được vị trí của người dùng và hiển thị lên bản đồ điện tử của máy.
 Reduced: 80% of original size [ 800 x 600 ] - Click to view full image

Máy thu GPS phải khoá được với tín hiệu của ít nhất ba quả vệ tinh để tính ra vị trí hai chiều (kinh độ và vĩ độ) và để theo dõi được chuyển động. Với bốn hay nhiều hơn số quả vệ tinh trong tầm nhìn thì máy thu có thể tính được vị trí ba chiều (kinh độ, vĩ độ và độ cao). Một khi vị trí người dùng đã tính được thì máy thu GPS có thể tính các thông tin khác, như tốc độ, hướng chuyển động, bám sát di chuyển, khoảng hành trình, quãng cách tới điểm đến, thời gian Mặt Trời mọc, lặn và nhiều thứ khác nữa.
Độ chính xác của GPS
Các máy thu GPS ngày nay cực kì chính xác, nhờ vào thiết kế nhiều kênh hoạt động song song của chúng. Các máy thu 12 kênh song song (của Garmin) nhanh chóng khoá vào các quả vệ tinh khi mới bật lên và chúng duy trì chắc chắn liên hệ này, thậm chí trong tán lá rậm rạp hoặc thành phố với các toà nhà cao tầng. Tình trạng nhất định của khí quyển và các nguồn gây sai số khác có thể ảnh hưởng tới độ chính xác của máy thu GPS. Các máy thu GPS có độ chính xác trung bình trong vòng 15 mét.
Các máy thu mới hơn với khả năng WAAS (Hệ Tăng Vùng Rộng, Wide Area Augmentation System) có thể tăng độ chính xác trung bình tới dưới 3 mét. Không cần thêm thiết bị hay mất phí để có được lợi điểm của WAAS. Người dùng cũng có thể có độ chính xác tốt hơn với GPS Vi sai (Differential GPS, DGPS) sửa lỗi các tín hiệu GPS để có độ chính xác trong khoảng 3 đến 5 mét. Cục Phòng vệ Bờ biển Mỹ vận hành dịch vụ sửa lỗi này. Hệ thống bao gồm một mạng các đài thu tín hiệu GPS và phát tín hiệu đã sửa lỗi bằng các máy phát hiệu. Để thu được tín hiệu đã sửa lỗi, người dùng phải có máy thu tín hiệu vi sai bao gồm cả ăn-ten để dùng với máy thu GPS của họ.
Hệ thống vệ tinh GPS
24 quả vệ tinh làm nên vùng không gian GPS trên quỹ đạo 12 nghìn dặm cách mặt đất. Chúng chuyển động ổn định, hai vòng quỹ đạo trong khoảng thời gian gần 24 giờ. Các vệ tinh này chuyển động với vận tốc 7 nghìn dặm một giờ.
Các vệ tinh được nuôi bằng năng lượng Mặt Trời. Chúng có các nguồn pin dự phòng để duy trì hoạt động khi chạy khuất vào vùng không có ánh sáng Mặt Trời. Các tên lửa nhỏ gắn ở mỗi quả vệ tinh giữ chúng bay đúng quỹ đạo đã định.
Dưới đây là một số thông tin đáng chú ý về các vệ tinh GPS (còn gọi là NAVSTAR, tên gọi chính thức của Bộ Quốc phòng Mỹ cho GPS):
* Vệ tinh GPS đầu tiên được phóng năm 1978.
* Hoàn chỉnh đầy đủ 24 vệ tinh vào năm 1994.
* Mỗi vệ tinh được làm để hoạt động tối đa là 10 năm.
* Vệ tinh GPS có trọng lượng khoảng 1500 kg và dài khoảng 17 bộ (5 m) với các tấm năng lượng Mặt Trời mở (có độ rộng 7 m²).
* Công suất phát bằng hoặc dưới 50 watts.
Tín hiệu GPS
Các vệ tinh GPS phát hai tín hiệu vô tuyến công suất thấp giải L1 và L2. (Giải L là phần sóng cực ngắn của phổ điện từ trải rộng từ 0,39 tới 1,55 GHz). GPS dân sự dùng tần số L1 575,42 MHz trong giải UHF. Tín hiệu truyền trực thị, có nghĩa là chúng sẽ xuyên qua mây, thuỷ tinh và nhựa nhưng không qua phần lớn các đối tượng cứng như núi và nhà.
Tín hiệu GPS chứa ba mẩu thông tin khác nhau – mã giả ngẫu nhiên, dữ liệu thiên văn và dữ liệu lịch. Mã giả ngẫu nhiên đơn giản chỉ là mã định danh để xác định được quả vệ tinh nào là phát thông tin nào. Có thể nhìn số hiệu của các quả vệ tinh trên trang vệ tinh của máy thu Garmin để biết nó nhận được tín hiệu của quả nào.
Dữ liệu thiên văn cho máy thu GPS biết quả vệ tinh ở đâu trên quỹ đạo ở mỗi thời điểm trong ngày. Mỗi quả vệ tinh phát dữ liệu thiên văn chỉ ra thông tin quỹ đạo cho vệ tinh đó và mỗi vệ tinh khác trong hệ thống.
Dữ liệu lịch được phát đều đặn bởi mỗi quả vệ tinh, chứa thông tin quan trọng về trạng thái của vệ tinh (lành mạnh hay không), ngày giờ hiện tại. Phần này của tín hiệu là cốt lõi để phát hiện ra vị trí.
Nguồn lỗi của tín hiệu GPS
Những điều có thể làm giảm tín hiệu GPS và vì thế ảnh hưởng tới chính xác bao gồm:
* Giữ chậm của tầng đối lưu và tầng ion – Tín hiệu vệ tinh bị chậm đi khi xuyên qua tầng khí quyển.
* Tín hiệu đi nhiều đường – Điều này xảy ra khi tín hiệu phản xạ từ nhà hay các đối tượng khác trước khi tới máy thu.
* Lỗi đồng hồ máy thu – Đồng hồ có trong máy thu không chính xác như đồng hồ nguyên tử trên các vệ tinh GPS.
* Lỗi quỹ đạo – Cũng được biết như lỗi thiên văn, do vệ tinh thông báo vị trí không chính xác.
* Số lượng vệ tinh nhìn thấy – Càng nhiều quả vệ tinh được máy thu GPS nhìn thấy thì càng chính xác. Nhà cao tầng, địa hình, nhiễu loạn điện tử hoặc đôi khi thậm chí tán lá dầy có thể chặn thu nhận tín hiệu, gây lỗi định vị hoặc không định vị được. Nói chung máy thu GPS không làm việc trong nhà, dưới nước hoặc dưới đất.
* Hình học che khuất – Điều này liên quan tới vị trí tương đối của các vệ tinh ở thời điểm bất kì. Phân bố vệ tinh lí tưởng là khi các quả vệ tinh ở vị trí góc rộng với nhau. Phân bố xấu xảy ra khi các quả vệ tinh ở trên một đường thẳng hoặc cụm thành nhóm.
* Sự giảm có chủ tâm tín hiệu vệ tinh – Là sự làm giảm tín hiệu cố ý do sự áp đặt của Bộ Quốc phòng Mỹ, nhằm chống lại việc đối thủ quân sự dùng tín hiệu GPS chính xác cao. Chính phủ Mỹ đã ngừng việc này từ tháng 5 năm 2000, làm tăng đáng kể độ chính xác của máy thu GPS dân sự. (Tuy nhiên biện pháp này hoàn toàn có thể được sử dụng lại trong những điều kiện cụ thể để đảm bảo gậy ông không đập lưng ông. Chính điều này là tiềm ẩn hạn chế an toàn cho dẫn đường và định vị dân sự.)
Ứng dụng của GPS

