DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


WWMS - Hệ thống quản lý tài sản mạng thoát nước đô thị

WWMS - Hệ thống quản lý tài sản mạng thoát nước đô thị 


Hệ thống được cài đặt trên bất kỳ một máy tính độc lập mà không cần phần mềm hỗ trợ nào khác. Bằng cách quản lý tốt hơn tài sản, vận hành và bảo dưỡng tài sản, liên kết thông tin tài sản với trị trí không gian... phần mềm quản lý mạng thoát nước đã đáp ứng được những nhu cầu quản lý trong ngành.
Các đơn vị đã triển khai thành công: 



  • Công ty Cấp thoát nước Cần Thơ:







  • Công ty Cấp thoát nước Bắc Ninh





  • Những mối lợi đối với các công ty thoát nước
    • Quản lý chính xác vị trí tài sản
    • Giảm chi phí vận hành và bảo dưỡng
    • Kết nối với các hệ thống khác (SCADA, web, autoCAD...)
    • Phục vụ công tác sửa chữa đường ống, thay thế thiết bị đúng lúc
    • Lập kế hoạch, thiết kế hệ thống mạng lưới, phát triển hệ thống
    • Quản lý nhân lực tốt hơn
    • Giảm chi phí điều hành
    • Cải tiến lịch bảo dưỡng và quản lý các hoạt động hàng ngày
     1. Mô đun chính GIS
    • Quản lý CSDL GIS nền và các lớp dữ liệu chuyên ngành. Các thao tác và các phép phân tích GIS cơ bản được tổ chức lại và đơn giản hóa sao cho phù hợp với mục đích sử dụng
    • Từ điển dữ liệu: hệ thống cho phép thiết lập một bộ từ điển dữ liệu nhằm việc nhập số liệu và quản lý dữ liệu thuộc tính được chính xác và nhanh hơn…
    • Cơ sở dữ liệu: hệ thống có thể tùy chọn các loại CSDL khác nhau như: Oracle, SQL Server, MS Access…
    2. Mô đun thu nhận và tích hợp dữ liệu
    • Chuyển dữ liệu AutoCAD, GPS sang thành dạng GIS tương ứng
    • Chuyển đổi các thông tin thuộc tính từ file excel, bảng biểu, báo cáo... thành thông tin trong CSDL GIS
    • Kiểm tra và kiểm soát chất lượng thông tin đầu vào
    3. Mô đun quản lý tài sản mạng thoát nước
    • Theo dõi quản lý các tài sản của hệ thống thoát nước
    • Cập nhật tài sản bằng thanh công cụ Wastewater Facilities Editor. Người sử dụng có thể thêm vào hoặc xóa các đối tượng tài sản, sửa đổi đặc tính hình học và thông tin thuộc tính tài sản
    • Thực hiện các bản đồ chuyên đề khác nhau phục vụ công tác quản lý
    4. Mô đun vận hành và bảo dưỡng
    • Lên kế hoạch cho các công tác vận hành và bảo dưỡng
    • Xác định chi phí và nhân lực cho các công tác vận hành và bảo dưỡng
    • Theo dõi ghi chép nội dung và kết quả của công tác vận hành và bảo dưỡng
    5. Mô đun quản lý người dùng
    • Quản lý và phân quyền người dùng theo yêu cầu quản lý của công ty
    • Có thể phân quyền theo nhóm người dùng và theo người dùng
    • Có thể phân quyền theo chức năng
    • Có thể phân quyền theo lớp thông tin quản lý

    Atlas Server

    Atlas Server là một giải pháp bản đồ điện tử động online trên Internet cho phép quản lý, cập nhật, phân phối, trình bày bản đồ chuyên đề và thông tin CSDL GIS trên mạng LAN, WAN, Internet. Giao diện thân thiện như một cuốn atlas bản đồ giấy trên mạng, đơn giản phù hợp với nhiều người dùng. Atlas Server thích hợp với các cơ sở dữ liệu bản đồ, GIS từ rất bé cho đến rất lớn, có khả năng tuỳ biến cao, phù hợp với nhiều loại hình tổ chức.
    Lợi ích cho người sử dụng qua các ứng dụng
    • Các ứng dụng mang tính thu thập số liệu nhằm mục đích theo dõi thống kê trên diện rộng;
    • Các ứng dụng trong quản lý hành chính;
    • Các ứng dụng trong các ngành như y tế, môi trường nước, giáo dục đào tạo...
    • Các ứng dụng mang tính quảng bá, cập nhật thông tin như xúc tiến đầu tư, quảng cáo du lịch, các hệ thống hướng dẫn tìm đường, tìm địa chỉ, tham khảo tuyến xe buýt.
    • Các ứng dụng như bản đồ các đại lý, hệ thống phân phối... online trên mạng
    Các tính năng của Atlas Server
    Các tính năng của Atlas Server được VidaGIS phát triển dựa trên nền mã nguồn mở. Mục đích sử dụng các tính năng tùy biến này nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng khi khách hàng yêu cầu cung cấp hệ thống, giải pháp phần mềm lớn hay nhỏ, đơn giản hay phức tạp cũng như giá thành sản phẩm.
    1. Cho phép quản lý nhiều bản đồ
    • Người dùng có thể chọn và mở bất kỳ một bản đồ, chương bản đồ nào nằm trong CSDL;
    • Có thể bật tắt các lớp, nhóm các lớp thông tin và xem định nghĩa hiển thị lớp, thanh tỷ lệ của một bản đồ;
    • Thực hiện các thao tác phóng to, thu nhỏ, dịch chuyển, hỏi đáp, tìm kiếm.

