DÂY LƯNG & VÍ DA CHẤT LƯỢNG CAO THƯƠNG HIỆU H2


CƠ SỞ DỮ LIỆU VỀ THỐNG KÊ - THÔNG TIN AN NINH LƯƠNG THỰC


Trồng trọt Cultivation
Chăn nuôi Livestock
Lâm nghiệp Forestry
Thông tin về khí tượng - Thời tiết Weather
Xuất nhập khẩu nông sản Import - Export
Thông tin về sử dụng đất Land use
Xoá đói giảm nghèo Poverty Reduction
Thông tin an ninh dinh dưỡng Nutrition
STATISTICS AND FOOD SECURITY DATA BASES 
Theo bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Biến Đổi Khí Hậu Và Năng Lượng


 Biến Đổi Khí Hậu Và Năng Lượng

Số trang: 328
Hình thức bìa: Bìa mềm
Kích thước: 16x24 cm Ngày xuất bản: 09 - 2009
Trọng lượng: 550 gram Số lần xem: 1141
(Chi tiết về phí vận chuyển)  
Giá bìa: 79.000 VNĐ  
Giá bán: 79.000 VNĐ  
Giảm giá: (0%)

TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI LÂM NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG GIẢM THIỂU VÀ THÍCH ỨNG


Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù có vị trí kinh tế, xã hội và môi trường rất quan trọng, là một phần không thể tách rời khỏi nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam. Hiện tại ngành lâm nghiệp quản lý sử dụng hơn một nửa lãnh thổ đất nước, liên quan trực tiếp đến đời sống của khoảng 25 triệu đồng bào, trong đó có 7 triệu đồng bào dân tộc thiểu số. Nói đến lâm nghiệp là nói đến rừng và nghề rừng. Lâm nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các khâu, từ trồng, chăm sóc, bảo vệ, xúc tiến tái sinh tự nhiên đến khai thác, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vv…Rừng là yếu tố cơ bản của môi trường tự nhiên, góp
phần quan trọng vào phát triển bền vững đất nước, vào sự tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và an ninh quốc phòng. Rừng đóng một vai trò không thể thiếu trong việc cung cấp các sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và xã hội, bảo vệ môi trường sống, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý bền vững cảnh quan và góp
phần bảo vệ an ninh quốc gia, tạo việc làm cho nhân dân, nhất là người dân miền núi, góp phần xoá đói giảm nghèo. Nếu như trong sự nghiệp bảo vệ đất nước, rừng là căn cứ địa kháng chiến, là vành đai bảo vệ biên giới, thì trong công cuộc xây dựng đất nước, rừng là vành đai phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, là tư liệu sản xuất chính trong lâm nghiệp, là công cụ chống ô nhiễm, bảo vệ môi sinh, là nguồn sinh thủy cho sản xuất và phục vụ đời sống.
Tài liệu

Lâm nghiệp và biến đổi khí hậu ở Việt Nam - Các thách thức, cơ hội và yêu cầu vốn


Các nội dung chính
Các yêu cầu thích ứng
Các phương án giảm thiểu
Các cơ hội cho Việt Nam trong bối cảnh
tài chính quốc tế cho biến đổi khí hậu
Tài liệu 

Physical Principles of Remote Sensing

  • Author: W. G. Rees
  • Publisher: Cambridge University Press
  • ISBN: 0521669480
  • ISBN13: 9780521669481
  • Page: 360
  • Language: English 

Substantially revised and expanded, this new edition includes a discussion of the radiative transfer equation, atmospheric sounding techniques and interferometric radar, an expanded list of problems (with solutions), and a discussion of the Global Positioning System (GPS). This book forms the basis of an introductory course in remote sensing. The main readership will be students and researchers in remote sensing, geography, cartography, surveying, meteorology, earth sciences and environmental sciences generally, as well as physicists, mathematicians and engineers.
Reviews
I found this book to be an excellent supplement to a general remote sensing course. It doesn't go incredibly far into details on any one topic of remote sensing, but provides a broad exposure to the fundamental theories and equations pertaining to important remote sensing topics.
Reviews
I used this book during my studies, but also now I use it often to check some things. The book is written generally - it does not go too deeply into detail - but is still a good reference for a lot of questions.
Reviews
I was fortunate enough to attend Gareth Rees' course, for which this book was initially written. As a student that always needed to get things through the brain more than once for it to stick, I can thoroughly recommend this book. It is well written, handles the mathematical treatments with enough detail to be easy to follow (but it does assume a fairly strong undergraduate mathematical background). Excellent description of Synthetic Aperture Radar techniques and written in a style that makes it quite fresh for what is fundamentally a course text book.
Reviews
Physical Principles of Remote Sensing
by W. G. Rees, Gareth Rees

is one of the first books that should be chased after by anyone planning to adapt the theory of LAND STUDIES to his/her future. Required as an intorductory textbook for many university level programs, THE PRINCIPLES OF REMOTE SENSING prepares the mind for future training in earth sciences.

Ms. Carmen R. Cross
Reviews
The book provides simple explainations with just enough equations to help understand concepts in electromagnetics, radiation interaction with atmosphere, Microwave-visible-IR systems, scattering, satellites, antennas and data processing. Great for reference or introductory course in remote sensing.
Download links:
rapidshare.com
rapidshare.com
filesonic.com
depositfiles.com
turbobit.net
rapidshare.de

Forestry and Climate Change

Climate change is one of the greatest challenges we face - both in terms of its potential impact on our societies and the earth, and the scale of international co-operation that is needed to confront it. Emerging as a component of the international dialogue on the environment and climate, the role of forests in influencing earth systems will need to be assessed. Drawing together perspectives from researchers and policy makers, this book explores how forests will interact with the physical and natural world, and with human society as the climate changes. Also considered is how the world's forests can be managed to contribute to the mitigation of climate change and to maximize the full range of economic and non-market benefits. Providing an examination of the science, a detailed consideration of the sciencepolicy interface and the international frameworks and conventions, this book is valuable reading for all those interested in sustainable forest management, climate change and the associated environmental sciences.