Sử dụng PDA để tìm vị trí, dẫn đường.
Các nhà khoa học dựa vào tính năng chính xác của GPS để thiết lập các bản đồ, khảo sát các công trình, tuyến kênh, tuyến đường, xác định vị trí chính xác của các trụ điện, đường dây tải điện, quản lý các tuyến xe… Các xe hơi hiện nay đều có xu hướng cài đặt hệ thống dẫn đường (Navigation).
Qua đó, các thông tin về vị trí, tọa độ của xe sẽ được hiển thị ngay trên màn hình, người lái có thể chủ động tìm kiếm và thay đổi lộ trình phù hợp trong thời gian ngắn nhất. Một ứng dụng nữa của GPS chính là việc quản lý thú hoang dã bằng cách gắn lên chúng những con chip đã tích hợp GPS. Tất cả hoạt động của chúng sẽ được kiểm soát chặt chẽ. Việt Nam cũng đang tiến hành thử nghiệm để áp dụng vào việc quản lý đàn sếu đầu đỏ ở miền Tây.
Ứng dụng phổ biến của GPS được các bạn trẻ quan tâm nhất hiện nay chính là việc sử dụng các thiết bị tích hợp GPS (PDA) cho việc du lịch, thám hiểm. Tọa độ và hướng di chuyển sẽ hiển thị rõ trên màn hình. Trong trường hợp khẩn cấp, người sử dụng có thể bắn tín hiệu về trung tâm để báo vị trí của mình và chờ giúp đỡ.
GPS cũng được ứng dụng rộng rãi trong các ngành viễn thông do thám ,thăm dò địa chất ... và các lĩnh vực khác của trắc địa
Riêng đối với TPHCM, việc ứng dụng GPS trong việc quản lý các tuyến xe buýt hiện nay đang được triển khai. Cơ sở hạ tầng đã được xây dựng hoàn chỉnh, các doanh nghiệp vận tải chỉ cần trang bị các đầu thu (giá khoảng 30 - 60 USD/đầu thu) cho mỗi xe để quản lý phương tiện của mình.
Tình trạng xe buýt bỏ trạm, chạy quá tốc độ, đi sai tuyến hay bất cứ thái độ nào của nhân viên cũng được phát hiện dễ dàng bằng cách nắm bắt tọa độ của từng xe, qua đó kiểm tra hộp đen lưu trữ thông tin (Black box).
Chất lượng phục vụ trên xe buýt qua đó sẽ ngày càng hiệu quả hơn, thu hút người dân sử dụng phương tiện vận chuyển công cộng, giảm bớt tiền trợ giá hàng năm cho các phương tiện vận chuyển hành khách công cộng.
Các thiết bị ứng dụng GPS
 Reduced: 80% of original size [ 800 x 585 ] - Click to view full image