                                   Atlas điện tử Daknông được thực hiện dựa trên sản phẩm AtlasServer
    2. Cho phép chọn lọc, tìm kiếm thông tin
    • Đo khoảng cách các đối tượng;
    • Xem thông tin thuộc tính và không gian của một đối tượng trên bản đồ;
    • Tìm kiếm đối tượng trên bản đồ.
    3. Cho phép cập nhật thông tin
    • Cập nhật trực tiếp các thông tin thuộc tính của một đối tượng trên trang Web, ví dụ như các chỉ tiêu về dân số, kinh tế, đầu tư của một huyện;
    • Cập nhật các thông tin không gian trên trang Web, ví dụ như toạ độ địa lý của một trường đại học, một trạm xá;
    • Thêm mới một điểm (trường học, bệnh viện, bưu điện,..), một đường, một polyline hay polygon, nhằm phục vụ cho các mục đích thu thập số liệu, điều tra theo dõi trên diện rộng;
    • Đồng thời người dùng cũng có thể xoá bỏ trực tiếp các đối tượng trên bản đồ bằng một thao tác đơn giản ngay trên giao diện Web;
    • Khi thay đổi thông tin, hệ thống sẽ tự cập nhật và tạo nên biểu đồ tương ứng.
    4. Quản lý biểu đồ
    • Người dùng có thể xem biểu đồ thể hiện thông tin thuộc tính của từng đối tượng trực tiếp ngay trên bản đồ.
    5. Quản trị hệ thống
    • Phân quyền cho người dùng các cấp;
    • Tính bảo mật hệ thống cao, đảm bảo thông tin trong CSDL được an toàn;
    • Khả năng lưu vết của hệ thống, tự tạo ra các log file.
    6. Quản lý bản đồ, chương bản đồ
    • Thêm mới, xoá một chương bản đồ;
    • Cập nhật dữ liệu cho một chương bản đồ;
    • Thêm mới, xoá, cập nhật thông tin cho từng bản đồ;
    • Quản trị viên có thể cập nhật cơ sở dữ liệu cho bản đồ.

                                        Bản đồ vị trí các đại lý phân phối, bán hàng... online trên Internet dùng sản phẩm AtlasServer
    7. In ấn
    • Người dùng có thể in bản đồ ở bất kì tỷ lệ nào, và bất kỳ lớp nào. Nếu khi in người dùng muốn bổ sung các thông tin; khác thì họ có thể soạn thêm nội dung rồi mới in ra.
    8. Tích hợp Multimedia và Atlas Server
    • Người dùng có thể xem các báo cáo ứng với mỗi bản đồ và được phân theo các năm báo cáo;
    • Quản lý cập nhật thông tin cho báo cáo;
    • Trong khi xem báo cáo thì có thể xem các biểu đồ tổng kết, các hình ảnh, âm thanh, film tài liệu phụ hoạ cho bản báo cáo.

    Cơ sở dữ liệu GIS về đường phố Hà Nội

    Cơ sở dữ liệu GIS về đường phố Hà Nội 


    Hiện nay, rất nhiều đơn vị quản lý và kinh doanh có nhu cầu sử dụng  cơ sở dữ liệu ( CSDL) của thủ đô Hà Nội, đây là một trong những CSDL được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như quản lý giao thông, quản lý bán hàng, sử dụng cơ sở dữ liệu này sẽ có thể đem lại lợi ích hữu hiệu nhất cho các đơn vị và doanh nghiệp. VidaGIS hiện tại  đã có CSDL đường phố Hà Nội tỉ lệ  1/7.500 được thiết kế và lưu trữ ở nhiều định dạng phổ biến như shapefile, geodatabase. Ngoài ra CSDL còn được VidaGIS chuẩn hoá, kiểm tra hình học topology và cập nhật nhiều thuộc tính cần thiết, sử dụng hệ thống toạ độ VN 2000 cho CSDL, Ellipsoid WGS 84, phép chiếu UTM.
    Thời gian cập nhật dữ liệu gần đây nhất vào năm 2006 và dựa trên phương pháp khảo sát và số hoá ảnh vệ tinh. CSDL đường phố Hà Nội bao gồm các lớp thông tin:
    - Ranh giới hành chính đến cấp xã, phường (Administrative)
    - Lớp giao thông, bao gồm các tuyến đường chính có thuộc tính, các tuyến đường giao thông đặc biệt. (Transportation)
    - Các điểm dân cư đặc biệt như khách sạn, bệnh viện trường học, điểm đỗ giao thông, đại sứ quán... (PublicPlace)
    - Lớp sử dụng đất thể hiện thảm thực vật trên, cây xanh...địa bàn TP Hà Nội (LandUse)
    - Lớp địa chính thể hiện các khu dân cư, khu đất không có nhà dân. (Cadastral)
    - Lớp thủy hệ, ao hồ, sông lớn trong TP (Hydrography)