Download links:
files-express.com
uploading.com
depositfiles

Planning for climate change: strategies for mitigation and adaptation for spatial planners

Climate change: debating America's policy options

Tài nguyên nước mặt Việt Nam và những thách thức trong tương lai

Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển. Nguồn nước mặt, thường được gọi là tài nguyên nước mặt, tồn tại thường xuyên hay không thường xuyên trong các thuỷ vực ở trên mặt đất như: sông ngòi, hồ tự nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng và băng tuyết. Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất, được sử dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất. Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nói riêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia.
Trong bài báo này xin giới thiệu về tiềm năng tài nguyên nước mặt của nước ta và những thách thức của nó trong tương lai.
Tài nguyên nước mặt

Tài nguyên nước mặt (dòng chảy sông ngòi) của một vùng lãnh thổ hay một quốc gia là tổng của lượng dòng chảy sông ngòi từ ngoài vùng chảy vào và lượng dòng chảy được sinh ra trong vùng (dòng chảy nội địa).

Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40%.

Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.

Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng 126,5 km3 (14,9%), hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20 km3 (2,3 - 2,6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%).

Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là phần lớn nước sông (khoảng 60%) lại được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81,3 km3) chiếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%).
Những thách thức trong tương lai

Sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội trong thế kỷ 21 sẽ làm gia tăng mạnh nhu cầu dùng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Tài nguyên nước (xét cả về lượng và chất) liệu có đảm bảo cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội trong hiện tại và tương lai của nước ta hay không? Đây là một vấn đề lớn cần được quan tâm. Dưới đây xin nêu một số thách thức chủ yếu.

Trước hết, sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất. Đồng thời, tác động của con người đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng sẽ ngày càng mạnh mẽ, có thể dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng.

Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vào khoảng năm 2020. Tuy mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu Á (3970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước hiện nay của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với các hệ thống sông Hồng, Thái Bình, Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng Nai. Theo Hội Nước Quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho một người trong một năm dưới 4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nếu nhỏ hơn 2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước, như vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó.

Hơn nữa, nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình toàn năm.
Nhu cầu dùng nước tăng lên mạnh mẽ

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và sự gia tăng dân số, nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt, sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng của cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm tương ứng với tần suất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào khoảng năm 2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn, từ 41 km3 (chiếm 89,8%) năm 1985, tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 năm 2000 (chiếm 85%). Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn năm 2000 đạt tới 70,7 km3, chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Vào khoảng năm 2010, tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn có thể tới 90 km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần suất 75%. Đặc biệt, ở không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng lượng nước có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất.
Cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước.

Như trên đã nêu, sự gia tăng dân số và các hoạt động của con người sẽ ngày càng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng. Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi vào các thuỷ vực... đã và sẽ gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng càng khốc liệt. Nguy cơ thiếu nước sạch càng trầm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít.
Tác động của biến đối khí hậu toàn cầu

Sự biến đổi của khí hậu toàn cầu đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Theo đánh giá bước đầu, vào khoảng năm 2070, với kịch bản nhiệt độ không khí tăng thêm 2,5 - 4,50C, lượng dòng chảy sông ngòi cũng sẽ biến đổi tuỳ theo mức độ biến đổi của lượng mưa, nếu lượng mưa giảm 10% thì dòng chảy năm có thể giảm 17 - 53% đối với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 2,50C và giảm 26 - 90% với kịch bản nhiệt độ không khí tăng 4,50C. Mức độ biến đổi mạnh nhất xẩy ra ở Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ.

Ngoài ra, trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao thêm 0,3 - 1,0 m và do đó nhiều vùng thấp ở đồng bằng sông Cửu Long, vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ và ven biển Trung Bộ sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu nước biển dâng 1 m, diện tích ngập lụt là 40.000 km2, chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, 1700 km2 vùng đất ngập nước cũng bị đe doạ và 17 triệu người sẽ chịu hậu quả của lũ lụt.

Cuối cùng, sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước cũng như sự khan hiếm nguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài nguyên nước. Cũng vì lẽ đó mà người ta cho rằng, khủng hoảng nước hiện nay không chỉ do nước quá ít không đủ để thoả mãn nhu cầu của con người mà còn do sự quản lý nguồn nước quá kém gây nên hàng tỷ người và môi trường gánh chịu hậu quả.

Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc công bố ngày 5/3/2003 được thảo luận tại diễn đàn thế giới lần thứ 3 về nước, tổ chức tại Kyoto (Nhật Bản) từ ngày 16-23/3/2003 cho thấy, nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt một cách đáng lo ngại do sự bùng nổ dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường cùng với nhiệt độ trái đất nóng lên sẽ làm mất đi khoảng 1/3 nguồn nước sử dụng trong 20 năm tới. Hiện nay đã có khoảng 12.000 km3 nước sạch trên thế giới bị ô nhiễm, hàng năm có hơn 2,2 triệu người chết do các căn bệnh có liên quan đến nguồn nước bị ô nhiễm và điều kiện vệ sinh nghèo nàn.

Tóm lại, khan hiếm và thiếu nước là mối đe doạ rất nghiêm trọng đối với sự tồn tại của con người trong tương lai. Vì lẽ đó, cần có các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên nước. Trước hết, cần phải củng cố, bổ sung mạng lưới điều tra quan trắc tài nguyên nước, bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất, cả lượng và chất, hình thành mạng lưới quan trắc điều tra tài nguyên nước thống nhất trong phạm vi cả nước, tiến hành kiểm kê đánh giá tài nguyên nước trong các lưu vực sông, các vùng và toàn lãnh thổ. Trên cơ sở kiểm kê đánh giá tài nguyên nước và cân bằng kinh tế nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia nói chung và cho các lưu vực nói riêng. Cần thực hiện nghiêm chỉnh Luật Tài nguyên Nước và đẩy mạnh hoạt động của Hội đồng Tài nguyên Nước Quốc gia và Ban quản lý lưu vực các sông.

PGS, TS Trần Thanh Xuân .
Viện Khí tượng Thuỷ văn - Bộ Tài nguyên và Môi trường

Hệ thống GIS quản lý công tác Thủy lợi

Hệ thống thông tin địa lý GIS quản lý công tác thủy lợi do Trung tâm Công nghệ phần mềm Thủy lợi, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam nghiên cứu, xây dựng và phát triển nhằm phục vụ những yêu cầu của quản lý công tác thuỷ lợi

Hệ thống vận hành trên mạng Internet, mạng LAN, điều này cho phép người dùng (là lãnh đạo, cán bộ ở các cấp, những tập thể, cá nhân quan tâm đến công tác thuỷ lợi) ở các vị trí địa lý khác nhau cùng có thể đăng nhập vào hệ thống và sử dụng các chức năng của hệ thống như: Cập nhật thông tin về công tác thuỷ lợi như thông tin về các công trình, thông tin về tình hình mùa vụ, cơ cấu cây trồng, lịch gieo trồng, lịch tưới, tiêu, lịch vận hành các công trình, thông tin về tình hình hạn hán, ngập úng; Truy vấn thông tin, thiết lập báo cáo thống kê, tổng hợp; Xây dựng các loại bản đồ chuyên đề khác nhau.