1. Điện thoại di động tích hợp GPS:
* Nokia N82
* Nokia N95
* Nokia N96
* Nokia E90
* Nokia 6110
* Nokia 6124 Classic
* Nokia 6220 Classic
* HTC P3300
* HTC P3600
* HTC Avantage
* HTC 8925 (Kaiser)
* HTC Touch Cruise
* O2 Orbit
* Dopod U1000
* Sony Ericsson Paris
* LG Glimmer
* BlackBerry 9000
* BlackBerry Pearl 8110
* BlackBerry 8310
* BlackBerry 8820
* BlackBerry 7520
* MWG Atom V (MWG Do bộ phận O2 châu Á tách ra thành lập)
* Samsung G810
* Sony Ericsson Xperia X1
* HP iPaq 912
* HP iPaq 6500
* HP iPaq 6900
* i-mate Ultimate 9502
* E-ten X600
* E-ten X800
* GIGA-BYTE GSmart i350
* ASUS P535
* ........và còn rất nhiều nữa
2. Đối với các điện thoại không tích hợp, muốn dùng GPS cần phải mua thêm thiết bị nhận tính hiệu từ vệ tinh (Bluetooth GPS receiver).kết nối khá nhanh chóng, bởi đây là một thiết bị chuyên dụng bắt sóng GPS, không cần cập nhật vị trí vệ tinh qua mạng.
3. Tìm phần mềm bản đồ cho điện thoại :
Có phần cứng rồi bạn cần thêm phần mềm là bản đồ số :
1 số bản đồ số thông dụng (tùy theo hệ điều hành của điện thoại mà bạn chọn bản đồ số phù hợp nhé).
* Vietmap (Tư Triều )
* OziExplorer
* Kingmap 2007 ( Đã có dữ liệu Cần thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà nội, TP HCM )
* Vietmap R12 ( Dữ liệu toàn quốc)
* TomTom Navigator
* Google Maps (Điện thoại phải kết nối internet qua GPRS để load bản đồ)
* MASPware GPSmeter Professional Edition
* GPS Tuner
* Handmap V3.6
* iGO My Way 2006 Plus PDA
* Route66 Navigate
*.......và nhiều nữa.......các phần mềm kể trên chủ yếu chạy trên nền Windows Mobile.
Thông thường thì có phần mềm đọc bản đồ rồi phải có dữ liệu cho nó đọc nữa (trừ google maps lấy dữ liệu qua internet). Một số trong các phần mềm kể trên có dữ liệu để dùng ở Việt nam .

Sử dụng GPS trên đường

Thiết bị sử dụng hệ thống định vị toàn cầu qua vệ tinh viễn thông (GPS) đang trở nên thông dụng, và các phần mềm hỗ trợ ở môi trường Việt Nam cũng được cập nhật, ngày càng chi tiết hóa và có độ chính xác cao hơn. Việc các tài xế trang bị cho mình một chiếc PDA hay điện thoại có GPS để sử dụng trong khi di chuyển không còn là điều hiếm thấy, nhưng, GPS vẫn bị đánh giá là một trong những thiết bị có khả năng khiến bạn mất tập trung trong khi lái xe. Tuy nhiên, nhìn một cách chung nhất, thì GPS rõ ràng là lợi nhiều hơn hại.


Bạn luôn biết mình đang đi đâu
Rõ ràng, việc luôn phải dòm ngó bảng chỉ đường và các loại đèn tín hiệu sẽ khiến mất tập trung hơn nhiều so với lắng nghe các chỉ dẫn của thiết bị GPS. Bạn rất hiếm khi lạc đường khi đi theo chỉ dẫn của GPS và kể cả khi bạn rẽ nhầm chỗ, thiết bị GPS cũng sẽ tính toán lại đường đi và tiếp tục chỉ dẫn để đảm bảo bạn đến đích một cách đơn giản nhất.

Khỏi cần nhìn vào bản đồ
 
Việc xem bản đồ và dò các địa điểm là hành động mà nhiều người thường xuyên phải làm khi đến những nơi xa lạ, tuy nhiên, đây là yếu tố rất nguy hiểm, đặc biệt là khi đang lái xe (nhất là xe máy). Kể cả khi bạn có một người ngồi cạnh để chỉ dẫn theo bản đồ, độ chính xác và tốc độ cũng không thể bằng được máy móc. Trong trường hơp này, GPS là lựa chọn số một.

Lái xe trong thời tiết xấu và ban đêm an toàn hơn
 
Một trong những lợi ích lớn nhất của GPS là giúp bạn di chuyển trong điều kiện thời tiết xấu, hoặc ban đêm an toàn hơn. Trong những tình huống này, GPS sẽ báo cho bạn khi sắp đến ngã rẽ, dốc… khá xa trước khi bạn phải đối đầu với chúng. Còn với những khoảng đường tối tăm, bản đồ GPS sẽ giúp bạn hình dung địa hình phía trước để dễ dàng đối phó hơn.
 

Bạn không sợ đi nhầm làn đường
 
Một trong những thách thức khi di chuyển ở khu vực lạ là đi đúng làn đường, đặc biệt là với những khu vực đường cao tốc đa làn sẽ rất khó để xác định làn nào cho phép bạn trở lại đường thông thường. Một thiết bị GPS tốt sẽ chỉ rõ cho bạn biết làn đường nào nên đi.

