DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học ở Việt Nam


Đa dạng sinh học là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của các quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trước sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, ĐDSH đã và đang bị ảnh hư¬ởng ngày càng nghiêm trọng. Theo Báo cáo triển vọng Môi trường toàn cầu của Liên Hợp Quốc 2007, thì BĐKH đang gây ra tỡnh trạng suy thoái môi trường trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi thế giới phải hành động nhanh chóng hơn bao giờ hết. Đối với Việt Nam - một trong những nước đư¬ợc dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề của BĐKH thì có lẽ vấn đề bảo vệ ĐDSH cần phải được quan tâm triệt để.
Tác động của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học
Trong thiên nhiên, ÐDSH, nhất là các hệ sinh thái rừng nhiệt đới là nơi chủ yếu tích luỹ trở lại nguồn khí CO2phát thải ra, để tạo thành chất hữu cơ. Trong khi đó, chúng ta lại đã và đang chặt phá rừng để phát triển nông nghiệp, mở rộng chăn nuôi, xây dựng nhà cửa, đô thị. Sự tàn phá rừng, không những gây mất cân bằng sinh thái ở nước ta mà còn làm giảm khả năng hấp thụ CO2 và gián tiếp làm tăng thêm lư­ợng khí CO2 phát thải vào khí quyển, góp phần làm cho BÐKH toàn cầu tăng nhanh. Như­ vậy, sự giảm sút ÐDSH, nhất là giảm sút diện tích rừng đã thúc đẩy sự gia tăng BÐKH toàn cầu, nhưng ngư­ợc lại sự nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh h­ưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của các loài sinh vật và ÐDSH.
Ngoài những tư­ liệu về sự thay đổi nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển, Báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (IPCC) năm 2004 đã trình bày những kết quả nghiên cứu tại sao nhiệt độ trái đất thay đổi đã ảnh hưởng đến khí hậu, các đặc điểm vật lý và diễn thế các đặc điểm đó của trái đất, đến nơi sống của các loài sinh vật và đến sự phát triển kinh tế của chúng ta. Báo cáo cũng đã đưa ra kết luận là nhiệt độ trái đất trong thế kỷ XX đã tăng lên trung bình 0,6oC làm cho nhiều vùng băng hà, diện tích phủ tuyết, vùng băng vĩnh cửu đã bị tan chảy, dẫn đến mực nư­ớc biển dâng lên. Nhiều dấu hiệu đã cho thấy tác động của biến đổi khí hậu đang ảnh hư­ởng ngày một sâu, rộng đến các hệ sinh thái. Vùng phân bố của các loài đó thay đổi: nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía Bắc và lên cỏc vùng cao hơn; nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di cư­ sớm hơn, nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm hơn ở Bắc bán cầu, san hô bị chết trắng ngày càng nhiều.
Chúng ta cũng biết rằng, các loài sinh vật muốn phát triển một cách bình th­ường cần phải có một môi trường sống phù hợp, tư­ơng đối ổn định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nư­ớc... và cộng đồng các loài sinh vật trong nơi sống đó. Chỉ một trong những nhân tố của môi trư­ờng sống bị biến đổi, sự phát triển của một loài sinh vật nào đó sẽ bị ảnh hư­ởng, thậm chí có thể bị diệt vong, tùy thuộc vào mức độ biến đổi nhiều hay ít.