1. Lĩnh vực ứng dụng hệ thống
      
  Lĩnh vực thuỷ lợi.
Hệ thống là công cụ để quản lý các công trình thuỷ lợi, quản lý các thông số kỹ thuật theo thiết kế và thông số kỹ thuật theo hiện trạng công trình, lịch sử duy tu công trình, theo dõi thời gian gieo trồng, cơ cấu cây trồng, lịch tưới và lịch tiêu, giám sát tình hình hạn hán và ngập úng.


2. Các tính năng của Hệ thống GIS quản lý công tác thủy lợi: Quản lý:  Các lớp bản đồ hành chính, bản đồ thuỷ hệ, bản đồ giao thông, bản đồ đất, bản đồ dân cư, các lớp bản đồ các công trình thuỷ lợi, dữ liệu thuộc tính của các đối tượng địa lý thuộc các lớp bản đồ nói trên liên quan đến công tác thuỷ lợi; Hệ thống GIS quản lý công tác thuỷ lợi có các chức năng chính: 
Hình vẽ 1. Quản lý các lớp bản đồ
Hình vẽ 2. Cập nhật thông tin bảng các loại cây trồng, mã sử dụng đất
Cập nhật, lưu trữ, chia sẻ dữ liệu về cơ cấu cây trồng trong từng mùa vụ, thời gian gieo trồng, lịch tưới, lịch tiêu, các thông số của các công trình thuỷ lợi, lịch sử duy tu các công trình;  

Cập nhật, lưu trữ, chia sẻ thông tin về tình hình hạn hán hay ngập úng khi có thiên tai xảy ra: Các thửa ruộng bị hạn hán hay ngập úng, cấp độ hạn hán/ngập úng. Người dùng ở các xã hay các huyện chỉ cần đánh dấu các thửa ruộng trên bản đồ, chọn cấp độ thiên tai và bấm vào phím cập nhật là thông tin được đẩy vào cơ sở dữ liệu trên máy chủ.

Hình vẽ 3. Đánh dấu và cập nhật thông tin về các thửa ruộng trên địa bàn xã Lưu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
Kết xuất các loại báo cáo tổng hợp, thống kê về các công trình thuỷ lợi, về tình hình thời vụ, nhu cầu tưới/tiêu, tình hình hạn hán hay ngập úng.

Hình vẽ 4. Lập báo cáo thống kê về cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã Lưu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

Hình vẽ 5. Kết quả lập báo cáo

Xây dựng các loại bản đồ hiện trạng: bản đồ phân bố cây trồng, bản đồ gieo trồng, bản đồ tưới/tiêu, bản đồ ngập úng/hạn hán.
Hình vẽ 6. Xây dựng bản đồ phân bố cây trồng

Biên tập bổ sung các công trình thuỷ lợi vào bản đồ trong cơ sở dữ liệu.
Hình vẽ 7. Biên tập, bổ sung trạm bơm tưới mới trên bản đồ
 

Chia sẻ thông tin trên mạng Internet; Giao diện bằng tiếng Việt, dễ đào tạo, dễ sử dụng; Giá chuyển giao rẻ, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
    Hệ thống GIS quản lý công tác thủy lợi đã được triển khai, ứng dụng thí điểm cho 3 huyện là Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa của tỉnh Thanh Hóa. Năm 2009, hệ thống tiếp tục được nâng cấp, hoàn thiện và được triển khai ứng dụng vào thực tiễn sản xuất của Chi Cục Quản lý nước và công trình thủy lợi Hưng Yên.

    Khả năng Sử dụng ảnh vệ tinh để thành lập bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước ở Việt Nam


    Từ đầu năm 1989 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 50 trên Thế giới và là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á ký công ước quốc tế về các vùng đất ngập nước (Công ước Ramsar). Đất ngập nước của Việt Nam rất đa dạng, chiếm diện tích lớn và là một dạng tài nguyên quan trọng. Tuy nhiên việc quản lý, khai thác và bảo vệ hệ sinh thái này vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Nghiên cứu khả năng sử dụng ảnh vệ tinh để thành lập bản đồ phân bố các loại hình thể đất ngập nước ở Việt Nam để có kiến nghị và đề xuất các phương pháp quản lý và khai thác hợp lý là rất cần thiết.
    Đất ngập nước là một hệ sinh thái rất đặc thù, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Trước hết đây là vùng có năng suất sinh học cao, cung cấp nguồn lương thực và thực phẩm chủ yếu để nuôi sống con người; Đồng thời cũng là vùng đất có chức năng bảo vệ môi trường cơ bản như điều tiết nguồn nước ngầm, khống chế lũ lụt, bảo vệ bờ biển, ổn định vi khí hậu...
    Ở nước ta, đất ngập nước có phân bố ở nhiều nơi và ở các vùng khác nhau. Nhưng tập trung hơn cả vẫn là ở các khu vực đồng bằng và dải ven biển với nhiều loại hình và rất phong phú về các đặc trưng sinh thái. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một tài liệu kiểm kê nào có thể đưa ra được những thông tin đầy đủ và hệ thống về hiện trạng phân bố của các loại đất này. Quan điểm về các chỉ tiêu phân loại vẫn còn có những điểm chưa được thống nhất.
    Với khả năng thông tin của ảnh vệ tinh, đặc biệt là khả năng xác định được các đối tượng trên mặt phủ có độ chính xác và tính khách quan cao, cho phép có thể thành lập được bản đồ về phân bố các loại hình đất ngập nước trong phạm vi các cấp lãnh thổ khác nhau- từ cấp khu vực, cấp vùng đến toàn quốc.