Tận dụng các tính năng an toàn
 
Như gọi điện không cần cầm máy trong tay, nút bấm trợ giúp nhanh cho phép hiển thị chỉ dẫn tới trạm cảnh sát, bệnh viện, gara sửa xe và các dịch vụ hữu ích khác theo lối gần nhất.
 
Tuy nhiên, vẫn có hai thứ bạn cần tránh khi sử dụng GPS trong khi di chuyển trên đường:
 
1. Nếu là người mới sử dụng thiết bị GPS, bạn không nên quá hào hứng với món “đồ chơi” mới. Màn hình cảm ứng, menu đẹp mắt…nên để nghịch ở nhà. Một khi đã leo lên xe và phóng đi, bạn nên tập trung vào con đường phía trước.
 
Những người mới sử dụng thiết bị GPS thường nhìn vào màn hình nhiều hơn mức cần thiết. Bạn nên điều chỉnh lại cho phù hợp, tốt nhất là tập trung lắng nghe chỉ dẫn và chỉ thỉnh thoảng liếc qua GPS giống như bạn liếc vào đồng hồ tốc độ của xe mà thôi. Bạn cũng nên đặt thiết bị GPS ở gần bảng điều khiển điện tử của xe, tránh để nó cản những hướng nhìn quan trọng. Trong trường hợp đi xe máy, bạn nên dùng tai nghe và đi theo chỉ dẫn thay vì cầm máy trên tay xem.
 
2. Đừng nghịch ngợm thiết bị GPS khi di chuyển: Điều này cũng được đề cập tới trong tài liệu đi kèm của các thiết bị GPS. Bạn nên xác định đích đến trước khi bắt đầu di chuyển. Trong khi đi, nếu cần thay đổi địa điểm đến, bạn nên dừng xe ở vị trí an toàn, hoặc tối thiểu là dừng chờ đèn đỏ rồi hãng tiến hành chỉnh sửa tùy chọn.
 
Việc điều chỉnh lại thông số GPS trong khi đi thậm chí còn gây mất tập trung hơn cả sử dụng điện thoại di động. Một số nhà sản xuất xe hơi với có kèm theo thiết bị GPS tích hợp sẵn đã “ra tay” trước, bằng cách tích hợp khóa chống sử dụng GPS trực tiếp khi xe đang chạy.

 Nhìn chung, Thiết bị GPS để hỗ trợ và tăng cường độ an toàn của việc lái xe chứ không phải một món đồ chơi di động. Chính vì thế, bạn nên tận dụng tối đa lợi ích của chúng mang lại, tránh những tai nạn đáng tiếc mà mình hoàn toàn có thể tránh được chỉ với một vài chú ý đơn giản như đã đề cập ở trên.

Download DNR Gramin and Use



Khi có dữ liệu trong GPS làm thế nào để trút qua máy tính một cách nhanh nhất. Ở đây xin giới thiệu DNR Gramin một phần mềm rất hữu ích và hiệu quả. Tôi đã post cả tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm.

Could DNR Garmin be the Rosetta Stone of GIS Data?
It will now read from and/or save to the following file formats:
  • Shapefiles
  • ESRI File-based Geodatabase (9.2 only & only if you have it installed on your system. It apparently uses ArcObjects)
  • KML
  • GPX
  • Text files (comma or semi-colon delimited)
  • DBF

The Save As file options (I don’t have ArcGIS 9.2 installed on this computer so the Geodatabase option doesn’t show up).
In addition to saving as & reading from files, it will also read from & save directly into ArcMap or Google Earth.

A new version (5.2 beta) was released on March 12, 2007, with several new & important features. This program was already on my “Must Have” list for anyone working with GPS units. It is invaluble for the field work we do at Plateau Land & Wildlife.
Another great feature that it has but only some of us can use is the Image Hotlink/Geocode feature. This works essentially the same as GPicSync (a Google Code project). But DNR Garmin has been doing it for several years now.

This feature works based on the time stamps of your waypoints or tracks and the time stamp of your photos. It can automatically calculate an offset if your clocks aren’t syncronized.
Notice the “Project and Unproject Coordinates” menu items above. The software uses the Proj.4 projection libary to allow reprojection into a vast array of coordinate systems & datums very rapidly.
I’m fairly certian that you could use the libaries used by this program to make a utility that worked with any and all attributes included in your data rather than just the GPS centric fields that this works with by default. To be fair, though if you have some standard attributes, you can cutomize the fields for waypoints, tracks, routes, and real-time data to include whatever fields you want.
Update – Price for all of this : Free
I’m sure you can think of plenty of innovative ways to use this software but let me share an example with you.
As I’ve posted about before we do a lot of bird surveys in the spring. Many of these are done by sub-contractors who don’t have access to a GIS system. Let’s say we have a new client for whom we have never done a survey before. We send the sub-contractor a shapefile of the client property. She then uses DNR Garmin to convert that shapefile directly into KML & into her Google Earth My Places file. She opens up GE & there the property is with aerial photo, roads, & elevation. She adds placemarks for each of the proposed survey stations which she picks based on the info visible in GE. If she wants to colaborate with the biologist familar with the property they can easily share the info to each other. Then she opens DNR Garmin, loads those placemarks directly from GE to her GPS unit. Gets driving directions from her house to the client property through GE and goes and does the survey. If we wanted her to, she could send us back a shapefile of the census stations by saving the actual station locations from her GPS unit into a shapefile via DNR Garmin.