    Ảnh minh họa cơ sở dữ liệu Hà Nội



    Sau đây là bảng thông tin mô tả thêm về dữ liệu
    STT
    Tên lớp thông tin
    Số đối tượng
    Định dạng
    Kiểu hình học
    Administrative
    1.        
    district
    15
    Shapefile
    Polygon
    2.        
    districtbounds
    454
    Shapefile
    Polyline
    Cadastral
    3.        
    communebounds
    3395
     Shapefile
    Polyline
    4.        
    communename
    124
     Shapefile
    Point
    5.        
    importantbuilding
    9439
     Shapefile
    Polygon
    Hydrography
    6.        
    riverlake
    1316
     Shapefile
    Polygon
    LandUse
    7.        
    agriculture
    404
     Shapefile
    Polygon
    8.        
    buildingblock
    1760
     Shapefile
    Polygon
    9.        
    openspace
    6265
     Shapefile
    Polygon
    10.    
    tree
    1750
     Shapefile
    Polygon
    PublicPlace
    11.    
    hotel_school_hospital
    136
     Shapefile
    Point
    12.    
    office
    118
     Shapefile
    Point
    13.    
    placename
    753
     Shapefile
    Point
    14.    
    station
    48
     Shapefile
    Point
    Transportation
    15.    
    bridge
    255
     Shapefile
    Polyline
    16.    
    HN_Streets
    6766
     Shapefile
    Polyline
    17.    
    railway
    101
     Shapefile
    Polyline
    18.    
    road
    79
     Shapefile
    Polygon
    19.    
    roadname
    452
     Shapefile
    Point
    20.    
    roadoutline
    4416
     Shapefile
    Polyline
     

    Phần mềm viễn thám - ENVI

     Phần mềm viễn thám - ENVI 



    ENVI là một trong những phần mềm hàng đầu trong việc xử lý, thu nhận thông tin từ dữ liệu ảnh một cách nhanh chóng, dễ dàng và chính xác.
    Cùng với sự gia tăng về độ chính xác của dữ liệu ảnh thì vai trò của quá trình thu nhận và xử lý ảnh cũng tăng lên. Các phần mềm xử lý ảnh sẽ giúp việc thu nhận, chiết xuất ra các thông tin cần thiết một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác.
    Phần mềm ENVI cung cấp các công cụ hữu dụng và cao cấp để đọc, khám phá, thao tác, phân tích và chia sẻ các thông tin thu nhận từ dữ liệu ảnh.
    ENVI được phát triển bới các chuyên hàng đầu về hiển thị và xứ lý ảnh. Đồng thời, ENVI cũng được xây dựng trên nền tảng mở nên cho phép người dùng dễ dàng mở rộng và tùy biến các ứng dụng. Ngoài ra, người dùng có thể sử dụng ENVI trên các môi trường khác nhau như Windows, Macintosh, Linux hay Unix.
    Đọc dữ liệu
    ENVI hỗ trợ đọc dữ liệu của ảnh viễn thám và ảnh hàng không bao gồm ảnh toàn sắc, đa phổ, ảnh radar, ảnh lidar… ENVI cho phép người dùng đọc trên 70 định dạng dữ liệu khác nhau. Ngoài ra, ENVI còn cung cấp các công cụ hỗ trợ đọc trực tiếp dữ liệu ảnh từ các server của OGC(Open Geospatial Consortium) và JPIP(JPEG 2000 Interactive Protocol).
    Thao tác với dữ liệu
    Với ENVI người dùng có thể:
    • Trực chuẩn hóa ảnh
    • Đăng ký hai hay nhiều ảnh
    • Hiệu chỉnh ảnh hưởng khí quyển
    • Chồng xếp dữ liệu vector
    • Xác định vùng giao(ROIs)
    • Tạo mô hình số độ cao(DEM)
    • Thay đổi cỡ ảnh, quay, chuyển định dạng

     
     
    Khám phá dữ liệu
    ENVI cung cấp cho người dùng một giao diện thông minh để khám phá và hiển thị dữ liệu. Người dùng có thể sử dụng ENVI để khám phá nguồn dữ liệu đồ sộ và thông tin miêu tả (metadata) của nó, tạo hiệu ứng 3D, tạo hình ảnh chuyển động…
    Phân tích dữ liệu
    ENVI cung cấp bộ các công cụ hữu ích được xây dựng dựa trên các phương pháp khoa học đã được chứng minh giúp người dùng phân tích dữ liệu. Phân tích trong ENVI bao gồm:
    • Phân tích dữ liệu ảnh
    • Phân tích dữ liệu phổ

     
     
    Chia sẻ dữ liệu
    Với ENVI người dùng rất dễ dàng kết hợp các tiến trình công việc. Qua đó, cho phép người dùng chia sẻ bản đồ kết quả và các báo cáo. Chức năng “save as” của ENVI  sẽ hỗ trợ chuyển đổi và xuất dữ liệu. Dữ liệu có thể được xuất ra ở dạng vector hoặc raster chung nào đó, để trao đổi giữa nhiều người dùng khác nhau.