    Các loại ảnh vệ tinh hiện có

    Cho đến thời điểm hiện nay, ảnh vệ tinh có nhiều loại và đã có nhiều thế hệ. Song được sử dụng phổ biến hơn cả vẫn là các ảnh vệ tinh tài nguyên chụp ở dải phổ nhìn thấy và cận hồng ngoại; Như hệ thống ảnh Landsat của Mỹ, ảnh SPOT của Pháp, ảnh KFA-1000, MK-4 và KATE-200 của Nga... Các loại ảnh này có thể được dùng trong các lĩnh vực về điều tra tài nguyên, giám sát môi trường; Đặc biệt được sử dụng để thành lập ra các bản đồ về hiện trạng (hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng rừng, hiện trạng lớp phủ, hiện trạng môi trường, bản đồ địa hình...) và các bản đồ biến động (biến động diện tích rừng, biến động bờ sông-bờ biển, biến động lớp phủ...). Có thể nói rằng, ảnh vệ tinh là tư liệu rất tốt để nghiên cứu các đối tượng trên bề mặt đất. Hiện nay đã có những loại ảnh có độ phân giải hình học khác nhau, cho phép xác định nhiều đối tượng và hiện tượng ở những mức độ chi tiết cũng khác nhau. ảnh được chụp với diện rộng và ở tầm cao nên có thể ghi nhận được nhiều đối tượng, hiện tượng trong một phạm vi lớn ở cùng một thời điểm và có khả năng tự tổng hợp hoá tự nhiên. Để xác định phạm vi phân bố các loại hình đất ngập nước, có thể coi ảnh vệ tinh là tư liệu và công cụ hữu hiệu.

    Khả năng đáp ứng của ảnh vệ tinh đối với nội dung của bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước

    Theo hệ thống phân loại của Công ước Ramsar, đối chiếu với điều kiện thực tế ở Việt Nam, bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước có thể gồm các nội dung sau đây:

    Đất ngập nước nước mặn

    Thuộc biển: Thuỷ vực nông bao gồm cả vịnh và eo biển; Thảm thực vật thuỷ sinh (rong, có biển); Rạn san hô; Bờ biển đá gồm vách đá và bờ đá; Bãi đá, bãi cát, bãi bùn; Bãi có rừng ngập mặn; Bãi có cỏ, cói, lau, sậy; Đầm lầy mặn
    Thuộc cửa sông: Nước vùng cửa sông; Bãi cát, bãi bùn; Bãi có cỏ, cói, lau, sậy; Bãi có rừng ngập mặn, dừa nước; Bãi có rừng ngập mặn, dừa nước; Đầm lầy mặn
    Thuộc đầm phá, hồ nước mặn: Đầm phá nước mặn, nước lợ; Hồ nước mặn, nước lợ

    Đất ngập nước nước ngọt.

    Thuộc sông suối, kênh rạch: Sông suối, kênh rạch có nước thường xuyên, thác nước; Vùng Châu thổ sông; Sông suối, kênh rạch có nước theo mùa; Đồng bằng ngập nước sông theo mùa.
    Thuộc ao hồ: Ao hồ có nước thường xuyên; Ao hồ có nước theo mùa; Vùng đất trũng ven ao hồ ngập nước theo mùa
    Thuộc đầm lầy: Đầm lầy nước ngọt thường xuyên; Đầm lầy nước ngọt theo mùa; Đất than bùn; Suối phun nước ngọt và đất ngập nước ở các ô trũng trên núi; Đầm lầy có rừng cây chịu ngập úng (rừng tràm); Đầm lầy có rừng cây bụi

    Đất ngập nước nhân tạo

    Đất nuôi trồng thuỷ sản: Đất nuôi trồng thuỷ sản ở vùng bãi bồi cửa sông, ven biển; Đất nuôi trồng thuỷ sản ở vùng rừng ngập mặn; Đất nuôi trồng thuỷ sản ở đất ruộng lúa; Đất nuôi trồng thuỷ sản trên cát; Nuôi ở hồ ao, sông cụt, đấu, thùng đào
    Đất canh tác nông nghiệp: Đất trồng lúa được tưới nước; Đất trồng lúa ở vùng ngập trũng
    Đất làm muối
    Đất công nghiệp: Khu vực khai thác, đào bới; Nơi xử lý nước thải
    Hồ chứa nước và hệ thống đập, kênh dẫn nước
    Với khả năng thông tin của ảnh vệ tinh, có thể đưa ra hai nhóm đối tượng có mức độ khai thác được trên ảnh như sau:
    - Nhóm các đối tượng dễ xác định được trên ảnh gồm: Thuỷ vực nông; Bãi có rừng ngập mặn, dừa nước; Bãi có cỏ, cói, lau sậy; Đầm lầy; Nước vùng cửa sông; Bãi, đầm, phá; Sông suối; Kênh rạch, ao hồ; Vùng nuôi trồng thuỷ sản; Rừng tràm; Đất canh tác nông nghiệp; Đất làm muối; Khu vực khai thác, đào bới; Nơi xử lý nước thải; Hồ chứa nước; Đập và kênh dẫn nước.
    - Nhóm các đối tượng xác định được trên ảnh nhưng phải có tài liệu khác hỗ trợ gồm: Đầm lầy phân thành đầm lầy mặn, ngọt; Sông ngòi, hồ ao có nước thường xuyên hay theo mùa; Đất than bùn; Rạn san hô; Bờ biển đá, vách đá; Bãi ven bờ phân ra bãi đá, bãi cát, bãi bùn; Đầm phá, hồ là loại nước mặn, nước lợ. Thảm thực vật thuỷ sinh.
    Thông tin khai thác được trên ảnh vệ tinh phụ thuộc rất nhiều vào độ phân giải của ảnh (độ phân giải hình học, độ phân giải phổ). Vì vậy khi xây dựng các chỉ tiêu phân loại cũng như chọn tỷ lệ bản đồ, việc đầu tiên là phải đánh giá tư liệu ảnh. Với ảnh vệ tinh độ phân giải cao (5-20m) và siêu cao (dưới 5m) cho phép thành lập các bản đồ đất ngập nước ở tỷ lệ 1:10.000 và nhỏ hơn. Còn đối với ảnh vệ tinh độ phân giải trung bình (trên 20m) chỉ có thể thành lập được các bản đồ ở tỷ lệ 1:100.000 và nhỏ hơn.