Bắc Cực tan băng khiến mùa đông lạnh hơn

Mùa đông ở bán cầu bắc của trái đất sẽ trở nên lạnh giá hơn do hiện tượng ấm lên ở Bắc Cực khiến băng tan chảy ngày càng mạnh.

Hình ảnh băng ở Bắc Cực do vệ tinh chụp. Ảnh: NASA.
Hình ảnh băng ở Bắc Cực do vệ tinh chụp


Discovery cho biết, diện tích băng ở Bắc Cực giảm xuống gần mức thấp nhất trong mùa hè năm nay. Tại đảo Greenland, nhiệt độ cao kỷ lục trong năm làm tăng tốc độ tan chảy của băng. Trên khắp Bắc Cực, tầng đất đóng băng vĩnh cửu đang ấm dần khiến diện tích băng ở trên bề mặt ngày càng thu hẹp. Các nhà khoa học của Cơ quan Hải dương và Khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA) cho rằng những biến đổi này sẽ còn kéo dài.

“Không chỉ có băng tan chảy mà không khí và hệ sinh thái trên đảo Greenland cũng thay đổi. Những thay đổi đó tác động tới đời sống của con người”, Don Perovich, một chuyên gia về biển trong nhóm nghiên cứu của NOAA, phát biểu.

Khi băng tan, nước biển tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời khiến nhiệt độ mặt nước tăng. Nhiệt độ mặt nước càng lớn thì băng lại tan càng nhanh. Vòng luẩn quẩn đó khiến diện tích của băng không thể phục hồi như ban đầu.

Trước kia những cơn gió gần cực bắc của trái đất chỉ di chuyển trong phạm vi Bắc Cực. Khi nền nhiệt ở Bắc Cực tăng, quỹ đạo quen thuộc của chúng bị phá vỡ khiến nhiều khối khí lạnh tiến về phía nam. Do tác động của những khối khí đó, nhiều vùng ở bán cầu bắc trở nên lạnh hơn. Hiện tượng này giúp chúng ta giải thích tại sao tuyết phủ kín nhiều vùng của nước Mỹ dù người dân ở những vùng đó chưa từng chứng kiến hiện tượng tương tự trong quá khứ.

“Loài người đang đối mặt với một nghịch lý về biến đổi khí hậu. Sự ấm lên và tình trạng suy giảm diện tích băng ở Bắc Cực không làm tăng nhiệt độ ở mọi nơi trên địa cầu, mà lại làm giảm nhiệt độ ở những vùng thuộc vĩ độ thấp, khiến mùa đông ở bán cầu bắc trở nên lạnh hơn”, nhóm nghiên cứu kết luận.

2010 là năm kỷ lục của thiên tai

Lũ lụt tại Pakistan, cháy rừng hàng loạt tại Nga và các trận siêu bão tại Mexico cho thấy các thảm họa thiên nhiên liên tục thiết lập kỷ lục mới trong năm nay.

Người dân Pakistan ngụp lặn trong nước lũ
Người dân ngụp lặn trong nước lũ để sơ tán tới nơi an toàn tại quận Dadu
ở phía nam Pakistan vào ngày 29/9


“Năm nay là năm của những kỷ lục thời tiết. Chỉ trong vòng 9 tháng đầu năm, số lượng thảm họa liên quan tới thời tiết đã lên tới mức cao nhất kể từ khi tập đoàn chúng tôi bắt đầu lưu giữ số liệu về thiên tai”, AFP dẫn lời ông Peter Hoeppe, một chuyên gia phân tích các rủi ro địa lý của tập đoàn tái bảo hiểm Munich Re tại Đức.

Trận lụt khủng khiếp vừa qua tại Pakistan làm đảo lộn cuộc sống của khoảng 14 triệu người, giết chết ít nhất 1.600 người và khiến 8 triệu người mất nhà. Thủ tướng Pakistan, ông Yousuf Raza Gilani, thừa nhận đây là đợt lũ lụt lớn nhất trong lịch sử đất nước. Liên Hợp Quốc khẳng định trận lũ năm nay tại Pakistan là thảm họa nhân đạo lớn nhất trong lịch sử nhân loại.

Mùa hè nóng nhất trong hơn 130 năm tại Nga khiến vài trăm đám cháy rừng bùng phát xung quanh Matxcơva và nhiều vùng ở phía tây nước Nga trong tháng 7 và 8. Những đám cháy tạo nên đám khói khổng lồ trên một khu vực có chiều dài chừng 3.000 km từ phía đông sang phía tây. Vào giai đoạn cao điểm, vệ tinh của Mỹ phát hiện tới hơn 340 khu vực rừng có khả năng bị cháy tại Nga.