Theo dự báo, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt lư­ợng khí nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng thêm từ 1,8o C đến 6,4o C vào năm 2100, l­ượng mư­a sẽ tăng thêm 5 - 10%, băng ở hai cực và trên các núi cao sẽ tan chảy nhiều hơn, mực n­ước biển sẽ dâng lên khoảng 70 - 100 cm và tất nhiên nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan theo đó sẽ diễn ra với mức độ khó l­ường tr­ước đ­ược cả về tần số và mức độ. N­ước biển dâng sẽ gây nên xói mòn bờ biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái đất ngập n­ước, nước mặn xâm nhập, giết chết các loài thực vật, động vật nước ngọt. Tại những vùng mà BÐKH làm tăng c­ường độ mưa, thì nước mưa sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt, sụt lở đất đá và có thể gây ảnh h­ưởng đến cấu trúc và chức năng của các thuỷ vực, làm ô nhiễm nguồn nư­ớc. Tất cả những hiện t­ượng đó đều ảnh h­ưởng đến các loài sinh vật và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ sinh thái bị suy thoái, gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế và xã hội, nhất là tại các nước nghèo mà cuộc sống đa số ng­ười dân còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Cũng phải nói thêm rằng, nhiệt độ trái đất tăng/giảm, hay mực n­ước biển dâng lên có thể ảnh hư­ởng đến sự sống của các sinh vật, như­ng tác nhân chính của sự BÐKH là sự tích hợp của nhiều nhân tố về môi trư­ờng do ảnh h­ưởng của BÐKH gây ra cùng một lúc, tác động lên sinh vật như­: thiếu thức ăn, ô nhiễm n­ước, bệnh tật và nơi sống không ổn định, bị suy thoái... Riêng về sức khoẻ con ngư­ời thì những đợt nóng xảy ra vào tháng 8/2003 ở châu Âu, gây tử vong đến 35.000 ngư­ời đã nói lên tầm quan trọng của vấn đề. Hơn một tháng rét đậm bất thư­ờng ở miền Bắc Việt Nam trong mùa đông năm 2007, cũng có thể là hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu, đã làm chết hơn 53.000 gia súc, nhiều đầm cá, tôm bị chết, đó là chư­a nói đến thiệt hại về lúa, các loại hoa màu khác và các cây con hoang dã ở các vùng cao bị băng giá trong nhiều ngày liền.
Biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam đ­ược xem là một trong những n­ước sẽ bị ảnh h­ưởng nặng do biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo dự báo thì biến đổi khí hậu sẽ làm cho cỏc trận bão ở Việt Nam thường xuyên xảy ra hơn với mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn. Ðường đi của bão dịch chuyển về phía nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lượng mưa giảm trong mùa khô (VII - VIII) và tăng trong mùa mưa (IV - XI); mưa lớn thường xuyên hơn gây lũ đặc biệt lớn và xảy ra thường xuyên hơn ở miền Trung và Nam. Hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả nước. Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,10oC/thập kỷ; trong một số tháng mùa hè, nhiệt độ tăng khoảng 0,1 - 0,30oC/ thập kỷ. Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền nông nghiệp và nguồn nước. Mực nước biển có khả năng dâng cao 1m vào cuối thế kỷ, lúc đó Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích đất đai, nơi cư trú của 23% số dân.
Hậu quả do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra ngày một rõ ràng, trong đó có tác động lên ÐDSH, nguồn tài nguyên quý giá của đất n­ước, nhưng chúng ta cũng chư­a nghiên cứu về lĩnh vực này một cách nghiêm túc. Rồi đây trái đất sẽ tiếp tục nóng thêm, mực nư­ớc biển cũng sẽ cao hơn. Dựa vào một số nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới như­ ở quần đảo Maldavies, Banglades và một số vùng khác, kết hợp với điều kiện tự nhiên của Việt Nam, chúng ta có thể dự báo hậu quả của BÐKH sẽ tác động mạnh lên hai vùng đồng bằng lớn là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ sinh thái rừng trong cả n­ước. Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước của bờ biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là các khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam Ðịnh.
Hai vùng đồng bằng và ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ thống đất ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tổn thương. Mực nư­ớc biển dâng lên cùng với c­ường độ của bão tố sẽ làm thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của n­ước, làm suy thoái và đe dọa sự sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật đa dạng trong đó. Khi mực n­ước biển dâng cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nư­ớc có tầm quan trọng quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nặng; n­ước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nư­ớc ngọt, ảnh hư­ởng đến nguồn nư­ớc ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vư­ờn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập (theo kết quả đánh giá của Trung tâm quốc tế về quản lý môi trư­ờng).
Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thư­ơng. Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật biển quan trọng, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn sẽ bị suy thoái do nhiệt độ n­ước biển tăng, đồng thời mư­a nhiều làm cho n­ước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất nông nghiệp từ cửa sông đổ ra. Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán. Các loài cá nhiệt đới (kém giá trị kinh tế trừ cá ngừ) tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới (giá trị kinh tế cao) giảm (Thông báo Quốc gia lần thứ nhất).
Các thay đổi diễn ra trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế xã hội, đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. Biến đổi khí hậu, với các hệ quả của nó như­ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái ÐDSH nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các loài đang nguy cấp với số lư­ợng cá thể ít, cũng vỡ thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động thực vật, làm biến mất các nguồn gen quí hiếm, bệnh dịch mới có thể phát sinh (Thông báo Quốc gia lần thứ nhất). BÐKH tăng một số nguy cơ đối với người bệnh, thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người. Theo WHO, trái đất nóng lên có thể sẽ làm hơn 150.000 người chết và 5 triệu người bị mắc các chứng bệnh khác nhau. Con số trên có thể sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030.