    Khả năng giải đoán các đối tượng là nội dung bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước trên ảnh vệ tinh

    Giải đoán ảnh hay còn gọi là điều vẽ, suy giải ảnh là việc “đọc” ảnh thông qua các dấu hiệu trực tiếp có trên ảnh hoặc các dấu hiệu gián tiếp (dấu hiệu chỉ định) để suy diễn. Các dấu hiệu trực tiếp bao gồm dấu hiệu về màu sắc, cấu trúc, diện mạo và mật độ ảnh. Các dấu hiệu gián tiếp là các quy luật, đặc điểm phân bố, điều kiện sinh thái về các mối quan hệ tương hỗ giữa các đối tượng.
    Theo nội dung của bản đồ phân bố các loại hình đất ngập nước, các mẫu giải đoán ảnh (cụ thể là ảnh vệ tinh SPOT) cho một số đối tượng được mô tả như sau:
    - Thuỷ vực nông, thực chất đây là vùng biển ven bờ có độ sâu dưới triều khoảng 3-5m. Trên ảnh có thể xác định nhờ sắc ảnh có màu lơ, lơ đục; Cấu trúc hạt mịn.
    - Rạn san hô là đối tượng tương đối khó xác định trực tiếp được trên ảnh mà phải dựa vào dấu hiệu gián tiếp (sinh thái-chỉ định) và dựa vào mô hình tương tự để ngoại suy. Tuy nhiên, do đặc điểm chung của rạn san hô ở Việt Nam thường có dạng cấu trúc rạn viền bờ, nên với các đảo trên ảnh hoặc đường bờ biển có viền trắng bao quanh.
    - Vách đá, bờ đá có phân bố ở rìa các khối núi đá sát biển, thường là ở các vùng biển mở. Quan sát trên ảnh thấy đường bờ biển loại này là các đoạn thẳng, dưới chân bờ không có bãi.
    - Bãi ngập ven bờ (bãi đá, bãi cát, bãi bùn) là phần bãi chỉ lộ ra khi triều kiệt. ở vùng cửa sông hoặc chỗ đoạn bờ biển kín có thể mở rộng thành vùng lồi ra phía biển. Trên ảnh thường có màu xanh lơ đục chạy dọc thành vệt theo bãi.
    - Bãi bồi ven sông, ven biển là các bãi được hình thành của quá trình bồi tụ tự nhiên. Kết cấu bề mặt thường là bùn, cát hoặc cát-bùn. Các bãi này thường đã ổn định, nhiều nơi đã được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng ngập mặn, trồng cói. Trên ảnh bãi bồi chưa được sử dụng có màu lơ xám, xám, xám nâu; Cấu trúc hạt mịn.
    - Bãi cát, cồn cát có phân bố ở dải ven biển, ven sông. Trên ảnh có màu trắng, trắng xám hoặc trắng phớt xanh lơ (phụ thuộc vào độ ẩm và thực phủ trên cát); Cấu trúc hạt mịn.
    - Rừng ngập mặn, dừa nước là đối tượng dễ xác định được trên ảnh, đặc biệt là khi các loại cây này có tán che phủ lớn. Trên ảnh có sắc màu đỏ, đỏ hồng hoặc nâu đỏ; Cấu trúc hạt mịn.
    - Rừng tràm phát triển trên vùng đất chua phèn, thường bị ngập nước nhất là vào mùa mưa và ở một số vùng có ở các ô trũng nước ngọt, phía sau các đồi cát ven biển, ven sông. Trên ảnh có màu đỏ, nâu đỏ; Diện mạo ô vệt; Cấu trúc hạt mịn.
    - Vùng cửa sông là khu vực tiếp giáp giữa sông và biển. Trên ảnh rất dễ xác định thông qua hình ảnh như màu sắc, hình thù. Tuy nhiên không phải vùng cửa sông nào cũng có màu xanh đậm mà có khi là màu xanh lam, lam nhạt do ảnh hưởng của dòng phù sa.
    - Đầm, phá được tạo bởi các doi cát chạy song song với bờ biển rồi khép kín lại, chỉ để thông với biển bằng các cửa lạch nhỏ. Do đặc điểm phân bố và hình dạng rất đặc trưng nên có thể xác định được một cách dễ dàng các đầm, phá trên ảnh.
    - Đầm lầy là các vùng đất thấp, có thể bị ngập nước theo mùa. Đầm lầy có hai loại: Đầm lầy mặn có ở vùng ven biển do ảnh hưởng của nước biển và đầm lầy ngọt phân bố sâu ở trong đất liền, thường gắn với vùng trũng ao, hồ, sông cụt tù đọng và ở vùng ven sông. Trên bề mặt có thể có thực phủ ở dạng cây bụi, cỏ, lau sậy. Hình ảnh trên ảnh có dạng loang lổ, cấu trúc ô vệt, có màu nâu, nâu xám, xanh xám.
    - Bãi cỏ ngập nước gặp ở vùng bãi nông bằng phẳng ven biển, mấp mé ở mặt nước triều thấp. Trên ảnh có màu nâu, nâu lơ.
    - Ruộng muối là diện tích đất ở vùng ven biển được sử dụng vào sản xuất muối. Trên ảnh rất dễ xác định vì ruộng muối có cấu trúc ô đều đặn với các vệt màu đốm trắng và các sọc xanh, xanh xám là kênh và rạch dẫn nước biển vào.
    - Vùng nuôi trồng thuỷ sản bao gồm các hồ ao, đầm, phá, thùng đào, sông cụt, ruộng trũng và kênh rạch được sử dụng để nuôi trồng các loại thuỷ sản. Trong thực tế các vùng đất được cải tạo có thể chỉ chuyên nuôi tôm, cá... hoặc có khi lại là vùng rừng ngập mặn hoặc ruộng lúa một vụ kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản. Có thể nhận biết được loại đất này trên ảnh thông qua diện mạo ô thửa, cấu trúc hạt mịn đều hoặc ô vệt (đối với vùng chuyên nuôi); Còn loại có diện mạo tuyến sọc với màu sắc xen kẽ nhau đó là vùng nuôi trồng thuỷ sản trong vùng rừng ngập mặn.
    - Ruộng cói, bàng phân bố ở vùng nước lợ, nước mặn ở chân ruộng trũng hoặc bãi bồi vùng cửa sông ven biển. Loại đất này trên ảnh có diện mạo ô thửa lớn được tạo thành bởi các bờ vùng, đê bao hoặc tạo thành từng vạt lớn dọc theo bãi bồi ven sông, ven biển. Màu sắc phụ thuộc vào tán che của cây cói, bàng, có thể ở dạng màu đỏ, đỏ sẫm hoặc nâu, nâu lơ; Cấu trúc hạt mịn.
    - Đất canh tác ngập nước. Đây là vùng đất bằng phẳng ở đồng bằng, lòng chảo, thung lũng trên chân ruộng trũng và thấp chuyên để trồng lúa. Hình ảnh loại đất này có thể phân biệt dễ dàng thông qua diện mạo ô thửa do hệ thống kênh rạch, bờ vùng bờ thửa tạo nên. Màu sắc phụ thuộc vào trạng thái của cây trồng. Sau thu hoạch hoặc mới gieo cấy có màu lơ, lơ xám. Thời kỳ lúa tươi tốt có màu đỏ, đỏ sẫm; Cấu trúc hạt mịn.
    - Đất ngập nước từng mùa có ở vùng đất trũng. Vào mùa mưa lũ, nước được dồn đọng ở đây. Việc xác định loại đất này trên ảnh hoàn toàn phụ thuộc vào thời điểm chụp ảnh. Vì vậy phải sử dụng kết hợp với bản đồ địa hình để xác định đối tượng này.
    - Hồ ao tự nhiên có hai loại: Có nước thường xuyên và có nước từng mùa. Trên ảnh có thể xác định được các đối tượng này thông qua hình ảnh về màu sắc và hình dạng.
    - Sông suối cũng có 2 loại: Có nước thường xuyên và có nước theo mùa. Giống như hồ ao tự nhiên có thể xác định được dễ dàng trên ảnh. Tuy nhiên để phân biệt có nước thường xuyên hay có nước từng mùa phải có ảnh chụp ở 2 thời điểm ở mùa mưa và mùa khô, kết hợp với điều tra thực địa.
    - Kênh rạch là đối tượng dễ phát hiện trên ảnh, bởi có hình dạng là các tuyến đường thẳng màu lơ, lơ đậm.
    - Khu vực khai thác, đào bới. Đây có thể là vùng khai thác khoáng sản, khai thác đá, khai thác đất hoặc vùng được đào bới phục vụ cho mục đích khác. Trên ảnh là những vệt loang lổ nhiều màu phụ thuộc vào loại đất đá được đào bới. Màu đen, xám thẫm, xám là vùng khai thác than lộ thiên. Màu trắng, xám sáng, lơ xám là vùng khai thác đá. Màu trắng, lơ là vùng khai thác đất...
    - Nơi xử lý nước thải có phân bố chủ yếu ở các khu công nghiệp hoặc khu dân cư đông đúc. Do diện tích nhỏ, nên khó phát hiện được trên ảnh, trừ những hồ chứa có diện tích lớn.
    - Hồ chứa nước là hồ nhân tạo phục vụ để chứa nước cho mục đích thuỷ lợi, dân sinh và thuỷ điện. Đây là đối tượng rất dễ phát hiện được trên ảnh nhờ hình dạng, màu sắc và đặc biệt là hình ảnh của đập ngăn nước có dạng thẳng nằm ở phía hạ lưu của hồ.