Cây cối trụi lá
Cây cối trụi lá vì nhiệt của núi lửa Merapi tại một nhà gần thành phố cổ Yogyakarta,
đảo Java, Indonesia hôm 27/10


Theo AFP, Hoeppe nói thêm rằng hiện tượng ấm lên toàn cầu là một trong những nguyên nhân khiến số lượng thiên tai tăng. 2010 là năm có nhiệt độ trung bình cao nhất trong 130 năm qua. Kỷ lục mới về nhiệt độ được thiết lập tại Nga (37,8 độ C) và Pakistan (53,5 độ C). Chỉ trong tháng trước, người dân thành phố Los Angeles tại Mỹ phải chịu đựng cái nóng kỷ lục khi nhiệt độ tại đây lên tới 45 độ C.

“Một điều rõ ràng là biến đổi khí hậu ngày càng trở nên trầm trọng”, Hoeppe nói.

Viện Hàn lâm Khoa học Pháp hôm qua công bố một báo cáo do 120 nhà khoa học quốc tế viết. Báo cáo khẳng định hoạt động của con người là nguyên ngân gây nên hiện tượng trái đất nóng lên.
Theo: VnExpress

Cần 100.000 năm để phục hồi thảm họa khí hậu

Trái đất sẽ cần tới hàng nghìn thế kỷ để khắc phục những hậu quả của tình trạng ấm lên toàn cầu nếu loài người tiếp tục đưa khí thải vào bầu khí quyển.

Hạn hán sẽ xảy ra thường xuyên hơn do hiện tượng ấm lên toàn cầu. Ảnh:
Hạn hán sẽ xảy ra thường xuyên hơn do hiện tượng ấm lên toàn cầu


Telegraph cho biết, các nhà khoa học khắp thế giới sẽ tới thành phố London, Anh trong tuần này để tham dự một hội nghị về biến đổi khí hậu. Nhiều người trong số họ đã nghiên cứu những lớp trầm tích đá hình thành cách đây vài triệu năm để lập mô hình về tác động của khí thải đối với sự thay đổi nhiệt độ địa cầu và sự tuyệt chủng của các loài trong quá khứ.

Giáo sư Jim Zachos, một chuyên gia của Đại học California tại Mỹ, nói rằng 55 triệu năm trước hoạt động núi lửa giải phóng 4.500 tỷ tấn khí thải vào khí quyển trong vài nghìn năm. Tình trạng đó khiến nhiệt độ bề mặt trái đất tăng thêm 6 độ C, buộc tất cả hệ sinh thái phải thích nghi, di chuyển khỏi khu vực sinh sống hoặc chết.

Theo Zachos, nếu loài người tiếp tục sản xuất khí thải với tốc độ như hiện nay, khoảng 5.000 tỷ tấn khí thải sẽ được bơm vào khí quyển trong vài trăm năm tới. Hiện tượng ấy khiến nhiệt độ trái đất tăng lên mức cao nhất trong lịch sử và có thể gây tuyệt chủng diện rộng đối với nhiều loài sinh vật.

Hiệp hội Địa chất Anh cảnh báo trái đất sẽ cần hàng nghìn thế kỷ để khắc phục những hậu quả của tình trạng ấm lên toàn cầu.

“Những bằng chứng về địa chất từ 55 triệu năm trước cho thấy sự gia tăng lượng khí thải sẽ khiến nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng ít nhất 5 hoặc 6 độ C. Nếu các hoạt động tạo ra khí thải của loài người không chấm dứt, quá trình phục hồi của khí hậu trái đất sẽ phải trải qua ít nhất 100.000 năm. Các mô hình khí hậu trên thế giới đều ủng hộ nhận định này”, Hiệp hội Địa chất Anh tuyên bố.

Hậu quả ghê gớm từ vụ tràn dầu lớn nhất lịch sử

Thảm họa Deepwater Horizon đã được các ước tính mới nhất của chính phủ Hoa Kỳ xác nhận là sự cố rò rỉ dầu ra biển lớn nhất từ trước tới nay. Hơn 750.000 lít dầu thô rò rỉ mỗi ngày từ giàn khoan dầu Deepwater Horizon của Hãng dầu khí Anh BP trên vịnh Mexico đã lan ra xa gần 200km tới vùng cửa sông Mississippi, đe dọa hệ sinh thái ngập mặn Louisiana, dọc vịnh Mexico.


Một cha xứ đang nổ lực cứu một con bồ nông bị dầu nhuộm nâu (đảo Queen Bess,La.) Ông nói "Cuộc sống của các sinh vật đang bị hút cạn dần.” Con bồ nông may mắn này đã được cứu sống.


Giàn khoan Deepwater Horizon trị giá 560 triệu USD bùng cháy dữ dội sau sự cố nổ giếng dầu ngày 20/4/2010. Sự cố này làm thiệt mạng 11 người, và 2 ngày sau đó thì giàn khoan chìm xuống biển.



Khói bốc lên từ mặt biển phủ đầy dầu đang được đội dọn dẹp đốt ở khu vực gần giàn khoan D.H. Ước tính một lượng dầu tương đương 5 triệu thùng đã tràn ra biển; khiến sự cố tràn dầu này trở thành vụ tràn dầu lớn nhất thế giới từ trước đến nay.


Những tổn thất và ảnh hưởng của vụ tràn dầu đến hệ sinh thái trong khu vực là không thể lường hết được trong một thời gian dài sắp tới.