    ArcIMS - Công bố bản đồ...

    ArcIMS - Công bố bản đồ, dữ liệu, metadata lên Web 

     
    ArcIMS là giải pháp phân phối bản đồ động, dữ liệu và dịch vụ GIS thông qua Web. Đồng thời ArcIMS cung cấp môi trường làm việc mềm dẻo phù hợp với các khả năng truy cập khác nhau trên mạng Intranet hay mạng Internet.
    Các dịch vụ ArcIMS có thể được sử dụng rộng rãi trên máy trạm thông qua ứng dụng Web, ArcGIS desktop, máy di động và các thiết bị không dây. Các cấp hành chính, doanh nghiệp, tổ chức trên toàn thế giới có thể sử dụng ArcIMS để đưa thông tin, khám phá và chia sẻ thông tin không gian địa lý.
    ArcIMS được sử dụng như thế nào?
    Phân phối các ứng dụng rộng rãi : ArcIMS có thể sử dụng để phân phối các ứng dụng cho một lượng lớn người dùng trong và ngoài lĩnh vực liên quan đến GIS thông qua Internet. ArcIMS cho phép truy cập dữ liệu một cách nhanh đơn giản theo các ứng dụng tập trung thông qua trình duyệt Web.
    Phân phối dữ liệu cho người dùng GIS chuyên nghiệp: Nhiều tổ chức hay công ty công bố các dữ liệu GIS không những trong mà cả ngoài ngành. Một trong những ứng dụng của ArcIMS là tập trung vào chia sẻ dữ liệu giữa các tổ chức GIS chuyên nghiệp.
    Sử dụng công nghệ GIS mạng:  Dùng ArcIMS để công bố các trang web có ứng dụng công nghệ GIS là bước đầu để xây dựng một cơ sở dữ liệu mạng diện rộng. Thường thì các tổ chức GIS luôn có nhu cầu công bố dữ liệu và các dịch vụ GIS rộng rãi, ngoài phạm vi cơ quan hay tổ chức của mình nhằm quảng bá thanh danh cũng như thế mạnh của tổ chức và ArcIMS là công cụ quan trọng để xây dựng các thành phần của mạng lưới GIS trong quá trình thực hiện các cổng kết nối GIS.
    Công ty VidaGIS hiện đang cung cấp những khóa đào tạo chuyên nghiệp về sản phẩm này, xin xem thêm tại mục đào tạo. 
    Hiện nay sản phẩm ArcSDE và ArcIMS đã được ngừng sản xuất, thay thế cho hai sản phẩm đó là sản phẩm tổng thể và toàn diện hơn: ArcGIS Server

    HD Cài phần mềm ArcView 9.x

    Hướng dẫn cài đặt phần mềm ArcView 9.x Single Use
    Phần I: Hướng dẫn cài đặt.
    Chuẩn bị:
    Bộ phần mềm ArcView 9.x
    Máy tính: cấu hình : 1.5GHz intel pentium IV hoặc cao hơn, 512 MB Ram hoặc cao hơn, 1.5GHz
    bộ nhớ trống, hệ điều hành Windows 2000 hoặc XP, Internet Explorer 6.0 hoặc cao hơn.
    Tiến hành:
    1. Đặt CD A vào khay đĩa và chọn “ Install ArcView 9.1….”



    Chọn Next cho hộp thoại tiếp theo:



    2. Lựa chọn “I accept the license agreement” để đồng ý cài đặt sau đó chọn Next.



    3. Có ba lựa chọn để cài đặt nhưng để có bộ đầy đủ bạn lựa chon “Complete” Sau đó chọn Next.



    Typical: Nếu chọn theo cách này bạn sẽ cài theo mặc định bộ sản phẩm ArcView 9.1 vào máy và
    có thể không đầy đủ các chức năng cũng như các Extensions.
    Complete: Chọn theo cách này phần mềm sẽ được cài đặt đầy đủ vào máy.
    Custom: Bạn có thể lựa chọn các Extensions cũng như các thành phần của phần mềm ArcView 9.1
    để cài đặt vào máy tính
    4. Bạn có thể lựa chọn thư mục cài đặt bằng cách chọn Browse sau đó chọn Next.



    5. Tiếp tục chọn Next cho đến khi hiện ra hộp thoại ArcView Setup.



    Chọn Finish để kết thúc cài đặt



    Ta có thể cài đặt những phần mở rộng sau bằng cách bỏ các lựa chọn trong hộp sau, nếu cài luôn thì
    ta chọn OK để tiếp tục và ta đưa các đĩa tương ứng trong bộ đĩa vào:


    Sau khi cài đặt hoàn thành ta có thể phải khởi động lại máy.