    Một vài nhận xét

    Ở Việt Nam hiện nay đã có khá nhiều ảnh vệ tinh, có loại đã phủ trùm toàn quốc. Công nghệ xử lý và khai thác ảnh đã có nhiều tiến bộ, nhất là đã có những thiết bị và phần mềm chuyên dụng khá hiện đại. Các loại hình đất ngập nước thực chất cũng chỉ là những đối tượng của lớp phủ bề mặt, được hệ thống và sắp xếp theo những chuẩn mực nhất định. Vì vậy, khả năng sử dụng ảnh vệ tinh để thành lập loại bản đồ này là hoàn toàn có thể thực hiện được. Hơn thế nữa, khi phân tích ảnh còn có thể tìm ra được các quy luật và đặc điểm phân bố, ghi nhận hiện trạng và biến động của các loại đất này cũng như có thể tiến hành nghiên cứu về các quan hệ tương hỗ giữa chúng với nhau và giữa hệ sinh thái đất ngập nước với các hệ sinh thái tự nhiên khác.

    Nắn bản đồ địa hình 1:50000 vào Google Earth

    Nguồn Tài nguyên mạng giờ đã cho phép khai thác và sử dụng những mảnh bản đồ UTM do Nha Địa dư Sài Gòn và quân đội Mỹ sản xuất, dùng trong chiến tranh trước đây. Nguồn do các cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam đăng tải. Họ ghi dấu các vị trí của đơn vị lính Mỹ đóng quân tại các vùng đó.Dữ liệu này, ngày xưa là "mật", có mảnh "tối mật". Nhưng giờ đây, khi Google Earth loát ảnh vệ tinh mới hơn, độ phân giải cao hơn nhiều, thì loại bản đồ cũ cách 30-40 năm này...đã gần như bị ...hóa giải -hết hạn mật lâu rồi. Mặc dù cũ vậy, nhưng các yếu tố địa hình tự nhiên, đặc biệt là dáng địa hình, giao thông...trên bản đồ thì hầu như ...thay đổi không đáng kể trên loại tỉ lệ 1:50.000 này! Đó là nguồn dữ liệu ...quý.
    Để phục vụ các mục đích ...học tập, tham khảo, nghiên cứu...chúng ta có thể sài chúng vô tư rồi.
    Giới thiệu với bạn quan tâm, một Quy trình (vắn tắt) để ...sài chúng như sau:
    1) Vào trang có loát các loại bản đồ này, tìm đến mảnh cần, tải về PC. Địa chỉ tải bản đồ, có thể tải tại trang này: http://www.rjsmith.com/topo_map.html.
    Ví dụ: đây là một phần của mảnh bản đồ khu vực Buôn Ma Thuột, link từ trang nói trên:
    Buon Ma Thuot
    2) Sử dụng phần mềm Global Mapper(V10 trở lên) để nắn ảnh vào hệ tọa độ của loại này: Chọn Hệ tọa độ UTM, múi 48,49(tùy mảnh), Datum: Indian1975. Kinh tuyến trục 105, 111(tùy mảnh).....
    3) Khi nắn xong , bản đồ này sẽ hiển thị trong hệ tọa độ UTM, cần chuyển sang hệ tọa độ Lat/lon WGS84 trước khi xuất sang GE(cho ăn chắc).
    4) Vào Menu File /Export raster and elevation/KML, KMZ...và bấm OK.
    Ghi tên file lại, vào GE mở ra, vậy là xong!
    Có thể xem lại trong các hình minh họa dưới, cho ...dễ làm.
    Xong rồi, bạn có thể...thưởng thức sản phẩm GIS đầu tay của mình, ổn đấy chứ?