Một con tôm bơi giữa những hạt dầu màu nâu sậm. Trứng và ấu trùng của các loài tôm, cua, cá – những sản vật nắm chìa khóa của nền kinh tế địa phương – sẽ chịu ảnh hưởng lâu dài và khó lường.


Những con cá heo mũi chai bơi dưới làn nước nhiễm dầu ở Chandeleur Sound, La. Rất ít cá thể cá heo này được cứu vớt và đưa đến vùng nước sạch do trọng lượng của chúng khá lớn (1 con cá heo trưởng thành nặng hơn 270kg).


Vùng đánh bắt của các ngư dân này bị phong tỏa sau sự cố, họ đang tham gia một khóa tập huấn kỷ năng dọn dẹp và xử lý dầu loan do công ty BP tổ chức ở giáo xứ Bernard, La., và cúi đầu cầu nguyện khi một cha xứ đọc kinh.


Trước thảm họa, một khẩu hiệu du lịch ở bãi biển Orange, Alabama viết: "Hãy trộn 2 phần cát trắng và 1 phần nước biển biếc xanh". Sau sự cố, dầu đã phá hỏng hoàn toàn công thức đó.


Một mẫu nước lấy ở độ sâu gần 11m vào thời điểm 2 tháng sau vụ tràn dầu. Trong mẫu này có một lượng đông đúc các sinh vật giáp xác chân chèo, và không ít trong số chúng đã bị nhuộm nâu.


Còn ở độ sâu khoảng 18m là một tầng có rất ít sự sống do thiếu oxy.


Dầu dạt vào 1 đầm lầy cỏ gần Myrtle Crove, La., Những ống thấm dầu (từng có màu trắng) ban đầu được các đội dọn dẹp đặt tại mép nước, nay bị sóng đánh tạt vào bờ.


Xác một con rùa biển bị dầu bao bọc nằm bơ vơ giữa vịnh Barataria, La. Hơn 500 cá thể rùa biển đã chết trong khu vực dầu tràn. Tính đến ngày 2/8, người ta đã đưa 134 tổ trứng rùa đến khu vực không bị nhiễm dầu, và có 2.134 cá thể rùa con đã nở từ những tổ trứng này.


Những công nhân này đang thu gom các túi thấm dầu gần một bãi chim ở vịnh Barataria, La. Tính đến cuối tháng 7, các đội thu gom đã thu được gần 40.000 tấn chất thải rắn.


Một nhà sinh học đang cứu một con bồ nông bị nhuộm dầu ngoài bờ biển Queen Bess. Con chim này sẽ được đưa về một trung tâm phục hồi và được tắm rửa cho sạch dầu, rồi sau đó sẽ được thả ở một nơi an toàn hơn.


Một khối lượng lớn dầu tràn vào vùng đầm lầy ở bang Louisiana. Công ty BP đã đặt những ống dây màu vàng và cam để gom dầu tràn và các ống dây màu trắng để thấm dầu.


Một con cua xanh bị một lớp dầu thô bao phủ ở Grand Isle State Park, La.


Những công nhân này đang dùng các mảnh vải trắng để lau dầu trên các cọng cỏ trong khu đầm lầy ở giáo xứ tammany, La. Việc dùng giẻ để lau khoảng 7 triệu cọng cỏ có thể rất “dở hơi”, nhưng nó giúp cung cấp dữ liệu để đánh giá mức độ nhiễm dầu của khu vực này và cung cấp các mẫu dầu để thực hiện các xét nghiệm khác.


Những con bồ nông non lông bị dầu nhuộm nâu đang túm tụm trên đảo Cat – một hòn đảo nằm ở điểm cực tây của quần đảo Gulf Islands National Seashore.


Một con sóng vỗ vào bờ biển Gulf, Alabama 2 tháng sau vụ tràn dầu. Theo thời gian, lượng dầu còn sót trong cát hay trầm tích dần nổi lên bề mặt.


Lửa đốt cháy dầu và khí methane từ các giàn khoan của công ty BP, ngay phía trên giếng dầu.

10 giải pháp hạ nhiệt trái đất

Trái đất đang ngày càng nóng lên do lượng khí gây hiệu ứng nhà kính thải vào khí quyển ngày nhiều, cộng với khả năng phản xạ tự nhiên của Trái đất ngày càng kém đi do băng bị tan chảy ở Bắc cực. Để đối phó với sự ấm lên toàn cầu này, các nhà khoa học đã đưa ra một số giải pháp dựa trên những tiến bộ khoa học hiện nay.



1. Cây nhân tạo có thể giúp hấp thụ khí CO2 nhanh gấp 1.000 lần so với cây tự nhiên. Được phát triển bởi các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Columbia (Mỹ), cây nhân tạo có khả năng hút khí CO2 như cây thật, sau đó khí CO2 sẽ được đưa vào một bình chứa. Theo các nhà nghiên cứu, một cây nhân tạo có thể hấp thụ khoảng 1 tấn CO2/ngày, tương đương với lượng khí của 20 chiếc xe hơi thải ra. Tuy nhiên, chi phí để sản xuất một cây nhân tạo như thế này còn khá đắt, vào khoảng 15.000 bảng.