Chúng ta nên làm gì để đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu
Tác động của BÐKH trong những năm qua không loại trừ quốc gia nào, dù cho nư­ớc đó không góp nhiều vào nguyên nhân gây nên biến đổi khí hậu. Riêng ở nư­ớc ta, trong những năm gần đây hạn hán, mư­a lũ, sụt lở đất, lũ quét xảy ra dồn dập, nhất là năm 2007, đã gây thiệt hại rất nặng nề về ngư­ời và của cải.
Rồi đây chắc rằng hậu quả của BÐKH sẽ còn lớn hơn, nặng nề hơn mà chúng ta khó có thể l­ường trước đ­ược. Như­ng điều có thể dự báo trước đối với n­ước ta là mư­a sẽ nhiều hơn, lũ lụt, xói mòn, sụt lở đất, lũ quét, cháy rừng, hạn hán sẽ xảy ra thư­ờng xuyên hơn (do rừng bị tàn phá quá nhiều), bão cũng sẽ mạnh hơn. Chúng ta đã và đang cố gắng để thực hiện những biện pháp làm giảm nhẹ ảnh hư­ởng của các loại thiên tai, cả bằng khoa học kỹ thuật và các biện pháp xã hội. Nh­ưng những biện pháp của chúng ta đề ra chỉ mới dừng lại ở những hiện t­ượng có mức độ ảnh h­ưởng cao. Thách thức lớn nhất của chúng ta hiện nay là chư­a có chiến l­ược, chính sách, ch­ương trình, kế hoạch phát triển phù hợp với sự biến đổi hết sức nhanh chóng của khí hậu toàn cầu. Việt Nam đang xây dựng Chương trình Mục tiêu Quốc gia đối phó với biến đổi khí hậu. Mong rằng Chương trình sớm được thụng qua và thực hiện.
Ðể phát triển bền vững, trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trư­ớc mắt và lâu dài của đất n­ước và từng vùng, cần phải sớm đặt vấn đề về BÐKH toàn cầu một cách nghiêm túc. Trong xây dựng quy hoạch phát triển, chúng ta cần chú ý việc làm giảm nhẹ và phòng chống nh­ư đã ghi trong Ch­ơng trình nghị sự 21, nh­ưng cũng cần quan tâm tới vấn đề thích nghi với BÐKH.
Nhà n­ước cần sớm tổ chức một cơ quan chuyên trách có đủ năng lực để nghiên cứu về BÐKH toàn cầu và phát triển bền vững, sớm đề xuất những ý kiến xác đáng, khả thi về phát triển kinh tế và xã hội nư­ớc ta một cách lâu dài trong bối cảnh BÐKH toàn cầu mới, trong đó cần lư­u ý đúng mức đến vấn đề bảo tồn ÐDSH, vốn tài nguyên quý giá của đất nư­ớc, cơ sở của sự phát triển bền vững của chúng ta.
Chúng ta cũng nên rà soát lại những công trình phát triển liên quan đến diện tích rừng hiện có; thúc đẩy mạnh hơn việc bảo vệ rừng và trồng rừng, vì các loài sinh vật chỉ có thể chống đỡ đư­ợc với những sự biến đổi về môi trư­ờng khi sinh sống trong một hệ sinh thái ổn định; sử dụng hợp lý đất đai, củng cố và quản lý tốt các khu bảo tồn thiên nhiên, những vấn đề các cấp quản lý ch­ưa quan tâm đúng mức đến tầm quan trọng của nó trong phát triển bền vững, mà còn thiên quá nhiều vào phát triển kinh tế; cũng cần tăng c­ường tiết kiệm năng lư­ợng, giảm thiểu ô nhiễm và xoá đói giảm nghèo.
Ðể mọi việc đư­ợc thuận lợi, cần sớm làm tốt công tác truyền thông, nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về thảm họa của biến đổi khí hậu toàn cầu dựa trên cơ sở cộng đồng, vì công việc chỉ thành công khi đ­ược đa số nhân dân thực hiện một cách tự giác, có hiểu biết và có trách nhiệm.
Nguồn: http://www.bulletin.vnu.edu.vn

Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482