    Hình 1: Mở ảnh (File/open chọn kiểu JPG, tìm đến file. OK. Chọn hệ tọa độ trong Select Projection và thiết lập đúng múi chiếu của mảnh bản đồ ấy:

    Hình 2: Hình nhỏ bên trái để chọn tương đối điểm nắn ảnh, bên phải để phóng to, chọn chính xác(bấm chuột trái, kéo). Nhập xong tọa độ, bấm vào Add GCP to list để ghi nhận điểm nắn. Càng nhiều điểm, càng chính xác hơn. Sai số điểm nắn đọc trong cột Error, nếu thấy ...sai quá lớn, phải xóa điểm ấy đi, chọn nắn lại. Khi nào sai số đều là 00 như hình dưới là được:


    Hình 3: Bản đồ nắn xong, hiển thị hệ tọa độ đã chọn(góc dưới , phải), có thể chuyển lưới chiếu Lat/lon WGS84(cho nó chuẩn) rồi vào lệnh xuất bản đồ ra file KML, KMZ:


    Hình 4: Khởi động GE, tìm đến và mở file vừa xuất. Phóng to, quan sát sự tiếp nối của các con đường, sông, suối...nếu chúng nối đúng, tự nhiên giữa bản đồ và ảnh vệ tinh như thế này, là đã nắn đúng:


    Vậy là bạn đã xong một quy trình, trong ...vài phút thôi(trước đây , để có được việc tương tự thì...ôi rồi, khỏi nói!).
    Nếu có file GPS bạn đã đo trong khu vực này, cho vào GE luôn, bạn sẽ thấy...khà khà, chính xác thế! Ta có thể tự làm bản đồ của mình được rồi!
    Chúc các bạn vui vẻ với trò nghich mới trong GE!

    Quan sát lỗ thủng khí quyển trái đất bằng vệ tinh Cluster

    Khí oxy liên tục thoát ra khỏi khí quyển trái đất và bay vào vũ trụ. Hiện nay, nhờ có bộ tứ vệ tinh của ESA, Cluster, chúng ta đã khám phá ra cơ chế vật lý của sự thoát ra ấy. Chính từ trường của Trái đất đã đẩy nhanh quá trình oxy bị thoát ra.
    Nghiên cứu mới này sử dụng những dữ liệu thu thập được bởi Cluster từ năm 2001 đến 2003. Trong suốt thời gian này, Cluster đã thu thập thông tin về những chùm tia điện chứng tỏ những nguyên tử oxy đã thoát ra từ vùng cực vào không gian. Cluster còn đo cả mức độ và hướng của từ trường Trái đất bất cứ khi nào những chùm tia xuất hiện. Ông Hans Nilsson, thuộc viện Vật lý Không gian, người đứng đầu nhóm các nhà khoa học phân tích những dữ liệu này, giải thích: “ Nó gần giống như hiệu ứng súng cao su”. Họ đã khám phá ra rằng những ion oxy được gia tốc bởi những sự thay đổi hướng của từ trường.
    Những dữ liệu từ cả 4 vệ tinh Cluster thực sự cần thiết cho việc phân tích bởi vì nó đưa ra cho các nhà thiên văn học cách để đo sức mạnh và hướng của từ trường qua một vùng rộng. Ông Han Nilsson cho biết: “Cluster cho phép chúng ta đo được độ dốc của từ trường và nhìn thấy nó đang thay đổi hướng theo thời gian như thế nào”.
    Dữ liệu của Cluster được lấy qua vùng cực từ những vệ tinh bay ở độ cao giữa 30000-64000 km ở bất cứ nơi đâu. Những phép đo bởi những vệ tinh trước đó vào năm 1980 và 1990 chỉ ra những ion thoát ra nhanh hơn và cao hơn những gì chúng ta quan sát được. Việc này đã đề xướng một số loại cơ chế gia tốc nào đó và một số khả năng xảy ra. Nhờ nghiên cứu Cluster mới này mà bây giờ cơ chế tính toán cho hầu hết gia tốc đã được xác định.
    Hiện nay, hiện tượng oxy thoát ra không có gì đáng lo. So với phần khí duy trì sự sống trên trái đất thì lượng thoát ra là không đáng kể. Tuy nhiên, trong tương lai xa, khi mà mặt trời bắt đầu nóng lên lúc tuổi già thì sự thay đổi cân bằng và lượng oxy thoát ra có thể trở nên quan trọng.
    Trong khi đó, Cluster vẫn sẽ tiếp tục thu thập dữ liệu và cung cấp những hiểu biết sâu xa về môi trường từ tính phức tạp bao quanh hành tinh của chúng ta.
    Theo_Sciencedaily

    Ứng dụng GIS và Viễn Thám (RS) trong dư báo sạt lở đất


    Nội dung đề tài: Trình bày về phương pháp lập bản đồ
    nhạy cảmsạt lở đất bằng cách sử dụng vệ tinh thămdò và
    hệ thống thông tin địa lý.
    Chuẩn bị:
     Vị trí phân tích và thực hiện mô hình: Một phần Himalaya Darjeeling
     Ảnh vệ tinh IRS
     Số liệu thực địa
     Các bản đồ thông tin khác đã có từ trước
     Các yếu tố địa hình quan trọng gây nên sạt lở
     Dữ liệu đại diện cho các điều kiện địa chất, địa hình, thủy văn
     Kết quả:
     Bản đồ các khu vực có nguy cơ lở đất theo bốnmức phân loại: Cao, Trung Bình, Thấp và RấtThấp

    Link
    Download

    Hệ thống GIS giám sát tình hình và dự báo sâu bệnh hại lúa

    Hệ thống GIS viễn thám giám sát tình hình và dự báo sâu bệnh hại lúa là sản phẩm của Trung tâm Công nghệ phần mềm Thủy Lợi, được xây dựng với mục đích hỗ trợ các nhà quản lý trong hoạt động giám sát tình hình sâu bệnh hại lúa, thực hiện dự báo ngắn hạn, trung hạn về diễn biến, phát triển của các loại sâu bệnh hại lúa trên diện tích treo trồng, giúp các nhà quản lý nắm bắt được tình hình sâu bệnh một cách nhanh chóng, từ đó có những chỉ đạo kịp thời, hợp lý đến nhà nông để ngăn chặn sự phát triển của sâu bệnh hại lúa, phục vụ sản xuất nông nghiệp, giúp bà con nông dân nâng cao năng suất gieo trồng, đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước.

     

    Hệ thống thông tin có cấu trúc của mô hình web trên nền tảng thông tin địa lý GIS, với khả năng chia sẻ thông tin rộng rãi trên mạng Internet, được xây dựng hoàn toàn dựa công nghệ phần mềm mã nguồn mở, cho phép giảm thiểu chi phí đầu tư mua công nghệ nền. Không cần phải cài đặt phần mềm chuyên dùng, người dùng chỉ cần trình duyệt Internet và mật khẩu là có thể đăng nhập vào hệ thống, cập nhật thông tin vào hệ thống, khai thác thông tin từ hệ thống.
    Bài toán dự báo sâu bệnh hại lúa được giải bằng phương pháp hệ chuyên gia kết hợp với phương pháp hồi quy đa biến. Việc theo dõ
    i tình hình sâu bệnh trên đồng ruộng được thực hiện dựa vào kết quả điều tra định kỳ về sâu bệnh của các trạm Bảo vệ thực vật tại các huyện cứ 7 ngày 1 lần và kết hợp với việc sử dụng ảnh vệ tinh.