2. Phun vào không khí những hạt phân tử nhỏ có khả năng phản xạ ánh sáng mặt trời. Giải pháp khả thi nhất là phun các phân tử khí sulphat vào tầng trên của bầu khí quyển để phản xạ lại ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên, nếu chúng ta không giải quyết được vấn đề axit hóa các đại dương gây ra do lượng khí CO2 thải vào khí quyển quá nhiều, thì rất có thể giải pháp phun khí sulphat sẽ tạo ra những ảnh hưởng không mong muốn như mưa axit.



3. Mây nhân tạo. Tạo ra những đám mây ở tầng thấp trên các đại dương hay tăng khả năng phản xạ ánh sáng mặt trời cho Trái đất bằng cách bơm hơi nước vào trong không khí nhằm thúc đẩy quá trình tạo mây trên biển. Quá trình diễn ra nhờ những con thuyền được điều khiển bằng vi tính làm việc chăm chỉ ở các vùng biển xa xôi, phun làn sương nước biển vào không khí, từ đó hình thành những đám mây trắng dày giúp phản chiếu ánh mặt trời vào không gian.

4. Hòa trộn nước biển bằng cách sử dụng các đường ống lớn được đặt ở các đại dương để luân chuyển nước trên bề mặt có nhiều CO2 xuống tầng nước sâu hơn. Ý tưởng này của các nhà khoa học người Anh là nhằm cắt giảm lượng khí CO2 trên mặt nước bốc hơi vào khí quyển, làm tăng nhiệt độ Trái đất.



5. Gương vũ trụ. Thay vì cố gắng chặn đứng tia sáng mặt trời ở bầu khí quyển, chúng ta còn có thể ngăn chặn từ bên ngoài vũ trụ. Một vài nhà khoa học nói rằng một tấm gương lớn hay những chiếc đĩa phản chiếu sẽ bay quanh quỹ đạo Trái đất và chặn đứng những tia sáng mặt trời.
Hiệp hội Khoa học Hoàng gia cho rằng phương pháp này khá an toàn và hầu như không có tác dụng phụ nào. Mặc dù vậy, nó tiêu tốn vài ngàn tỉ đô và phải cần hàng chục năm để thiết kế, xây dựng và đưa những tấm gương vào vũ trụ; nó còn đòi hòi một chương trình vũ trụ có quy mô lớn gấp nhiều lần từ trước đến nay.



6. “Hệ thần kinh” cho Trái đất. Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc gia Mỹ (NASA) và tập đoàn công nghệ Cisco đã hợp tác phát triển hệ thống Planetary Skin – được ví như “hệ thần kinh” toàn cầu – có khả năng hợp nhất dữ liệu từ các bộ cảm biến theo dõi điều kiện thực tế trên cạn, dưới biển, trên không trung và không gian, qua đó giúp các ngành quyết định về giải pháp phòng ngừa cũng như đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu. Dự án thí điểm, sắp triển khai vào năm 2010, sẽ giúp theo dõi lượng khí carbon đang tích trữ trong các khu rừng nhiệt đới cũng như xác định vị trí những khu rừng đó.



7. “Kính chống nắng” cho Trái đất. Roger Angel, nhà thiên văn học thuộc Trường Đại học Arizona (Mỹ) đưa ra ý tưởng sử dụng các tàu vũ trụ chạy bằng điện từ trường để bắn hàng tỷ các tinh thể silicon cực nhỏ vào không gian để phản xạ các tia bức xạ của mặt trời. Trước đây, họ đã thử nghiệm với một khoảng che phủ rộng gần 170.000km2 và kết quả cho thấy có thể giảm được 2% tia bức xạ từ mặt trời.

8. Sử dụng các bộ lọc khí CO2. Các bộ lọc khí khổng lồ sẽ được lắp đặt tại các nhà máy thải ra khí CO2, sau đó thiết bị lọc khí này sẽ chuyển khí CO2 thành soda. Các bộ lọc khí bằng nhựa đang được thử nhiệm tại các nhà máy ở Texas cho thấy thiết bị này có thể hấp thụ được 90% khí CO2 thoát ra và sau đó được chuyển thành một loại muối natri trung hòa được.



9. Gương phản xạ ánh sáng mặt trời trên sa mạc.Trái đất có thể tự phản xạ được khoảng 30% ánh sáng mặt trời, thậm chí những vùng được bao phủ bởi tuyết hay băng có thể phản xạ được tới 90%. Tuy nhiên, băng trên Trái đất đang tan chảy với tốc độ rất nhanh khiến khả năng phản xạ ánh sáng mặt trời của Trái đất bị yếu đi đáng kể. Để đối phó với vấn đề này, các nhà khoa học cho rằng chúng ta nên sử dụng những tấm gương khổng lồ đặt ở sa mạc Sahara để phản chiếu lại ánh sáng mặt trời. Dự án này ước tính mất khoảng 20 triệu bảng và mất 10 năm để thực hiện.

10. Sản xuất điện từ sóng. Những đường ống có độ dài 200m và đường kính 5,5m có thể biến những con sóng trên biển thành năng lượng điện. Theo tính toán, nếu sóng có độ cao 1 mét, ở độ dài khoảng 1,8km bờ biển thì có thể tạo ra được một nguồn năng lượng bằng 35.000 mã lực; khi sóng cao 3 mét thì có thể tạo ra áp lực khoảng 29 tấn/m2 mặt biển.

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482