    Phần II: Hướng dẫn đăng kí cho ArcView 9.x Single Use:
    1. Cắm khóa cứng vào cổng Com1 nếu là khóa cứng dạng Paralel hoặc cổng USB nếu là khóa
    cứng dạng USB.
    2. Cài drive cho khóa cứng:
    Cho đĩa cài vào khay mở đến thư mục RainBow sau đó tiến hành cài đặt:



    3. Chọn I accept cho bước tiếp theo:



    4.  Chọn Complete cho bước tiếp theo:


    Sau khi cài xong chọn Finish để kế thúc.
    5.  Cho đĩa chứa file Liciense vào khay sau đó copy file liciense vào ổ cứng trên máy ví dụ:
    C:\\Cdkey
    6.  Sau đó vào Starmenu chọn ArcGIS – Destop Administrator:



    7. Chọn “Register now”



    8. Tiếp theo



    9. Chọn ” I received the authorization file by email and i have saved it to disk” Chọn Browse đến
    nơi mà ta lưu file License. C:\\Cdkey và chọn đến file Liciense:



    10. Sau khi lựa chọn file License chọn Next



    Sau khi chọn Next sẽ hiện lên thông báo sau: Trong box có chứa các sản phẩm đã được đăng kí



    Chọn Finish để kết thúc
    Như vậy ta đã cài đặt xong ArcView 9.x Single Use và đăng kí thành công.
    Chúc các bạn thành công


    bản đồ an toàn cơ sở hạ tầng

    Chính phủ Indonesia phát hành bản đồ về vấn đề an toàn cơ sở hạ tầng 

    Bộ công chính Indonesia đưa ra sáu bản đồ khu vực động đất mới để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng chống chịu động đất. Bộ trưởng nghiên cứu và phát triển Sumaryanto Widiyatin phát biểu : “ Chúng tôi đang làm điều này để đối phó với sự thường xuyên hơn của các trận động đất trong những năm gần đây. Chúng tôi nhận ra rằng các tòa nhà và cơ sở hạ tầng cần có khả năng chống chịu động đất để giảm thiểu số lượng thiệt hại.”
    Việc phát hành bản đồ phù hợp với quy định của Chính phủ Indonesia năm 2008 về quản lý thiên tai là giảm nhẹ thiệt hại thông qua việc phát triển tự nhiên là một phần của công tác phòng chống thiên tai.
    Ông Sumaryanto cho biết :” Bản đồ mới được toàn diện hơn so với các phiên bản trước đó vào năm 2002 của Indonesia. Phiên bản mới được thực hiện theo Luật Xây Dựng quốc tế năm 2006 và dựa trên phân tích nguồn đông đất 3 chiều và ước tính được lực lượng các trận động đất về cơ cấu để giảm rủi ro thiên tai.
    Quá trình lập bản đồ có sự đóng góp của 11 chuyên gia từ Viện Công Nghệ Bandung (ITB), Viện khoa học Indonesia (LIPI), các cơ quan khí hậu, khí tượng và địa vật lý ( BMKG), Bộ Tài Nguyên Khoáng Sản và Năng Lượng và Bộ Công Chính của Indonesia.
    Ông còn cho biết : “Các bản đồ phục vụ như là một sự tham chiếu cho việc xây dựng các toà nhà và cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, đê điều và các kênh thủy lợi, chúng tôi cũng sẽ ban hành hướng dẫn để trang bị và củng cố sự vững chắc cho các tòa nhà hiện nay đang nằm ở khu vực dễ bị động đất để tăng cường an toàn công cộng”.
    Thông qua việc phát hành bản đồ và Tiêu chuẩn quốc gia Indonesia (SNI), tất cả giấy phép xây dựng đều phải thực hiện theo pháp luật hiện hành, sẽ có biện pháp xử phạt cho những công trình chống lại quy định. Các nhà sản xuất bản đồ hiện đang sửa đổi tiêu chuẩn theo công trình xây dựng chống chịu động đất, dự kiến sẽ được ban hành vào tháng 8 năm nay. Họ cũng đang làm bản đồ các khu vực nhỏ và các kế hoạch khẩn cấp để giảm ảnh hưởng từ động đất.
    Irwan Meilano, một trong những nhà thiết kế bản đồ của Viện công nghệ Bandung, Indonesia cho biết bản đồ các khu vực nhỏ phân tích bề mặt đất và độ nhạy cảm của công trình, điều này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết về tiềm năng cho các trận động đất ở các khu vực nhất định.
    Với bản đồ, chúng ta có thể nhận ra liệu các công trình công cộng như đê điều có được đặt tại các vị trí quyết định của nó không. Hơn nữa, với bản đồ các khu vực nhỏ , mà có thể mất nhiều thời gian để hoàn tất, sẽ là một tham khảo hữu ích khi soạn thảo kế hoạch khẩn cấp. Chúng ta còn căn cứ vào bản đồ để phổ biến thông tin về các mối nguy hiểm để nâng cao nhận thức công chúng.  
    Nguồn: Rear More