    Hình vẽ 1. Giao diện của hệ thống Gis giám sát tình hình và dự báo sâu bệnh hại lúa.
    1. Lĩnh vực ứng dụng hệ thống 
    Phục vụ công tác giám sát tình hình và dự báo dịch hại mùa màng. Người dùng của hệ thống là lãnh đạo ngành NN&PTNT các cấp, Cục BVTV, các Chi Cục BVTV, các trạm BVTV, bà con nông dân, doanh nghiệp kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật.

    2. Các tính năng của hệ thống Gis giám sát tình hình và dự báo sâu bệnh hại lúa

    Hệ thống GIS giám sát tình hình và dự báo về sâu bệnh hại lúa có các tính năng:

    • Cập nhật, lưu trữ: Thông tin về các giống lúa và đặc tính sinh học liên quan đến công tác phòng trừ sâu bệnh; Thông tin về các loại sâu, bệnh và đặc tính sinh học của chúng, cách phòng trừ; Thông tin về các loại thiên địch...
    Hình vẽ 2. Cập nhật thông tin về sâu đục thân
    • Cập nhật, lưu trữ: Thông tin về mùa vụ như diện tích gieo cấy từng loại giống lúa thuộc các trà lúa sớm, chính vụ, muộn; Thời gian gieo cấy; Số liệu điều tra 7 ngày 1 lần về mật độ và tuổi sâu, bệnh, về diện tích lúa nhiễm sâu, bệnh ở các cấp nhẹ, trung bình, nặng, mất trắng; Diện tích bị thiên tai như hạn hán, ngập úng; Tuổi lúa tại thời điểm điều tra; Số liệu về thời tiết như nhiệt độ, độ ẩm, số giờ nắng trung bình; Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật...


    Hình vẽ 3. Truy vấn và cập nhật thông tin điều tra về mật độ sâu-bệnh ngày 07/08/2010 trên địa bàn Thanh Sơn-huyện Kiến Thụy-Hải Phòng

    • Kết xuất dữ liệu ra dạng báo cáo tổng hợp, dạng biểu đồ về tình hình dịch hại căn cứ vào số liệu được nhập từ các trạm BVTV. Xây dựng bản đồ hiện trạng phân bố diện tích lúa bị nhiễm sâu hoặc bệnh, bản đồ hiện trạng các giai đoạn sinh trưởng của cây lúa trên lãnh thổ xã, huyện, tỉnh hay cả nước.



    Hình vẽ 4. Lập báo cáo tổng hợp diện tích gieo cấy và giai đoạn sinh trưởng cây lúa đến ngày 08/09/2010 của toàn vùng

    • Sử dụng ảnh vệ tinh làm nguồn dữ liệu đầu vào để giải đoán, khoanh vùng khu vực lúa bị nhiễm sâu hoặc bệnh. Kết quả giải đoán được cập nhật, được lưu trữ trong hệ thống thông tin dưới dạng các lớp bản đồ phân bố diện tích nhiễm. Hệ thống GIS tự động tính toán, thiết lập các báo cáo tổng hợp diện tích lúa bị nhiễm bệnh ở các mức độ khác nhau theo lãnh thổ xã, huyện, tỉnh hay cả nước căn cứ vào kết quả giải đoán ảnh viễn thám.

    Hình vẽ 5. Bản đồ hiện trạng phân bố diện tích nhiễm sâu cuốn lá nhỏ ở các mức độ khác nhau vào ngày 10/08/2010 của vụ mùa năm 2010 trên địa bàn huyện Tiên Lãng-Hải Phòng

    • Dự báo ngắn hạn về tình hình sâu, bệnh hại lúa theo phương pháp hệ chuyên gia: Tuổi sâu phổ biến (chiếm tỷ lệ cao nhất) trong vòng 7-10 ngày tới, diện tích lúa bị nhiễm.

    Hình vẽ 6. Dự báo ngắn hạn và diễn giải chi tiết về diễn biến tình hình sâu, bệnh của Hải Phòng bằng phương pháp chuyên gia

    • Xây dựng hàm quan hệ giữa mật độ sâu, bệnh, diện tích lúa bị nhiễm với nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, giống lúa... bằng phương pháp hồi quy đa biến căn cứ vào diễn biến sâu, bệnh trong nhiều năm trước đó trên lãnh thổ huyện, tỉnh, khu vực do người dùng chọn. Sử dụng hàm quan hệ để dự báo tình hình sâu, bệnh trong thời gian tới.
    • Hệ thống có giao diện tiếng Việt, dễ sử dụng.
    Hiện tại hệ thống Web-GIS đã thực hiện bài toán giám sát tình hình và dự báo về rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, được triển khai ứng dụng cho ngành Bảo vệ thực vật Hải Phòng. Nó là hệ mở, trong tương lai sẽ được tích hợp thêm các module dự báo về các loại sâu, bệnh khác.


    Ông Lê Việt Cường-Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật Hải Phòng đang trao đổi với phóng viên VTV1 về Hệ thống GIS giám sát tình hình và dự báo sâu bệnh hại lúa
    Trong thờì đại bùng nổ của công nghệ thông tin, với sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và đời sống, đối với một đất nước có cây lúa là cây lương thực chủ yếu như ở Việt Nam, áp dụng hệ thống GIS vào quản lý nông nghiệp nói chung và quản lý tình hình sâu bệnh hại lúa nói riêng là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách. Hiệu quả của việc áp dụng hệ thống Web-GIS giám sát tình hình và dự báo sâu bệnh hại lúa khó có thể cân, đo, đong, đếm một cách cụ thể, nhưng được thể hiện qua hiệu quả của công tác phòng trừ sâu, bệnh, bảo vệ mùa màng, bảo đảm đời sống của người dân, an ninh lương thực của đất nước và góp phần vào việc ổn định thị trường lương thực trên thế giới.

    Bản quyền © Climate GIS, Chịu trách nhiệm xuất bản: Trần Văn Toàn, Mail: climategis@gmail.com, Hotline: +84 979 91 6482