    Vệ tinh WorldView-2

    Vệ tinh WorldView-2 sắp được trình làng 

    Có lẽ thông tin thú vị nhất trong Hội thảo Map Asia 2009 đó là việc nhà khai thác vệ tinh Mỹ  DigitalGlobe sẽ đưa ra một số biện pháp nghiêm ngặt nhằm bảo vệ thị trường cho sản phẩm WorldWiew-2 satellite của họ. WorldWiew-2 satellite dự định sẽ ra mắt thị trường trong tháng Mười.
    DigitalGlobe có một đội ngũ bán hàng chuyển vùng nhằm thúc đẩy các lợi ích cho vệ tinh mới. Tuy nhiên, một số hạn chế của WorldWiew-2 satellite đã khiến cho sản phẩm này không dễ bán. Đồng thời các đối thủ cạnh tranh khác như vệ tinh Pleiades của Pháp cũng rất mạnh
    Chính vì vậy, DigitalGlobe đang quảng cáo cho hai lợi ích khác của vệ tinh này.
    Lợi ích thứ nhất chính là việc nó được trang bị 8 dải cảm biến thay vì là 4 như vệ tinh Landsat. Các dải mới được thêm vào có màu đỏ, xanh dương, vàng và IR2 sẽ giúp thực hiện công việc dễ dàng hơn trong một số nhiệm vụ ví dụ như tăng khả năng phân biệt giữa các loại thực vật đặc biệt.
    Lợi ích khác của vệ tinh này chính là sự di chuyển linh hoạt của nó. Nó có thể xoay từ điểm này đến điểm kia cũng như việc đi dọc theo đường quỹ đạo và như vậy có nghĩa nó bao quanh bất kỳ điểm nào trong vòng 30 độ của thiên đỉnh. Đây là sự kết hợp với một hệ thống tín hiệu truyền dẫn băng thông rộng và làm tăng năng lực của nhiệm vụ.
    Người phát ngôn của DigitalGlobe nói rằng công ty của họ rất kỳ vọng vệ tinh mới này có thể thu thập dữ liệu gấp 10 lần so với các vệ tinh trước đây.

    Ấn độ: xây dựng bản đồ dân số 2011

    Ấn độ: xây dựng bản đồ dân số 2011 dựa trên nền GIS

    Cơ quan điều tra dân số Ấn Độ là một trong những nhà sản xuất bản đồ lớn nhất tại đất nước này. Dưới đây là tóm tắt một cuộc phỏng vấn ngắn đối với lãnh đạo cơ quan.
    Chúng tôi có các file số của tất cả các làng quê trên toàn đất nước và chúng tôi cũng đang sản xuất thêm một số tập bản đồ chuyên đề có thể cung cấp thông tin từ ngay ở cấp thôn xã. Trong bản đồ dân số 2011, chúng tôi cũng đang hy vọng rằng sẽ cung cấp các thông tin năng động hơn là thông kê các số liệu. Cho đến nay, chúng tôi đã sản xuất được các dữ liệu chuyên đề, nhưng chúng tôi cũng đang tiếp tục phát triển nó nhằm cho ra mắt Hệ thống hỗ trợ quyết định (DSS) dựa trên nền GIS cho các nhà hoạch định chính sách bằng cách cùng lúc cung cấp cả dữ liệu không gian cũng như dữ liệu phi không gian.
    Việc quan trọng nằm ở việc đào tạo cho các các bộ điều tra dân số. Ở khía cạnh này, Văn phòng quản lý dân số Ấn Độ (ORGI) đã hợp tác với tổ chức UNICEF soạn ra hệ thống đào tạo phân làm 4 cấp. Mục đích cuối cùng là làm rõ các đặc trưng chính của việc điều tra dân số cũng như các kiến thức cùng kinh nghiệm cho 2.7 điều tra viên cùng các giám sát viên nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ được giao
    Dựa trên yêu cầu của người sử dụng tại các Bộ và mức độ phát triển tại các vùng nông thôn cùng với sự can thiệp của Chính phủ, một vài phạm vi mới đã được thêm vào bản đồ dân số 2011. Ví dụ như: phạm vị của các câu hỏi về nguồn nước uống và vệ sinh môi trường sẽ được mở rộng. Cũng như việc sử dụng điện thoại di động đã trở nên thông dụng hơn tại các vùng quê, thông tin sẵn sàng trên các phương tiện tại từng hộ gia đình nông thôn sẽ được đảm bảo.
    ông có thể tóm tắt cho chúng tôi cách thức và những gì các công nghệ không gian địa lý đang được sử dụng trong Bản đồ dân số 2011?
    Công nghệ không gian địa lý đóng vai trò chính trong Census này. Trong các cuộc điều tra dân số trước đó nhiều trường hợp sai sót do không có sẵn bản đồ liên quan hiển thị hành chính/phạm vi địa lý. Để khắc phục các sai sót đó, Cơ quan điều tra dân số Ấn độ đã dự tính sử dụng công nghệ không gian địa lý trong việc thực hiện các hoạt động điều tra dân số trải rộng trên cả hai giai đoạn (giai đoạn một bắt đầu từ tháng 4 năm 2010 và giai đoạn hai là tháng 3 năm 2011)
    ORGI cũng đang tham gia vào việc chuẩn bị việc đăng ký hộ tịch của công dân Ấn độ cũng như việc đăng ký thẻ căn cước (MNICS). Phạm vi của dự án này là gì và không gian địa lý đóng vai trò như thế nào trong dự án này?
    Việc đăng ký hộ tịch được tiến hành kể từ tháng 4 năm 2010. Việc đăng ký hộ tịch (NPR) này nhằm lưu lại các thông tin chi tiết về các cư dân của đất nước cho dù họ có phải là cư dân thành phố hay không.
    Giai đoạn ban đầu chuẩn bị cho NPR sẽ liên quan đến thu thập dữ liệu tiểu sử của tất cả các cư dân của đất nước bao gồm cả trẻ sơ sinh. Dũ liệu sinh trắc học của người cao niên từ 15 tuổi trở lên như dấu vân tay, ảnh và các dữ liệu khác sẽ được thêm vào. Sao chép dữ liệu và cấp mã số duy nhất nhận dạng sẽ được thực hiện bởi Cơ quan UID Ấn Độ. NPR sau đó sẽ được hoàn thành và duy trì bởi ORGI.
    Vai trò của kế hoạch điều tra dân số là gì và công nghệ không gian địa lý có thể xây dựng trực tiếp kế hoạch này như thế nào?
    Cơ quan điều tra dân số của Ấn Độ thu thập dữ liệu cơ bản về một loạt các thuộc tính trong nước. Thông tin này bao gồm các tiện nghi có sẵn trong từng hộ gia đình, nước uống, vệ sinh môi trường, năng lượng tiêu thụ và vv. Các điều tra dân số bao gồm thông tin cá nhân của người như giới tính, tuổi tác, giới tính, tôn giáo, tình trạng giáo dục, nghề nghiệp/nghề nghiệp, công nhân, người lao động và tình trạng việc làm,v.v… Dữ liệu này cung cấp một hồ sơ dữ liệu toàn diện của mỗi công dân của đất nước này và một khi dữ liệu này được biên soạn trong một môi trường GIS, nó sẽ chứng minh được một công cụ hiệu quả cho quy hoạch tốt hơn.

    Giả thiết bằng ảnh vệ tinh: Lộ trình dời đô của Vua Lý

    Giả thiết bằng ảnh vệ tinh: Lộ trình dời đô của Vua Lý 

    Có rất nhiều giả thiết được đưa ra về lộ trình dời đô từ thành Hoa Lư về thành Đại La của vua Lý Công Uẩn. Tìm hiểu tài liệu của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc, VTC News xin triển khai giả thiết của ông về lộ trình dời đô bằng những hình ảnh chụp từ vệ tinh (công nghệ Google Earth) và một số ảnh tư liệu.
    Sử Toàn thư có ghi: “Mùa thu tháng bảy năm Canh Tuất (1010) Vua dời đô từ thành Hoa Lư sang thành Đại La, thuyền tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, dó đó đổi gọi là thành Thăng Long” (trong ảnh là Hà Nội bên sông Hồng chụp từ vệ tinh, và bản đồ hoàng thành Thăng Long thời Hồng Đức 1490 - ảnh tư liệu).
    Trước đó, cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân, xây dựng nền thống nhất quốc gia. Năm sau, ông lên ngôi hoàng đế, đóng đô ở Hoa Lư (Trong ảnh là Đền Vua Đinh - Hoa Lư - Ninh Bình).

    Ngày ấy, kinh thành Hoa Lư có 2 khu vực: Thành Ngoại ở phía Đông; Thành Nội ở phía Tây. Con ngòi Sào Khê quanh co lượn khúc nối kinh thành với sông Hoàng Long (Trong ảnh là sơ đồ kinh thành Hoa Lư)
    Hoa Lư thuở đó tuy giao thông thủy bộ cũng thuận lợi nhưng chưa phải là một trung tâm kinh tế hoặc văn hóa lớn. Đó là vùng núi non hiểm trở, thuận tiện cho việc phòng giữ, tự vệ về mặt quân sự hơn là hoạt động kinh tế (trong ảnh là sông Sào Khê ngày nay uốn lượn qua kinh thành Hoa Lư).
    Không thể tiếp tục đặt kinh đô, đầu não của quốc gia ở vùng núi non hiểm trở, nên mùa đông năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua thì mùa thu năm sau ông đã quyết định dời kinh đô về thành Đại La. Ông ban bố một bài chiếu gọi là “Chiếu dời đô” (Thiên đô chiếu).
    Cuộc dời đô của vị vua sáng lập triều Lý đi theo đường thủy và đi vào cuối mùa hè. Chọn lộ trình và thời điểm như vậy hẳn là ông lợi dụng mùa nước lên để không lo bị mắc cạn, cũng như lợi dụng mùa gió nồm để buồm được no gió, đỡ nhiều công chèo chống.
    Cuộc dời đô bắt đầu theo dòng Sào Khê ra bến sông Hoàng Long.
    Sông Hoàng Long ngày nay đẹp nên thơ nhờ những thảm lúa uốn lượn hai bờ.
    Từ bến sông Hoàng Long, thuyền xuôi về Đông, tới ngã ba Gián Khẩu – chỗ sông Hoàng Long hòa nước vào sông Đáy - thì thuyền ngược dòng theo sông Đáy lên hướng Bắc.
    Bến thuyền ở ngã ba Gián Khẩu ngày nay.
    Tháng 7 âm lịch, gió nồm nên đi ngược cũng không khó khăn gì. Tới chỗ nay là thị xã Phủ Lý, thuyền gặp ngã ba sông Châu.
    Chỗ ngã ba này là nơi giáp ranh 3 đơn vị hành chính: phường Lương Khánh Thiện của thị xã Phủ Lý, thôn Ba của xã Phù Vân, xóm Bắc Sơn của xã Châu Sơn, huyện Kim Bảng (Hà Nam)
    Từ Phủ Lý đến nơi giáp ranh xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên) và xã Bình Nghĩa (huyện Bình Lục) thì sông Châu đúng là chỉ một nhánh.
    Nhưng đến đây thì sông Châu chia dòng tách thành hai nhánh
    Một nhánh chảy ngược lên phía Bắc tới nơi giáp ranh hai xã Yên Nam và Trác Văn (Duy Tiên) thì quặt sang Đông, đổ vào sông Hồng ở chỗ nay là xóm Tắc Giang, thôn Lỗ Hà, xã Chuyên Ngoại, ranh giới tự nhiên cho 2 huyện Duy Tiên – Lý Nhân.
    Ngày nay nhánh sông chảy lên phía Bắc đã bị con đê mới đắp thời Pháp thuộc chặn lại. Song chỗ cửa sông cũ (chỗ gặp sông Hồng) còn khá mênh mông.
    Nhánh còn lại từ xã Bĩnh Nghĩa chảy xuôi về Đông Nam làm ranh giới tự nhiên cho 2 huyện Bình Lục và Lý Nhân để rồi đổ ra sông Hồng ở xã Hòa Hậu (Lý Nhân).
    Nhánh sông này cũng đã được xây cống với trạm bơm Hữu Bị. Do vậy, sông Châu không ra tới sông Hồng được nữa.
    Sông Châu (màu đỏ) giờ là con sông đang thoi thóp thở vì nó không còn có thể gặp sông Hồng được. Nhưng cách đây nghìn năm thì sự thông thương trên sông là tất nhiên. Và thuyền nhà Lý đã theo sông Châu Giang ra sông Hồng có thể theo 1 trong 2 nhánh nói trên.
    Sau đó thuyền theo sông Hồng (Trong ảnh là con sông Hồng ngày nay đoạn từ Hà Nam ngược lên Hà Nội)...
    Và về tới thành Đại La (Trong ảnh là cầu Chương Dương và cầu Long Biên bắc qua sông Hồng ngày nay)
    Như vậy, sông Hoàng Long – sông Đáy – sông Châu – sông Hồng là lộ trình dời đô của Vua Lý Thái Tổ.
    Tuy nhiên, Toàn thư có ghi: “Vua dời đô từ Hoa Lư ra Đại La. Thuyền tạm đỗ dưới thành”. Chi Tiết “thuyền tạm đỗ dưới thành” hóa ra lại cũng là vấn đề. Vì như vậy là đoàn thuyền ngự đỗ sát ngay dưới chân thành Đại La. Thành Đại La không hề ở bên bờ sông Hồng, mà ở bên bờ sông Tô. Vậy thuyền vào thành bằng nẻo nào?
    Thành Đại La coi như gần trùng với vị trí thành Nhà Nguyễn sau này mà nay ai cũng biết mặt Bắc nhìn ra sông Tô (Trong ảnh là sơ đồ kinh thành Thăng Long, màu xanh chỉ sông Tô Lịch)
    Đường màu vàng chỉ con đường Quán Thánh. Xưa kia được coi là chạy dọc bờ sông Tô ra sông Hồng
    Các cuộc khai quật khảo cổ học trong các năm 2002 – 2003 ở khu 18 Hoàng Diệu đã có thêm những bằng chứng là thành Đại La nằm cùng khu vực với thành Nhà Nguyễn. Vậy năm 1010 trọng đại ấy, Vua Lý đã cho thuyền từ sông Hồng rẽ vào sông Tô, đến cửa Thành Đại La thì mới lên bộ mà vào thành (Trong ảnh là Hoàng thành Thăng Long ở khu 18 Hoàng Diệu)
    Toàn cảnh Hà Nội ngày nay với đường chỉ đỏ là sông Tô Lịch hiện tại, đường chỉ vàng là sông Tô Lịch xưa đã biến mất
    Chập hình ảnh Hà Nội ngày nay với sơ đồ Hoàng thành Thăng Long xưa, ta được hình ảnh này khá ăn khớp.
    Chập bản đồ vẽ Hà Nội năm 1885 lên phần ảnh vệ tinh Hà Nội ngày này ta được hình trên đây với khu vực Hoàng thành của sơ đồ hoàn toàn khớp với vị trí thực của các di tích Hoàng thành ngày nay. Như vậy, sông Tô chính là con sông cuối cùng trên hành trình dời đô bằng đường thủy của Vua Lý Công Uẩn.


    Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482